Vietnamese Lutheran Church

  • 0 ĐẤNG GIẢI PHÓNG THẬT - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    “Đức Giê-su liền bảo những người Do Thái vừa tin theo Ngài rằng: "Nếu các ông kiên trì trong đạo Ta dạy thì các ông mới thật là môn đệ của Ta. 32 Các ông sẽ hiểu biết chân lý và chính chân lý đó sẽ giải phóng các ông!" 33 Họ gạn hỏi Ngài: "Chúng tôi là dòng giống Áp-ra-ham, chưa từng làm nô lệ ai, sao Thầy lại bảo chúng tôi sẽ được giải phóng?" 34 Đức Giê-su đáp lại: "Thật vậy, Ta bảo các ông: Người nào phạm tội là nô lệ cho tội lỗi. 35 Làm thân nô lệ thì không ở đời trong nhà, làm con mới được ở luôn! 36 Vậy, nếu Đức Con giải phóng các người, thì các ông mới thật sự được tự do.   GA-LA-TI 5:1 “1 Vì tự do mà Chúa Cứu Thế đã giải thoát chúng ta. Vậy anh chị em hãy đứng vững, đừng mang lấy ách nô lệ một lần nữa”   Thưa quí vị: Hằng năm tại Hoa Kỳ, đến ngày 4 tháng 7, dân tộc Hiệp Chủng Quốc  chào đón và cử hành lễ Độc Lập vô cùng trọng đại hơn hết để đánh dấu bản Tuyên ngôn Độc Lập năm 1776 mà  người Mỹ đã thắng trong cuộc chiến đầu tiên dành độc lập khỏi quyền cai trị của Vương quốc Anh.  Đây là một đại lễ Liên bang, buổi sáng  với những tiết mục thờ phượng, cầu nguyện Thiên Chúa tại các nhà thờ, có những cuộc diễn hành, lễ duyệt binh, cộng đồng có các picnics BBQ,  các trận đấu banh baseball, những hội chợ, các gia đình đoàn tụ, những chính trị gia đọc diễn từ... Về đêm thì có các lễ hội ca nhạc hòa tấu, đốt pháo bông.  Ngày 2-7-1776, Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận  giải pháp do Richard Henry đệ trình tuyên bố 13 thuộc địa Anh được độc lập khỏi quyền cai trị của Đế quốc Anh.  Ngày 4-7-1776, Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận Bản Tuyên Ngôn Độc Lập về quyền sống của con người được sinh ra là tự do, con người bình đẳng và độc lập trong lãnh thổ do chánh quyền Anh cai trị. Cuộc chiến dành độc lập nói trên đã được tướng George Washington lãnh đạo vào tháng 4, 1775 đứng lên chống lại quyền thống trị của Vương quốc Anh.   Tháng 6, 1776, Thomas Jefferson ký tên trên bản Tuyên Ngôn Độc Lập tại một tòa nhà bằng gạch ở thành phố Philadelphia, Pennsylvinia. Nội dung của Bản Tuyên Ngôn  nói rằng “13 thuộc địa nay được giải phóng và độc lập.” Thưa quí vị: Nhiều năm trước đây, băng tần TV NBC tại Hoa Kỳ đã cho trình chiếu một loạt chương trình tài liệu liên tục phát hình trong ba đêm với đề tài: “Tranh Đấu Chống Chế Độ Nô Lệ” (The Fight Against Slavery ) thực hiện từ một tác phẩm của Nhà văn Evans Jones, người Jamaica gốc da đen Phi Châu, ông là giáo sư dạy tại Viện Đại học George School Pennsylvania và Đại học Wesleyan, Connecticut.  Ông đã nghiên cứu và viết lại câu chuyện thật đã xảy ra vào khoảng năm 1750. Thời ấy, có những nhóm người da trắng Anh, Mỹ giầu  tổ chức buôn người người. Họ mở ra những chuyến đi đến vùng đất Phi châu da đen với các toán người mang theo vũ khí đến các làng mạc để vây và bắt đi những người trai trẻ khỏe mạnh đưa lên thương thuyền về Anh quốc.  Năm 1620, có những chuyến thương thuyền từ Anh mang những người da đen này đến 13 thuộc địa của Anh quốc tại vùng Đông Bắc Hoa Kỳ ..  Chế độ nô lệ trở thành hợp pháp từ đấy cho đến ngày cố TT Washington tuyên bố ngày lễ Độc lập Hoa Kỳ ngày 4-7-1776.  Vô số những chuyến tầu chuyên chở  tổng cộng 305,326  người nô lệ từ năm 1620 -1866. Những người Mỹ gốc da đen có tổ tiên là người gốc Phi châu sống tại những vùng đất Gabon, Côte D’Ivoire.  Những người da đen này đóng khố, sống trong các bộ lạc tại các vùng đất rừng núi... Thế rồi những tay săn người với vũ khí ào ạt đến các làng mạc bao vây tấn công và bắt đi những thanh niên, trẻ em... Họ bị đóng dấu trên thân thể.  Nhiều năm trước, nhật báo Houston Chronicle có đăng tải câu chuyện về một người da đen sống trên trăm tuổi tại một nông trại, nguyên là người Phi châu da đen đã bị bắt làm nô lệ lúc 7 tuổi, ông ta bị mang xuống tàu thủy.  Trong những chiếc thương thuyền, những người nô lệ này bị đối xử tàn tệ, nếu có người chống đối thì họ bị các tên cai dùng roi đánh tàn nhẫn, tay chân của những người bị bắt làm nô lệ này thì bị mang xiềng xích để trong hầm tàu tăm tối bẩn thỉu.  Lâu lắm, họ được cho lên phía trên và được xối lên mình nước biển tắm. Những người da đen Phi châu này đã được mang ra khỏi quê hương mình, đưa lên thương thuyền rồi  mang đi bán. Chủ là ai ? Phục dịch cho ai ?  Đó là các huân tước, bá tước, những tay triệu phú...  Những người da đen này  được mang đến các phố chợ để bán cho những đại điền chủ.  Sau đó, các tân chủ nhân này mang họ đến các cánh đồng làm việc lao động.  Đó là thời kỳ cực thịnh của chế độ nô lệ do các Đế quốc Anh, Pháp bày ra. Tại các buổi dạ tiệc có những người nô lệ da đen hầu bàn phục dịch, tay cầm nĩa, tay cầm dao.  Khi các ông chủ đi ra ngoài, trước khi cỡi lên lưng ngựa, thì người nô lệ phải khom lưng xuống làm bậc thang để ông chủ bước lên.    Người Mỹ da đen hiện nay là con cháu của tổ tiên họ cách nay gần 400 năm (1620) đã sống kiếp nô lệ làm thân trâu ngựa. Thưa quí vị: Từ ngữ Giải Phóng gồm có hai động từ kép: “Giải cứu” (To rescue) và “Phóng Thích” (Liberated, Liberating used with object) To rescue: Giải thoát một người trong tình trạng hiểm nghèo (trong ngục tù) đắm tầu, cứu vớt một người nào trong tình thế hiểm nguy tại hố thẳm, nơi có hỏa hoạn... Chữ Ransom : người bị bắt cóc bị đòi hỏi mang số tiền chuộc để được thả tự do. To Liberating: Một người bị gông cùm trong nhà tù được thả ra tự do. Một quốc gia được cỡi ra ách thống trị bởi một nước ngoại quốc. Ví dụ: Trong cuộc cách mạng giải phóng chế độ thống trị bởi Đế quốc Anh thời tướng Washington và cuộc giải phóng dân da đen bởi chế độ nô lệ tại miền Nam Hoa Kỳ .   Trong Thánh Kinh Cựu ước, chế độ nô lệ cũng đã được đề cập trong xã hội thời tối thượng cổ.  Có những đoàn thương gia đi buôn người nô lệ để trao đổi những vật dụng quí giá, tơ lựa, ngà voi, thảm dệt ... Sách Sáng thế ký có ghi lại một người cha tên Gia-cốp có 12 con trai, Giô-sép con áp út được cha thương yêu, nên các anh ganh tị và ghét.  Họ lập mưu bán em mình cho đoàn thương buôn lấy tiền... Sau đó, đoàn thương buôn đến Ai-cập, họ bán Giô-sép cho chỉ huy trưởng vệ binh trong triều đình Vua Ai cập.  Cũng tại đây, có rất đông người Do-thái đã là người nô lệ phải làm lao động gian khổ.   Các quan, người giàu đều mua người Do-thái về phục dịch. Trong thời đại của Môi-se, Phục.  15:12:  Luật ban hành trong toàn cõi xứ Do-thái: khi người Do-thái đã làm nô lệ trong 6 năm, sang năm thứ bảy thì luật cho phóng thích, được chủ ban cho: súc vật, lúa, rượu.  Có điều khỏan ghi thêm: c.16:  Nếu người nô lệ đã phục dịch chủ trong 6 năm, anh ta nhận thấy chủ đã đối đãi với mình nhân từ, tốt thì anh ta tình nguyện ở lại vì mến thương chủ, anh ta rất thỏa lòng ở lại để phụ vụ chủ. Bấy giờ, người chủ sẽ lấy dùi xỏ lỗ tai người nô lệ, luật này cũng dành cho người nô lệ nữ. Đây là một câu chuyện trong Cựu Kinh làm biểu tượng về Thiên Chúa  nhân ái, yêu thương và người nô lệ là con người đang sống dưới ách thống trị tàn ác của Satan, Thiên Chúa đã ban cho Đức Jêsus, Ngài đã đến thế gian này, Ngài bằng lòng xả thân trên thập tự giá đổ huyết ra để chuộc tội của nhân loại trước Thiên Chúa nhưng Ngài cũng đã đắc thắng tử thần vinh quang để bảo đảm lời hứa ‘Ai tin Đức Giê-xu thì không bị hư vong nhưng được sự sống vĩnh cửu.” (Giăng 3: 16)   Đức Giê-xu là Đấng có quyền lực mạnh hơn Satan để giải phóng con người và ban cho sự tự do thật khi chúng ta bằng lòng tiếp nhận ngài làm Chúa Cứu-Thế của đời mình.      c.15: Câu chuyện Môi se lãnh đạo cuộc giải phóng dân Do-thái khỏi kiếp nô lệ dưới quyền Vua Ai cập.  Khi dân Do thái đặt chân vào Đất Hứa, TC nhắc lại:  “Hãy nhớ rằng mình đã sống kiếp nô lệ trong đất Ai cập và Giê-hô-va ĐCT ngươi đã chuộc ngươi.” Động từ  “chuộc”  Người đời bỏ tiền ra để chuộc một vật cầm thế.  Đôi khi cũng có một người giàu nào đó bỏ tiền ra để mua hay chuộc người nô lệ rồi tuyên bố anh nay được tự do rồi. Tuy nhiên, chưa bao giờ có xảy ra chuyện một người hi sinh chính mạng sống mình, đổ máu huyết ra để mua sự tự do cho  người nô lệ.  Thánh Kinh đã cho chúng ta biết rằng chỉ có Đức Jêsus,  Đấng duy nhất đã thực hiện điều này. Thưa quí vị: Một bài hát có lời như sau:  Việt nam có  “một nghìn năm nô lệ giặc Tàu, 100 năm nô lệ giặc Tây”.  Quí vị có biết nhân loại đã sống đời nô lệ dưới ách thống trị của Satan bao nhiêu lâu ?  Nhân loại sống nô lệ dưới quyền thống trị tàn khốc của Satan sau khi tổ tông Adam và Eva phạm tội... Để mang đến sự tự do thật cho con người và giải phóng con người khỏi sự kềm kẹp của Satan thì chính Đức Jêsus đã bằng lòng xả thân trên thập tự giá, huyết Chúa đổ ra để tẩy rửa tội lỗi của con người trước Chúa Cha. Bởi phương cách ấy, khi con người đến với Chúa, ăn năn tội và tiếp nhận Chúa thì được Ngài tha tội.  Ngài giải phóng ta khỏi quyền cai trị của Satan, ta trở nên con của Ngài. Đọc lịch sử Nước Việt, chúng ta thấy có những cuộc cách mạng nổi lên với chiêu bài giải phóng khỏi ách cai trị của đế quốc, thực dân ngoại quốc.  Nhưng thử hỏi dân tộc Việt chúng ta có thật sự được giải phóng theo ý nghĩa nói trên?  Vô số người đã đứng lên đáp ứng lời kêu gọi tranh đấu dành độc lập để mong được sống tự chủ, tự do nhưng thành thật mà nói dân tộc Việt nam chưa hưởng được sự tự do thật.   Rốt lại, con người vẫn cứ mãi sống dưới một ách nô lệ  mới. Hôm nay, tôi không đề cập đến vấn đề chính trị  tranh đấu về một ý thức hệ... Dựa trên khúc Kinh Văn Phúc ân Giăng chương 8 chúng ta cùng nhau nghiên cứu và khám phá ra rằng chỉ có Đấng Cứu Thế duy nhất giải phóng nhân loại và ban cho con người sự tự do thật.  Đấy chính là sự giải phóng thật. Trong tinh thần của Phúc âm, những tín hữu đã được học Lời Chúa dạy để truyền rao phúc âm cứu rỗi của Chúa cho mọi người.  Có các thành kiến sai trật cho rằng người Tin Lành đi dụ đạo.  Người con của Chúa đi ra chia xẻ Tin Mừng cứu rỗi của Thiên Chúa để người nghe nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa, được cứu rỗi linh hồn,  không bị hư vong là một phước hạnh vĩ đại đối với người chưa tin Chúa.  Dù cho người Tin lành có bị vu khống, bị bách hại, bị mang vào ngục tối.  Vì thế, từ bao nhiêu ngàn năm qua, bàn chân của người rao truyền phúc âm đã đi khắp năm châu để rao giảng Tin Lành nhằm mục tiêu rao truyền Tin Mừng cứu rỗi Thiên Chúa giải phóng con người thoát khỏi ách kềm kẹp tàn bạo của Satan. Trong tác phẩm của Tác giả Evans Jones có kể lại một chi tiết thật: Vị Thuyền trưởng của tầu buôn người Anh tên là John Newton, khi ông chứng kiến cảnh người nô lệ bị hành hạ tàn nhẫn, bị mang gông cùm xiềng xích, lòng  ông vô cùng đau xót.  Về sau, John Newton từ giã ngành hàng hải, ông vào Đại Chủng viện học Lời Chúa trong Thánh Kinh và trở nên một mục sư.  Ông thường lên tiếng bênh vực cho người nô lệ.  Vì khi ông thấy họ bị đánh bằng roi, có người lại  bị xử tử hình thắt cổ.  Có một số người nô lệ tin Chúa, họ hát ngợi khen Chúa, họ cầu nguyện thì những người da trắng theo dõi rình rập và bắt đi.  Từ đó, về sau, John Newton cố gắng vận động với Thủ tướng Anh để ban hành luật giải phóng người nô lệ. Tại Hoa kỳ, TT Abraham Lincoln, một tín hữu Tin Lành đã thấm nhuần  Lời Chúa dạy, ông can đảm lên tiếng bênh vực và tranh đấu để bãi bỏ chế độ nô lệ.  Hollywood cũng đã thực hiện film từ tác phẩm “Conspiracy of Abraham Lincoln” tiết lộ tin mới mẽ sau công cuộc nghiên cứu về những bí ẩn quanh cuộc ám sát TT này.  Không phải chỉ có một người duy nhất đứng ra ám sát TT Lincoln, bèn là có cả một nhóm người chủ mưu đứng sau hung thủ.  Bản án tử hình được đặt ra trên TT Lincoln khi ông đọc bài diễn văn dõng dạc tuyên bố chống lại chế độ buôn người nô lệ da đen. Ông bênh vực quyền sống của người da đen, vì ông là tín hữu thật của Chúa Cứu-Thế. Khi ông làm điều này tức là đụng đến quyền lợi của nhóm người buôn người.  Vì thế, họ đã bàn mưu lập kế để giết Lincoln. Cố Tổng Thống Abraham Lincoln đã bị bắn tử thương vì có lòng muốn giải phóng dân da đen thoát khỏi chế độ nô lệ. Các thuyền trưởng John Newton, TT Abraham Lincoln là những người đã hiểu biết và nhận ra Đức Giê-xu là Chân Lý, và trước hết, chính Đức Giê-xu đã giải phóng John Newton, A. Lincoln thoát khỏi cảnh nô lệ bởi Satan. Họ tri ân Chúa và sẵn sàng làm chứng nhân truyền rao Phúc âm cứu rỗi cho bao nhiêu người khác.        Đức Giê-xu phán: Phúc âm  Mat. 11:28 28 Hỡi những kẻ mệt mỏi và nặng gánh ưu tư, hãy đến cùng Ta. Ta sẽ cho các con được yên nghỉ.  Amen    

  • 0 MỸ VỊ HOÀNG GIA

    Đọc Sáng thế ký  Chương 49  “1 Gia-cốp gọi các con trai mình lại và nói rằng: Hãy hội lại đây, cha sẽ nói những điều phải xảy đến cho các con ngày sau. 2 Hỡi các con trai Gia-cốp, hãy hội lại mà nghe; Nghe lời Y-sơ-ra-ên, cha của các con. ... “ Do nơi A-se có thực vật ngon, Người sẽ cung cấp mỹ vị cho các vua.” (c. 20) Trưởng lão Gia cốp chúc tiên tri cho A se rằng “do nơi A se thực vật sẽ béo bở, người sẽ cung cấp mỹ vị hoàng gia” [Sáng. 49:20 bản A.S.V.].        Ăn là một nhu cầu thực tiễn trong cuộc sống nhân sinh, cả thiên nhiên lẫn thuộc linh. Trong buổi sáng thế, Đấng Tạo Hóa đã ban bố huấn lệnh cho con người nguyên sơ là “ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn”. Thế rồi Đấng Tạo Hóa nhập thể (Đức Giê-xu) đầy lòng trắc ẩn ấy cũng chăm sóc phần ăn của cô bé gái, con Giai-ru, chủ nhà hội, khi cô bé ấy đã được Ngài kêu sống lại. Kinh Thánh chép “Ngài truyền cho nó ăn”.    Thế nhưng, chúng ta sẽ ăn gì khi giữa vòng dân Chúa vẫn thường xuyện bị ách thiếu dinh dưỡng trong cuộc sống tâm linh rất nghiêm trọng.   Thế cho nên, có lắm nhà lãnh đạo thuộc linh  xông xáo nhưng niềm tin đã bị phá sản  ngày hôm nay lại vẫn mong lấy “vỏ đậu của heo mà thồn cho đầy bụng”?  Hơn nữa, những ai là người cung cấp đáng tin cậy của chúng ta đây, khi đó đây còn nhan nhản những kẻ bán hàng rong Lời Đức Chúa Trời, vì lợi lộc pha trộn lời Chúa, treo đầu dê bán thịt chó?  Có biết bao nhà cấp dưỡng, các người mệnh danh có chức vụ, vì dốt nát đã  “hái những dưa dại, bọc đầy vạt áo tơi mình”, trước tiên thì vô tình, sau lại cố ý, giết chết hàng loạt người tìm kiếm Chúa chân thành!    Điều gì Chúa truyền bảo thì Ngài cũng thực hiện điều đó thay cho chúng ta. Nhạc trưởng A-sáp ca lên, “Chúa đập vỡ các đầu của Lê-vi-a-than, ban nó làm thực vật cho dân ở đồng vắng”.  Sam sôn ví von nói, “của ăn từ giống ăn mà ra; vật ngọt từ giống mạnh mà ra”.  Đúng ra Chúa phải giết Lê-vi-a-than, là giống mạnh để lấy thịt nó nuôi dưỡng dân Ngài, nhưng ai là Lê-vi-a-than đây?    Sau khi phác họa hình trạng kinh khủng của Lê-vi-a-than, Chúa kết luận “nó là vua các loài thú kiêu ngạo” [Gióp 41;25]. Chúa muốn nói lên sự thật: mọi bản ngã chưa phá vỡ đều như các loài thú kiêu ngạo, mà bản ngã kiệt xuất của Gióp là vua trên tất cả. Chúa đã đập vỡ hồn lực của Gióp, một bản ngã thuộc giống mạnh, nên con dân Ngài trải các đời như Ê-xê-chi-ên [Exech. 14:14,20], và Gia cơ [ Gia. 5:11] đều tìm được của ăn và vật ngọt, ngon miệng từ đó.  Gia cốp là người thợ nấu ăn giỏi từ thuở nhỏ, cũng có bản ngã kiệt xuất như Gióp. Ông đã dùng tài năng khéo nấu nướng ấy để mua bán mặc cả quyền trưởng nam với anh mình là Ê sau. Sau hai mươi năm bị nấu chảy trong lò luyện kim La-ban, ông còn chịu cú đấm đo ván của Thiên sứ Đức Giê-hô-va tại Phi-nê-ên, hồn lực Lê-vi-a-than trong Gia cốp vỡ ra và cạn kiệt dần. Nhưng tài nấu ăn bậc thầy của ông vẫn còn; và những người vinh hạnh được ông đích thân nấu nướng cùng tình nguyện khoản đãi là cha con La- ban, bên vợ của Gia cốp. Từ đó đến lúc lâm chung, chúng ta thấy Gia cốp bận rộn chăm sóc mọi người, lấy ”ân điển và nêm thêm muối” [Côl. 4:6] trộn vào các phần ăn do ông cung cấp người người.   Trong tuổi gia, âm sắc trong giọng nói Gia cốp không còn cay đắng, hận thù, giận hờn hay hờ hững, thiếu ân tình, thiếu thương xót nữa.  Lời nói của Gia cốp nay hòa nhã nhân ái. Gia cốp trước đây cứng cõi, quỉ quyệt nay đã trở nên mềm mại, dễ khóc với kẻ khóc. Gia-cốp có lòng nhân từ thương xót và theo dõi cách đồng đều từng mỗi một người con của mình, nay Gia-cốp công nghĩa và thánh khiết, vì hồn ông không còn đầy mưu mô, vinh quang ông không hội hiệp cùng hội người gian ác, khi họ giết người tại Si-chem. Lời Gia cốp chúc tiên tri cho A-se, thực ra nói lên sự lão luyện và phong thịnh của một tâm hồn đã gặp Chúa Hằng Hữu. Chúng ta đọc, “do nơi Gia-cốp thực vật người béo bở, người sẽ cung cấp mỹ vị hoàng gia”.    Gia cốp có biệt tài nấu ăn, ngay cả có một con cừu trong bầy có bị thú dữ xé, ông có thể dùng nấu món ngon, nên ông thấy không cần trả lại cho La-ban [Sáng. 31;39]. Và dĩ nhiên ông là người thưởng thức, vui hưởng tài nghệ của mình trước hơn ai hết.  Đó là lý do Môi se, sau 80 năm học với Chúa Hằng Hữu, ông đã dùng các lời có kinh nghiệm với tri thức thuộc linh để mô tả một chức vụ cung cấp mỹ vị hoàng gia đã nuôi Gia cốp cá nhân và một Giê-ru-sun, sự mở rộng của hậu duệ Gia-cốp ở Phục truyền chương 32.  Gia cốp là một phượng hoàng con đã được Chúa tìm kiếm, huấn luyện và nuôi dưỡng bằng các mỹ vị hoàng gia hảo hạng từ ngày ông gặp Chúa Hằng Hữu, để ngày nay ông cũng cung cấp các lọai mỹ vị ấy cho người khác. Rồi bằng lối qui nạp tài tình, Môi se viết, “nhưng Giê-ru-sun [Y-sơ-ra-ên] đã trở nên mập mạp….người trở nên mập mạp… mập lớn và béo tròn”. Làm thế nào “Giê-ru-sun hôm nay” giữa chúng ta cũng sẽ được mập béo thuộc linh bây giờ? Há không phải cần có các thợ nấu ăn giỏi, do các  Gia-cốp cung cấp mỹ vị cao lương như dầu, mật, sữa bò, sữa chiên, huyết nho v.v… cách cập nhật hay sao?  Vì chính họ đã được nuôi dưỡng từ các món ăn nầy rồi.    Trước khi ra đi khỏi cõi đời tạm này, Phao-lô kêu lên: “Ta đang bị đổ ra như lễ quán”.  Nhà Sứ đồ lão niên  Giăng họa lại: “chúng ta cũng phải vì anh em mà bỏ mạng sống[ hồn] mình”. Lê-vi-a-than trong Gia cốp đã chết sau biến cố tại Phi-nê-ên. Bản ngã Gia cốp đã tan vỡ, sự sống hồn ông đã đổ ra và cạn kiệt.  Vật ngọt từ giống mạnh mà có. Hồn thuộc linh của Gia-cốp là cao lương, là mỹ vị hoàng gia và chính cuộc đời Gia-cốp sau khi gặp Chúa Hằng Hữu, Gia-cốp trở nên nhà cấp dưỡng vừa có biệt  tài và có đầy đủ phẩm chất  cho cả hậu duệ thuộc linh của mình mãi mãi cho đến cõi đời đời. Amen    

  • 0 WATCHMAN NEE (1902—1972)

    WATCHMAN NEE (1902—1972) Đây là bản tóm tắt tác phẩm “Against The Tide” (Ngược Dòng), một bản tiểu sử của Watchman Nee của tác giả Angus Kinnear. NGƯỢC DÒNG (Câu Chuyện Về Nghê Thác Thanh). Danh tánh của Watchman Nee ít đuợc biết đến trong thế giới Cơ đốc Tây phương mãi đến khi Angus Kinnear  xuất bản quyển đầu tiên trong một loạt sách mang tên Watchman Nee lần đầu tại Ấn độ vào năm 1957.   Đây không phải là các bản dịch trực tiếp từ các sách hoàn bị trong Hoa Văn, nhưng là các trích đoạn, chọn lọc từ nguồn khác nhau và đuợc kết lại thành các quyển sách đọc có phẩm chất cao, nhanh chóng đứng ở đầu bảng trong lãnh cực cạnh tranh – không đơn sơ về sự gọi mời tức thì, nhưng vì sự đóng góp thực tiễn hướng về sự hiểu biết nếp sống cơ đốc nhân. Nhiều người tìm được sự giúp đỡ thiết thực trong đời sống cá nhân của họ qua việc nghiên cứu chức vụ của nguời cơ đốc ngoại hạng Trung Hoa nầy, và không ít nguời tò mò muốn biết thêm về con người và câu chuyện của ông. Vì lý do nầy, “Ngược Dòng”, câu chuyện của Watchman Nee, đã đuợc kể ra và điều thích đáng là Tiến sĩ Kinnear, người đã đem chức vụ của Watchman Nee đến cùng chúng ta ở đây, bây giờ phơi bày vài tia sáng trên con người nầy, mà sự đóng góp của ông, dưới sự cai trị của Đức Chúa Trời, là hữu ích cho hội thánh tại Trung Hoa. Quyển sách bắt đầu với văn kiện mở rộng đẹp đẽ về nguồn gốc và gia đình ông, có tầm quan trọng đối với cuộc đời thơ ấu, chịu ảnh huởng gia đình cơ đốc cách trực tiếp và gián tiếp qua các bạn bè. Mẹ ông không phải là không có lỗi lầm trong cách bà xử lý người con trai thông minh và nhạy bén cao độ nầy. Song le sự hối cải của ông qua sự rao giảng của nhà giảng phúc âm Dora Yu cho thấy đôi điều trong kinh nghiệm của mẹ ông có với Đức Chúa Trời, và việc bà vâng theo lệnh truyền của Ngài, khi bà xin lỗi con mình.  Vì vậy,  Watchman Nee đi nghe Dora Yu giảng và tin Chúa. Chắc chắn điều nầy nêu lên bài học cho những ai trong chúng ta, là các bậc cha mẹ, mang trách nhiệm nặng nề trước mặt Đức Chúa Trời cho các sự bắt đầu đúng đắn của con cái chúng ta. Mối liên hệ cá nhân của chúng ta với Đức Chúa Trời phải góp phần chính yếu. Ông đã đến chỗ biết Christ cách cá nhân đang khi còn học tại trường học và mối quan tâm của ông về việc san sẻ Tin mừng trở nên hiển nhiên ngay sau đó. Sau khi hoàn tất bài làm mỗi ngày xong, ông và bạn bè cầm Kinh Thánh và đi vào làng mạc chung quanh rao giảng phúc âm. Các ngày nghỉ lễ cũng được xử dụng như vậy và một người có thể nhìn thấy sự thúc đẩy rao giảng phúc âm vào đầu thời đại nầy. Ông nhìn nhận rằng từ những năm đầu tiên nầy, ông thích rao giảng. Nhưng có thể ít có sự nghi ngờ rằng sự thúc giục và ân tứ hiện thực vốn bắt nguồn từ Đức Chúa Trời, “Đấng muốn mọi người được cứu rỗi”. Điều đó không chỉ là nói suông mà thôi. Văn kiện bày tỏ Watman Nee và các bạn ông đã xây dựng một bục giảng về kinh nghiệm thiết thực và tri thức thực tiễn về Đức Chúa Trời, và văn kiện kể lại thể nào cơn mưa đã đổ xuống, là một ví dụ tốt về điều nầy. Ông không chỉ là một con người đơn sơ với một sứ điệp; ông phải là một đầy tớ của Đức Chúa Trời hằng sống, chứng minh thực tại và quyền năng của Chủ mình.  Câu Chuyện kể tiếp về sự tiến bộ của ông. Ông dành nhiều thì giờ tăng cường nghiên cứu Kinh Thánh. Ông có thói quen là thường xuyên đọc suốt qua kinh Tân ước vài ba lần mỗi tháng. Cô Margaret Barber và tủ sách của cô đã được tiêu hoá vào tâm trí sống động và dễ tiếp thu của ông, và như Phao-lô, thỉnh thoảng ông tự nhốt mình trong căn lều nhỏ cạnh bờ sông, dành cơ hội đầy đủ để các ảnh hưởng nầy gán ghép và cấu tạo vào hoàn cảnh đặc thù và văn phong của ông. Ông đã bắt đầu viết -một tờ báo nhỏ, nhan đề “ Phục Hưng”, bao gồm các bài giải nghĩa Kinh Thánh -   và chắc chắn điều nầy đặt ra công tác làm nền cho sự viết lách về sau của ông. Sau đó, sự tiến bộ của ông bị gián đoạn bởi cơn bệnh nghiêm trọng, đe dọa tính mạng, mà khiến cho các lao tác thuộc linh đang gia tăng phải bước đi cách khập khiểng, và trong đó ông tham dự chung với một số bạn bè. Tuy nhiên, công tác của Linh Đức Chúa Trời trong người bề trong của ông, như điều gì đó được gia tốc bởi tai biến hiển nhiên nầy, và đó là một gương mẫu cổ điển của một loại kinh nghiệm căn bản mà Sứ đồ Phao-lô nhận thấy rất khó chấp nhận vào lúc đầu – cái dầm xóc trong xác thịt.  Có lẽ, do kinh nghiệm nầy, với sự yếu đuối mà ông đã tìm được sức mạnh nâng đỡ ông, không chỉ qua những năm công tác mở rộng, và xây dựng hội thánh cách có hiệu quả cao, nhưng cũng đưa ông vượt qua những năm dài giam cầm trong nhà tù Thượng Hải. Bệnh nầy “gần chết”, hầu như đối với tôi (Kinnear) là một yếu tố có ý nghĩa cao cả trong câu chuyện của ông. Có nhiều giáo sĩ Tây phương đang hoạt động trong khu vực. Khi giao tiếp với ông, họ bị ông thu hút mạnh mẽ, chịu ấn tượng sâu sắc về các ân tứ, và công tác bản xứ đang lớn lên của ông. Số giáo sĩ khác coi ông là mối đe doạ cho cánh đồng truyền giáo vững lập của họ, cho ông là “kẻ ăn cắp chiên”, dụ dỗ con tốt nhất trong bầy của họ, đưa vào bầy của ông. Về phần ông, không có bằng cớ hiển nhiên nào cho thấy ông có cảm xúc chống giáo sĩ cách mạnh mẽ --- đúng ra, ông có cái nhìn, là Đức Chúa Trời đã ban cho ông một công tác để làm, và ông phải tích cực chăm chú cho điều đó. Ông cũng bận rộn với các nan đề về hội thánh non trẻ đang lớn lên, đang dành thì giờ nghe sự chỉ trích tiêu cực từ các công nhân cơ đốc khác.  Bất chấp tình trạng chiến tranh trong nhiều vùng chia cắt khác nhau của đất nước, sự giao thông, liên lạc gián đoạn, sự đi lại hạn chế, nhưng công tác vẫn lan tràn nhanh chóng. Các hội chúng xây dựng theo các đường hướng đơn giản như các nguyên tắc được tìm thấy trong Tân Uớc; trước hết đã được thành lập tại Thượng Hải, và không bao lâu sau đó, các hội chúng khác nẩy nở trên khắp Hoa lục. Tuy nhiên, ông đã dành thì giờ thăm viếng Anh quốc hai lần, để làm sâu thêm sự kết giao với ông T. Austin-Sparks, chủ bút tờ “Chứng nhân và chứng cớ”. Nhiều người, kể cả bố của người viết bài nầy, đã cho tôi (Kinnear) biết rằng họ có đặc quyền gặp Watchman Nee vào lúc đó, vì ông đã dành mấy tháng trong sự tương giao với các tín hữu ở Anh quốc, Tô Cách Lan và Bắc Âu. Tất nhiên, vì cớ có chừng 250 công tác viên trọn thì giờ trong công tác đang mở rộng cách nhanh chóng, và vì các nhu cầu tài chánh, đã đưa Watchman Nee vào cái có vẻ như cuộc du ngoạn, với lời khuyên xấu, vào thế giới tài chánh. Nhưng cơ quan nầy, có em của ông và vài người khác tham gia, nhà bào chế thuốc Tây, đã bị nhiều người hiểu lầm, dù có các thông tin không đầy đủ để xét đoán các hệ luỵ trong đó. Vì bằng cớ hiển nhiên nầy. Các anh em của ông cảm thấy rằng ông đã từ bỏ đầy trọn sự ủy thác thuộc linh từ Chúa, để tìm kiếm một chỗ đứng trong thế giới vật chất. Khá lâu về sau, để tránh có thêm sự hiểu lầm và bảo tồn sự hiệp nhất, ông đã buông bỏ cả công trình cho anh em khác.  Các diễn biến chính trị tại Trung Hoa, khi quân đội giải phóng từ miền bắc tiến xuống lúc bấy giờ (1948) đã đẩy Watchman Nee vào chương trình dạy dỗ và huấn luyện tăng cường, chuẩn bị các tín đồ cho thời kỳ khó khăn hơn -các hội đồng đặc biệt cho các nhà lãnh đạo và các công tác viên đã được tổ chức, các tư tưởng nghiêm trọng đã được nói ra cho con đường trước mắt -  Sự ưu tiên dành cho vào lúc nầy là học thuộc lòng Kinh Thánh. Biết bao người vẫn còn sống trong giá trị của sự nhấn mạnh được cảm thúc nầy. Ông vẫn còn tự do du hành  đến Đài Loan và Hong Kong, nơi đó ông đã lao tác thiết lập công việc của Chúa. Vào lúc chính quyền mới được thành lập, nhiều người thúc giục ông đừng trở lại Trung Hoa, nhưng ông nói, “tôi có con cái bên trong ngôi nhà, nếu nhà sụp đổ, tôi phải nâng đỡ nó, bằng cái đầu của tôi, nếu cần”. Ông đã trở về Thượng Hải. Tất nhiên, ông đã bị bắt giữ, kết án và giam tù 20 năm, từ 1952-1972. Tác phẩm là sự trình bày thông suốt về cuộc đời và niên hiệu của Watchman Nee, song le độc giả có ấn tượng về nhân phẩm và bản chất con người như là sợi chỉ khó truy tìm dấu vết qua các phong trào ở Trung quốc, chính trị và thuộc linh, và ông đã bị vướng mắc vào. Có lẽ điều nầy chỉ được chờ đợi từ con người nầy của Đức Chúa Trời, người đã đuợc kể là xứng đáng chịu khổ 20 năm trong khám tù vì cớ Christ và là con người đã viết nơi trang đầu trong quyển Kinh Thánh của mình các lời rất cảm động sau đây, “tôi không mong muốn điều gì cho tôi, tôi muốn mọi sự cho Chúa”. Gió ngược, biển động, bão tố hung tợn dường như là kinh nghiệm không thể tránh được của Hội thánh Christ. Bất cứ khi nào Chúa đề ra một hướng đi cho dân Ngài, thì không bao giờ thiếu vắng sự chống đối từ Satan.  Thật đầy đủ khi Chúa Jesus đề nghị các môn đồ Ngài rằng họ nên qua “bờ hồ bên kia”, liền gặp cơn bão tố từ địa ngục thách thức chiếc thuyền của họ, một cơn bão có tầm cở lớn lao như vậy, đến độ các thuỷ thủ có kinh nghiệm trong đoàn sứ đồ cũng phải kinh sợ (Lu. 8:22-25). Cũng vậy, nếu Sứ đồ Phao-lô đang trên đường đi chu toàn sự uỷ nhiệm thiên thượng tại La mã, khi ấy dường như điều không thể tránh khỏi là một cơn bão hung tợn đe doạ nhận chìm ông ( Công 27:20-25). Trong cả hai trường hợp, sự tấn công của ma quỉ đã bị phá hỏng, vì Jesus thực sự là Chúa của tất cả, nhưng sự dị biệt nổi bật trong hai câu chuyện là các phản ứng trái nguợc của các môn đồ, là những người vướng mắc trong các cơn bão trên biển. Trong câu chuyện phúc âm, chúng ta đọc rằng lòng các môn đồ dẫy đầy sự hoảng sợ- “Thầy ơi, Thầy ơi, chúng ta chết mất!” là tiếng kêu la không có đức tin, thất vọng cách sâu xa đến Chúa của họ. Chính tiếng kêu la lại đầy sự mâu thuẫn. Nếu Ngài đích thực là Chủ- Đấng đứng ở trên - thì làm sao họ có thể chết mất chứ?  Nhưng sau đó, không có gì là thật không hợp luận lý như sự vô tín. Dĩ nhiên, Christ là Chủ-- Ngài sớm chứng minh điều đó. Nhưng thật là điều đáng thương, khi họ phản ứng với cơn bão bằng sự vô tín hèn hạ như vậy! “Đức tin các con ở đâu?” Đây là tình trạng gần như nghẹt thở dưới gánh nặng về sự sợ hãi vị kỹ. Giống như một số người trong thời chúng ta, họ chỉ cầu nguyện cho chính họ, họ hỏi, “điều nầy ảnh hưởng như thế nào? Tại sao Chúa không nhanh chóng làm điều gì đó để cứu giúp con?”. Khi sứ đồ Phao-lô lâm vào một cơn bão- cơn bão tồi tệ hơn nhiều - ông cũng sợ hãi, nhưng đồng thời ông tin cậy -  Ông cũng đã cầu nguyện, nhưng ông đã quên mình trong sự cầu nguyện hi sinh của ông vì người khác. Một số đông người mất hi vọng vây quanh ông, đa số họ không biết làm sao cầu nguyện cho chính mình. Ông biết rằng đời sống ông đã được giấu kín với Christ trong Đức Chúa Trời, nên ông không hoảng sợ về chính mình. Quan tâm cá nhân của ông, không liên kết với sự an toàn, nhưng với việc làm tròn sứ mạng do Đức Chúa Trời ban cho, là làm chứng trước mặt Sê-sa. Ông đã được tái xác quyết về điều nầy, và sau đó như sự rộng rãi hoàng gia, ông được bảo rằng Đức Chúa Trời ban cấp cho ông mọi người đi chung thuyền với ông. Sự cầu nguyện của ông không hướng trực tiếp về các người có nhu cầu quanh ông. Một số là bạn bè, một số là kẻ thù, nhưng ông đã cầu nguyện cho họ tất cả, và Đức Chúa Trời đã đáp lại các lời cầu nguyện của ông cách diệu kỳ. Vị sứ đồ bị bão tố ngã nghiêng có thể xác nhận, “tôi tin Đức Chúa Trời”, và tất cả họ có thể thấy thực tại đức tin khải hoàn của ông, cũng như họ đều có phần trong lời cầu thay của ông. Ngày nay, chúng ta nhận thấy chính mình ở trong thế giới đầy bão tố dày vò. Hoặc chúng ta phải được ban cấp sự ẩn náu yên tĩnh do Đức Chúa Trời ban cho, hay con tàu phải bị vỡ ra trên các vầng đá, chúng ta không biết. Thời gian sẽ bày tỏ điều nầy. Nhưng trong khi ấy, nhiệm vụ chúng ta là phải biết cách cầu nguyện trong các tình trạng như vậy. Và các lời cầu nguyện không nên là tiếng kêu la vị kỷ của sự hoảng sợ, “Thầy ôi, Thầy ôi, Thầy không lo chúng ta sẽ chết mất sao?” Đúng ra, sự cầu nguyện của những nguời thật tin Đức Chúa Trời, đến nỗi các hành khách trên thuyền có thể tìm đuợc sự cứu rỗi qua lời cầu nguyện và qua lời làm chứng vững chắc của chúng ta. Giống như Phao-lô, Watchman Nee đã học tập tin cậy vào Đấng, và chỉ mình Ngài có thể làm chúng ta đứng nỗi trước bão tố của sự tối tăm ở chung quanh chúng ta. Vì trải qua nửa thế kỷ, những sự nhìn thấy của ông đã là ma-na cho những tâm hồn đói khát trên khắp thế giới./. 

  • 0 Tiểu Sử Cố Mục Sư Phan Ðình Liệu (1888-1973)

    Ông Phan Đình Liệu là một mục sư thuộc Giáo Hội Tin Lành ở Việt Nam đã chịu bắt bớ khảo tra nhiều nhất. Sự khổ nhục mà Mục Sư Liệu nếm trải là một biến cố nặng nề giáng xuống Giáo Hội Tin Lành non trẻ, và cũng đã là làm chấn động dư luận trong và ngoài nước, cả đến Quốc Hội Phap quốc vào năm 1928. Đọc tiểu sử của cụ mục sư này, luôn đem lại một nguồn khích lệ và cổ vo lớn lao cho nhiều người; vì cụ là một anh hùng đức tin, một chiến sĩ bất khuất trong Đoàn Tinh Binh của Đức Chúa Trời, và là một của lễ đã được hiến dâng trên bàn thờ Chúa để hầu việc Ngài. Ông Phan Đình Liệu được sanh ra trong một gia đình trung lưu, nề nếp, đạo đức cổ truyền. Ông chào đời năm 1888 tại Cẩm Sa, Điện Bàn, Quảng Nam Đà Nẵng. Chàng sớm được cha mẹ cho ăn học, và được giáo dục chu đáo theo con đường cử nghiệp văn hay chữ tốt Nho học. Chàng là người thông minh, chí khí, tài năng thiên phú nên mau chóng thành tài. Tứ thư, Ngũ Kinh, các sách văn chương cổ, khoa truyện chàng đều làu thông. Sau khi "có tên trên bảng vàng", Ông Liệu được bổ chức giáo học Trường Thanh Xuân, Cẩm Sa. Các phụ huynh thời ấy biết tiếng tài năng của ông, nên thúc giục con em mình kéo đến theo đòi bút nghiên với ông giáo Liệu ngày càng đông. Tuổi thanh niên ra đời thuận tiện, học hành đỗ đạt, kiếm tiền dễ dàng trước cửa đời rộng mở, nên chàng Liệu chẳng mấy chốc đã sa ngã vào con đường nghiện ngập, chơi bời. Thầy giáo vì quá ham mê mùi đời nên bỏ nghề dạy học, lăn xả vào lối mòn tửu, sắc, tài, khí; nhất là điệu hát dân ca "hò khoan", gái trai hò hẹn gặp gỡ nhau, lấy khẩu tài xướng họa, trí thông minh ứng đối mà thử tài và dò ý, gợi tình nhau. Trên con đường trơn trợt của tội lỗi, nên linh hồn của ông Liệu đã xuống hố sâu; nếu lúc ấy ông qua đời thì phải trầm luân ở địa ngục muôn đời. Nhưng tình thương yêu của Đức Chúa Trời thật rộng lớn, bao la, Ngài đã ban cho ông có một dịp tiện "quý hơn vàng" để nghe làm chứng và đọc sách Đạo Tin Lành - một quyển Phúc Âm lẻ. Nhờ đó ông cảm biết mình là một đại tội nhân nên liền ăn năn tiếp nhận Giê-xu Christ làm Cứu Chúa của mình. Đi theo Chúa, lòng ông được tái sanh, đổi mới, trở nên người mới. Ông hối tiếc cho những tháng năm hoang phí cho xác thịt, thế gian và làm tôi mọi cho ma quỷ. Ông khóc lóc, đắng cay xưng tội lỗi mình với Chúa nhiều đêm. Một đầy tớ của Chúa đã cầu nguyện cho ông tin Chúa năm 1920. Ông Phan Đình Liệu ngày càng học biết về Chúa nhờ lời Ngài, và ông được Chúa kêu gọi, sau khi chịu Lễ Báp Têm ở biển Mỹ Khê vào năm 1920. Ông dâng đời sống mình cho Ngài vào Thánh Kinh Học Đường Đà Nẵng năm 1921; như vậy ông là một trong những học viên đầu tiên của trường này. Ông Liệu tốt nghiệp năm 1927. Trong chức vụ, ông đã từng hầu việc Chúa ở nhiều Hội Thánh như Hội An (Faifo) năm 1923. Cùng năm đó ông được điều đến Hội Thánh Tân Châu, Châu Đốc; năm 1924 đến Sa đéc. Năm 1925 ông đến Cần Thơ, Long Xuyên, rồi đi giảng ở nhiều nơi như Rạch Giá, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau. Ông hết lòng sốt sắng giảng Tin Lành, và nhiều người qua chức vụ tận tụy của ông đã được cứu. Ông cũng đã thành lập được các Hội Thánh ở Phong Điền, Đông Phú, Trà Ôn, Cáo Con, Phước Long... Thính giả không biết chán khi nghe Mục sư Liệu công bố Đạo Chúa ngoài trời rất hấp dẫn. Ông được tấn phong Thánh chức Mục sư năm 1929. Có thể đời sống và chức vụ của Mục Sư Liệu sẽ là bình thường nếu không có những tháng năm Cụ từng trải những nỗi khốn khổ, bắt bớ, tù tội; và điều này sử sách lưu lại rõ ràng, nhiều người biết. Tháng 12 năm 1927, Hội Thánh Tin Lành ở Khánh Hòa, Thành phố Nha Trang có mướn một căn nhà tại thị tứ Ninh Hòa để giảng truyền Tin Lành. Khi Mục Sư Liệu và các tín đồ đang hội họp thờ kính Chúa thì có ông Cò (dạng công an, cảnh sát ngày nay. Ngày xưa rất có uy thế mà nhà thơ Tú Xương đã có câu thơ "Hà Nam danh giá nhất ông Cò...") tay lăm lăm cầm gậy đập bàn giảng và đánh đuổi ông Liệu cùng các tín đồ ra khỏi nhà. Đầu năm 1928, khi đang lưu giảng Đạo Chúa ở Phan Rí (thuộc tỉnh Bình Thuận) thì ông đồn trưởng người Pháp bắt ông Liệu còng tay giao về Phan Thiết xét xử. Hai lên lính tập đã rút dây nịt quất vào đầu, vào cổ ông Liệu. Sau đó thì ông bị trục xuất về Nha Trang. Mùa hè năm 1928, quan huyện Vĩnh Xương (Khánh Hòa) bắt ông liệu phải hạ tấm bảng "Hội Thánh Tin Lành" xuống, Ông bất tuân lệnh này thì bị tống lao. Trong chốn cùm kẹp, ông Liệu cứ hát Thơ Thánh, cầu nguyện kêu vang Chúa cứu, nước mắt sa dầm dề. Quan chức huyện ấy cảm động rồi tha cho ông đi về. Giữa năm đó, ông Liệu đi vào Phan Rang truyền giảng. Một quan công sứ Pháp gọi ông vào văn phòng và cho biết rằng ông ta là người thờ Chúa ở một nhánh khác, không bắt bớ Tin Lành làm chi, và quan này khuyên ông Liệu nên vào Nam (VN) mà giảng vì ông Nguyễn Hữu Bài ở Viện Cơ Mật Huế có sắc lệnh cấm giảng Tin Lành ở miền Trung bấy giờ. Sau khi về thì ông Liệu lại vào chợ Phan Rang công bố đạo Chúa. Thình lình tỉnh sai tiểu đội lính đến vây bắt, dùng roi mây để đánh mục sư và tín đồ, nhưng không đánh ông bà Giáo Sĩ Travis vì họ là người ngoại quốc... Rồi giải về nhà giam. Sau đó quan tỉnh cắt hai tên lính áp giải cụ về nguyên quán là Quảng Nam Đà nẵng. Một tháng sau ông Liệu và các mục sư giáo sĩ bấy giờ trên đường đi dự Hội Đồng ở miền Nam có ghé lại Nha Trang góp phần giảng Tin Lành. Lính ở đâu ập đến bắt tất cả. Nhưng sau đó đã tha những người kia và giữ ông Liệu lại (vì đã có tiền sự ở hồ sơ lưu). Và cảnh lao tù của ông lần này ở tại Nha Trang diễn ra khá êm xuôi đối với một đầy tớ trung kiên của Đức Chúa Trời. Các quan tỉnh muốn tống Cụ xuống nhà lao chính để cho tên cai tù người Thượng nổi tiếng hung ác hành hạ ông cho bỏ ghét vì "Tội ngoan cố" rao giảng Tin Lành! Nhưng Mục Sư Liệu cũng cứ vui mừng làm chứng cho Ngài, Chúa đã dùng ông cứu 12 phạm nhân ở đó. Một lần nữa Mục Sư Liệu đi làm chứng và thăm tín đồ tại Nha Trang - Thành (Khánh Hòa) viên tuần vũ cho lính bắt và cũng giải về Quảng Nam. Tại đó trước những lời cáo gian của hai chính quyền Việt - Pháp, ông Liệu đã mạnh dạn tự bào chữa cho mình. Ông tuyên bố công khai rõ ràng chỉ vì thương yêu linh hồn tội nhân hư mất mà đi ra làm chứng Tin Lành cứu rỗi cho họ. Thấy không đủ yếu tố và lý do buộc tội hay kết án được ông, nên họ phải thả ông ra với lời đe dọa "không được giảng Đạo nữa!". Nhưng khi về lại Nha Trang, Cụ cứ tiếp tục hoạt động hăng say với mục đích như trước. Nhà đương cục lúc bấy giờ rất căm tức, và tên tuần vũ trước kia lại bắt giam Cụ vào lao xá với bản án 6 tháng tù vì vi lệnh. Tại đó họ đối xử với Mục Sư Liệu rất tệ bạc cốt để hạ nhục Cụ. Nhưng mục sư này chẳng phiền rầu chi cả. Nhưng cái tin "một mục sư Annam (tên gọi Việt Nam thời ấy) bị kết án 6 tháng tù" chẳng những gây hoang mang cho tín giáo Tin Lành tại bổn quốc, mà còn làm xôn xao dư luận tín đồ Tin Lành ở Pháp nữa. Trong khi đang nếm chịu cảnh lao lý khổ nhục vì Danh Chúa, Mục Sư Liệu không tỏ vẻ gì sợ hãi, đau buồn, lo lắng chi cả; Cụ lại rất sung sướng kể là mình được dự phần trong sự thương khó của Chúa. "Trâu cày, ngựa cỡi", và mục sư dầu ở trong nhà giam đi nữa, nếu có cơ hội là rao giảng Tin Lành. Cụ Mục sư Liệu trong thời này đã minh chứng cho lập luận khá hùng biện đó. Do công khó trung kiên và hy sinh của Cụ, tại lao tù lúc đó kết quả có 19 linh hồn tội nhân đồng tù với cụ tin Chúa. Thế là Cụ đã có một Hội Thánh nho nhỏ ngay trong nhà ngục. Mỗi trưa Chúa Nhật cụ giảng một bài, buổi chiều học Phúc Âm Yếu Chỉ. Mỗi buổi trưa hằng ngày họp nhau lại học Thánh Kinh, mỗi buổi tối trước khi tù phạm tra chân vào cùm thì hiệp nhau cầu nguyện, làm chứng cho những người khác về tình thương cứu rỗi của Chúa. Lại một điều lạ, người đề lao hung dữ ngày nào đã tỏ ra tử tế và ưu đãi người đầy tớ của Chúa là việc mới đáng nói chứ! Dầu bị cực nhọc, lao tù, làm việc vất vả (đầy rulô nện đường cho công chánh giao thông), lại ăn uống kham khổ; song khi nghĩ đến ân sủng, tình thương, sự săn sóc kỳ diệu của Chúa, Cụ Mục sư Liệu cũng dư thừa tinh thần hoan hỉ với hồn thơ dào dạt, nên Cụ đã cảm tác mấy vần thơ sau đây: "Tra xem lịch sử trải ngàn thu, Mới thấy trong lao Hội Thánh tù. Bãi sở lui về ăn dưới cỏ, Ngủ rồi thức dậy tiểu trong lu. Cùm săn chân cứng vừa in khít, Cơm vắt Trời nuôi cũng mập ù. Cánh cửa lao lung dù khóa chặt, Khôn ngăn lòng đến Chúa Giê-xu" Tính ra trong đời hầu việc Chúa của Cụ, Cụ Mục sư Phan Đình Liệu đã "được" ở tù 5 lần - Nhưng không khi nào lung lạc được đức tin của cụ, cũng chẳng lay chuyển được ý chí cương quyết hết lòng vì Danh Chúa truyền bá Tin Lành cho bao nhiêu linh hồn hư mất. Cụ Mục sư Liệu cũng là một nhà thơ tài hoa, có thiên khiếu thi cam, "xuất khẩu thành thơ". Cụ không xuất bản một tập thơ nào, chỉ đăng rải rác trên các tạp chí của Giáo Hội Tin Lành mà thôi. Nhưng ân tứ thơ ca của Cụ rất có hồn, ý nghĩa thâm trầm. Khi ở trong chốn lao lý, Cụ cũng đã làm mấy bài thơ và được phổ nhạc trong Thánh Ca, số 68, 69, 329, 352 (Thánh Ca Việt Nam). Trước đây nhà sách Ánh Sáng của Hội Thánh Tin Lành Tuy Hòa (Tỉnh Phú Yên) đã cho ra mắt tuyển tập thơ của Cụ, tựa đề là "Lửa Sống". Ngoài ra còn có Tập "Phúc Âm Diễn Ca". Cụ Mục sư Phan Đình Liệu vinh quy Thiên Quốc năm 1973, tại Đà Lạt, thọ 85 tuổi.  

  • 0 Quá Trình Phiên Dịch KINH THÁNH Sang Tiếng Việt

    • by Administrator
    • 28-05-2018

    Quá Trình Phiên Dịch KINH THÁNH Sang Tiếng Việt Lời Ban Biên Tập: Năm 1996 đánh dấu 70 năm bản Kinh Thánh Việt Ngữ đầu tiên của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam được phát hành. Gần đây, một số đọc giả yêu cầu chúng tôi cung cấp thêm những dữ kiện liên quan đến việc dịch và phát hành Kinh Thánh sang Việt Ngữ trong quá khứ. Dựa vào những dữ kiện thu thập được từ các tài liệu của Thánh Kinh Hội (UBS), của Giáo Hội Công Giáo, của báo chí trong Hội Thánh Tin Lành và tham khảo với một vài đầy tớ Chúa liên hệ, bài viết dưới đây trình bày khái quát những sự kiện chính liên quan đến việc dịch và phát hành Kinh Thánh sang Việt Ngữ. Chắc chắn bài viết còn có nhiều thiếu sót nhưng Ban Biên Tập hy vọng tài liệu sẽ giúp ích phần nào cho những bạn đọc đang nghiên cứu về vấn đề nầy. Mong rằng trong tương lai, qua bạn đọc, chúng tôi có thể thu thập thêm những tài liệu bổ ích khác để đúc kết thành một sử liệu đầy đủ, chính xác cho Hội Thánh. Ban Biên Tập xin chân thành cám ơn Mục Sư Tiến Sĩ Lê Hoàng Phu đã cung cấp nhiều sử liệu quan trọng cho bài viết nầy. I. Sơ Lược Về Việc Cơ-đốc Giáo Truyền Ðến Việt Nam: Căn cứ vào các sách sử của Việt Nam và Trung Hoa, một số nhà nghiên cứu cho rằng hóa trình truyền bá Cơ-đốc Giáo đến Việt Nam có thể chia làm hai giai đoạn chính. Giai đoạn đầu từ những thế kỷ đầu của công nguyên đến cuối thế kỷ 15, và giai đoạn thứ II, từ đầu thế kỷ thứ 16 trở về sau. Theo Pedro Ordonez de Cevallos, một Linh Mục Tây Ban Nha, Sứ Ðồ Thô-ma là người đầu tiên truyền bá đạo Chúa đến Việt Nam. Cũng theo Linh Mục Cevallos, khi ấy Sứ Ðồ Thô-ma đã làm chứng cho một vị vua Việt Nam tiếp nhận Chúa. Linh Mục Ordonez de Cevallos là một trong những giáo sĩ đầu tiên đến Việt Nam truyền giáo vào năm 1590. Ông là một người có uy tín và được ơn Chúa. Ông đã làm  báp-têm cho Công Chúa Mai Hoa dưới thời nhà Lê tin Chúa. Tuy nhiên, ý kiến của Linh Mục Cevallos cho rằng Sứ Ðồ Thô-ma đã đến truyền giảng tại Việt Nam vào thế kỷ thứ I khiến nhiều nhà nghiên cứu đặt nghi vấn vì nhận định này không có sử liệu minh chứng. Theo sách Ngoại Kỷ, suốt thế kỷ thứ I, Việt Nam chỉ độc lập khoảng 3 năm dưới thời Hai Bà Trưng (40-43 S.C.). Trước khi Hai Bà Trưng dành độc lập, nước Việt - khi ấy gọi là Giao Chỉ - bị sáp nhập vào Tây Hán (Bái Công) 149 năm. Sau khi Hai Bà Trưng mất, Việt Nam bị nhập về Ðông Hán (Quang Võ) 144 năm. Như vậy, nếu lời Linh Mục Cevallos là đúng, Sứ Ðồ Thô-ma phải đến Việt Nam vào khoảng năm 40-43 S.C., và hai Bà Trưng, vua Việt Nam vào thế kỷ thứ I, đã tin Chúa. Tuy nhiên, trong những sử sách Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay, không một tài liệu nào ghi lại việc ấy. Hơn nữa, về phương diện lịch sử Hội Thánh, giả thuyết này cũng khó được chấp nhận. Nếu những nhà làm lịch tính đúng, Hội Thánh được thành lập vào khoảng năm 33 S.C.. Nhưng chúng ta biết, trong vài năm đầu Hội Thánh chỉ phát triển tại Giê-ru-sa-lem. Khi những cơn bắt bớ đầu tiên xảy ra, Hội Thánh mới phát triển sang vùng Giu-đê và Sa-ma-ri. Nếu chỉ vài năm sau đó, các đầy tớ Chúa đã vượt gần nửa vòng trái đất để truyền bá đạo Chúa đến Việt Nam thì có lẽ hơi quá sớm. Phạm Văn Sơn, tác giả Việt Sử Tân Biên, do nhà xuất bản Ðại Nam phát hành tại Sài Gòn vào năm 1961, trích dẫn ý kiến của một số nhà nghiên cứu cho rằng thời điểm đầu tiên mà Cơ-đốc Giáo được truyền đến Việt Nam có lẽ vào thời Sĩ Nhiếp làm Thái Thú tại Việt Nam (186-226 S.C.). Các học giả này cho rằng Sĩ Nhiếp đã tin Chúa và ông chính là người đã cho làm nhiều nhà thờ có hình Chúa Giê-xu và thập tự giá. Những di tích này được tìm thấy vào thế kỷ 16 dưới thời Hậu Lê. Linh Mục Nguyễn Hồng trong cuốn Lịch Sử Truyền Giáo Việt Nam xuất bản vào năm 1959, cho biết một số thương buôn Âu châu đã đến Việt Nam từ thế kỷ thứ II. Sử Trung Hoa ghi lại rằng vào năm 166, có một sứ giả do Marcol Aurelio Antonio sai đến Trung Quốc cho biết ông đã ghé qua Giao Chỉ. Năm 266, một thương nhân tên là Tsin Lonen theo đường từ Giao Chỉ lên Nam Kinh. Vào năm 980, một số Giáo Sĩ thuộc phái Cảnh Giáo (Nestoriens) đã từ Bắc Việt đến Trung Quốc. Ðể minh chứng cho giả thuyết đạo Chúa được truyền đến Việt Nam từ lâu, các sử gia cho biết vào thời vua Lê Anh Tông (1557-1573), khi sửa chữa lại một vài đền cổ, người ta tìm thấy hình một Thập Tự rất cổ trong một bức tường. Khi được trình tâu việc này, vua Lê Anh Tông đã cho trọng đãi các nhà truyền giáo Tây Phương, nhờ đó việc truyền giáo trước kia vốn bị cấm nay được dễ dãi hơn. Dựa vào những tài liệu trên, một số sử gia cho rằng Cơ-đốc giáo đã được truyền bá đến Việt Nam khá lâu, từ trước thời kỳ Cải Chánh Giáo Hội. Công cuộc truyền giáo có thể khởi đầu từ những thế kỷ đầu tiên của công nguyên. Sau đó, Cơ-đốc Giáo bị cấm đoán và bị tiêu diệt mãi cho đến đầu thế kỷ 16 mới phát triển trở lại. Tuy nhiên, công cuộc truyền giáo vào Việt Nam được biết rõ và được sử sách ghi nhận chính thức chỉ bắt đầu từ thế kỷ 16. Sách Khâm Ðình Việt Sử, thời Nguyễn, do Quốc Sử Quán biên soạn, ghi lại rằng: Nguyên hòa nguyên niên đời vua Lê Trang Tông (1532-1533) có một Dương nhân (người Tây Phương) tên là I-nê-khu đi đường biển lén vào giảng đạo Gia-tô ở làng Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chân (tức Nam Trực) và ở làng Trà Lũ, huyện Giao Thủy thuộc tỉnh Nam БNguyên Khi ấy, vua Lê Trang Tông đã ra lệnh cấm đạo nghiêm nhặt. Các tín hữu bị bắt bớ. Việc truyền giáo chỉ được dễ dàng một chút về sau vào thời vua Lê Anh Tông như đã nhắc ở trên. Vào thế kỷ 16, lãnh thổ Việt Nam chỉ gồm có miền Bắc và vài tỉnh miền Trung ngày nay, tuy nhiên nước Việt đã có mầm mống chia đôi. Sau khi Lê Cung Hoàng bị Mạc Ðăng Dung cướp ngôi (1546), một triều thần nhà Lê là Nguyễn Kim đã cùng con rể là Trịnh Kiểm đánh đuổi nhà Mạc, tái lập nhà Lê, gọi là Lê Trung Hưng tức Nam Triều. Tuy nhiên, nhà Mạc (Bắc Triều) vẫn còn chiếm giữ nhiều vùng đất phía Bắc và tìm cách khôi phục quyền hành. Mạc Mậu Hợp (1562-1592), muốn khôi phục lại nhà Mạc và mưu tìm sự hậu thuẫn của Tây Phương nên đã viết thư sang Manila (Philippines) mời các linh mục sang truyền giáo tại Việt Nam. Sau khi nhận được thư của Mạc Mậu Hợp, năm 1578 các tu sĩ dòng Franciscan từ Philippines đến Việt Nam truyền bá Công giáo. Ðến năm 1615, các tu sĩ Jesuit - Dòng Tên - lại tiếp bước các tu sĩ dòng Franciscan đến Việt Nam. Sau khi thắng nhà Mạc, hai họ Trịnh Nguyễn phân tranh và nước Việt Nam bị chia đôi. Giữa bối cảnh ấy, công việc truyền giáo tại Việt Nam trong thời kỳ đầu vẫn có nhiều kết quả khả quan. Theo sử sách, đến năm 1639, tại Ðàng Ngoài (miền Bắc) đã có 80.000 tín đồ và tại Ðàng Trong (miền Trung) có 50.000 tín đồ Công Giáo. Trong hai thế kỷ tiếp theo, tín đồ Công Giáo tại Việt Nam bị bắt bớ dữ dội. Ðến đời vua Tự Ðức, ước tính có đến 130.000 giáo hữu Việt Nam tử vì đạo. II. Quá trình phiên dịch Kinh Thánh sang Việt Ngữ: Khi mới đến Việt Nam, để cho việc truyền giáo được hiệu quả, các tu sĩ dòng Tên đã dành nhiều thì giờ tìm hiểu văn hóa, tập quán của dân Việt. Vì chữ Nôm khó học nên các giáo sĩ đã nghĩ đến một phương pháp mới dùng mẫu tự La Tinh để ghi âm tiếng Việt Nam, về sau gọi là chữ Quốc Ngữ. Trong giai đoạn phôi thai của loại chữ viết mới, Linh Mục Gaspard de Amaral đã soạn cuốn Từ Vựng Việt Nam - Bồ-đào-nha bằng chữ Quốc Ngữ. Linh Mục Antoine de Barbosa soạn tiếp cuốn Từ Vựng Bồ-đào-nha - Việt Nam. Dựa vào đó, về sau Linh Mục Alexandre de Rhodes hệ thống lại và soạn ra bộ Từ Ðiển Việt Nam - Bồ-đào-nha - La Tinh. Sách nầy được phát hành tại La Mã vào năm 1651. Linh Mục Alexandre de Rhodes cũng xuất bản một số sách  khác bằng chữ Quốc Ngữ và ông được xem là cha đẻ của chữ Quốc Ngữ như chúng ta biết. Sau đó, chữ Quốc Ngữ đã thay thế chữ Nôm trở thành chữ viết chính thức của người Việt. Mặc dầu chữ Quốc Ngữ được phát minh từ thế kỷ 17 với mục đích phổ biến đạo Chúa, nhưng phải mất gần 250 năm sau, đến năm 1872, Giáo Hội Công Giáo mới phát hành những phần Kinh Thánh rời rạc đầu tiên bằng Việt Ngữ. Suốt gần 100 năm kế tiếp, các bản dịch Kinh Thánh Việt Ngữ của Giáo Hội Công Giáo chỉ nhằm phục vụ cho hàng giáo phẩm, chứ không phổ biến rộng rãi cho giáo dân. Mãi đến sau Cộng Ðồng Vatican II (1963), Giáo Hội Công Giáo Việt Nam mới thực hiện những nỗ lực đáng kể để phiên dịch và phổ biến Kinh Thánh bằng Việt Ngữ. Về phía Giáo Hội Tin Lành, trước khi Tin Lành được truyền bá vào Việt Nam, một số sách Phúc Âm đã được dịch ra tiếng Việt với mục đích chuẩn bị cho công việc truyền giáo. Chỉ năm năm sau khi Tin Lành truyền đến Việt Nam (1911), vào năm 1916 các nhà lãnh đạo Hội Thánh Tin Lành đã bắt đầu cho phiên dịch toàn bộ Kinh Thánh sang tiếng Việt. Công trình này kéo dài gần 10 năm và đến năm 1926, các tín hữu Tin Lành Việt Nam đã có bộ Kinh Thánh đầu tiên bằng ngôn ngữ của mình. Căn cứ trên những tài liệu từ Giáo Hội Tin Lành, Giáo Hội Công Giáo, và tài liệu của Thánh Kinh Hội Liên Hiệp (United Bible Societies - UBS), quá trình phiên dịch và xuất bản Kinh Thánh Việt Ngữ có thể sơ lược như sau: *Vào năm 1872, Giáo Hội Công Giáo xuất bản một cuốn sách hướng dẫn về giáo nghi, trong đó có dịch một số sách Phúc Âm trong Kinh Thánh. Cuốn sách trên được phát hành tại Bangkok, Thái Lan vào năm 1872. *Về phía Giáo Hội Tin Lành, vào năm 1890, M. Bonnet, Giáo Sư của trường Ngôn Ngữ Ðông Phương tại Paris (Paris School of Oriental Languages), đã dịch Phúc Âm Luca sang tiếng Việt. Khi dịch Phúc Âm Luca, Giáo sư Bonnet đã dùng bản Kinh Thánh Pháp văn Ostervald để dịch. Sau khi dịch xong, Phúc Âm Luca đã được Thánh Kinh Hội Anh Quốc (British & Foreign Bible Society - BFBS, Paris) xuất bản tại Paris. Năm 1898, Phúc Âm Luca tái bản lần đầu tiên. *Năm 1899, Thánh Kinh Hội Anh Quốc (BFBS) cho xuất bản Phúc Âm Mác tại Singapore. *Năm 1900, Thánh Kinh Hội Anh Quốc (BFBS) xuất bản Phúc Âm Giăng và đến năm 1903 lại xuất bản sách Công Vụ Các Sứ Ðồ tại Paris. Hai bản dịch nầy do Walter James, nhân viên của Thánh Kinh Hội Anh Quốc, thực hiện. *Năm 1913, Giáo Sĩ P.M. Hosler thuộc Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp (CM&A) đã dịch lại Phúc Âm Mác. Bản dịch nầy được xuất bản năm 1913 tại Ngô Châu (Wuchow), thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Hoa. *Năm 1913-1914, Giáo Hội Công Giáo đã xuất bản Thánh Kinh Cựu Ước. Bản dịch nầy được in song ngữ với bản La-tinh Vulgate. Ðến năm 1916, Giáo Hội Công Giáo phát hành Tân Ước và cũng in song ngữ, một bên là chữ Việt, một bên là chữ La Tinh theo bản Vulgate. Bản dịch nầy do Linh Mục Albert Schlicklin thực hiện, dịch từ bản Kinh Thánh La Tinh Vulgate, là bản Kinh Thánh được Vatican chính thức công nhận. Linh Mục Albert Schlicklin thường được các học giả Công Giáo Việt Nam gọi là Cố Chính Linh. Bản dịch Kinh Thánh trên được các giáo sỉ thuộc Hội Thừa Sai Paris (Société des Missions Étrangères de Paris) tại Hong Kong phát hành. *Năm 1917, Thánh Kinh Hội đã xuất bản Phúc Âm Mác tại Hà Nội. Có lẽ đây là phần Kinh Thánh đầu tiên của Giáo Hội Tin lành in tại Việt Nam. *Năm 1918, Thánh Kinh Hội xuất bản Phúc Âm Giăng và Sách Công Vụ tại Thượng Hải, Trung Quốc. Năm 1919, lại tiếp tục xuất bản Phúc Âm Mathiơ. Ðến năm 1922, xuất bản sách Sáng thế Ký, Xuất Ê-díp-tô Ký, Luca; tái bản Phúc Âm Mathiơ; đồng thời xuất bản lại ba sách Phúc Âm Mác, Phúc Âm Giăng và Công Vụ đã được sửa chữa. *Năm 1923, Thánh Kinh Hội Anh Quốc xuất bản Kinh Thánh Tân Ước tại Hà Nội. Toàn bộ Kinh Thánh được thực hiện xong vào năm 1925 và xuất bản vào năm 1926 tại Thượng Hải, Trung Hoa. Bản dịch này do một nhóm học giả gồm có cụ Phan Khôi, ông bà Giáo Sĩ William C. Cadman, Giáo Sĩ John D. Olsen thực hiện với sự giúp đỡ của một số thành viên khác trong đó có: cụ Trần Văn Dõng, sinh viên trường Cao Ðẳng Ðông Dương, cụ Tú Phúc và vài học giả khác. Tuy nhiên người phiên dịch chính là cụ Phan Khôi. Trong suốt 70 năm qua, bản Kinh Thánh nầy được tục bản nhiều lần tại Anh Quốc, Hong Kong, Hoa Kỳ, Ðức, Ðại Hàn và Việt Nam. Ðây là bản Kinh Thánh Việt Ngữ được ấn hành và xử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Mặc dù chúng ta không có số liệu thống kê chính thức nhưng ước tính mỗi lần tái bản Kinh Thánh từ 5.000 - 10.000 cuốn; trong suốt 70 năm qua, số Kinh Thánh phát hành đã được vài trăm ngàn cuốn. Có lẽ đây là cuốn sách Việt Ngữ được phát hành nhiều nhất từ trước đến nay. *Năm 1925, Giáo Hội Công Giáo xuất bản cuốn Các Sách Phúc Âm, do Linh Mục Marcos Gisper Forcadell thực hiện. *Năm 1932, Thánh Kinh Hội Anh Quốc (BFBS) cho phát hành Phúc Âm Mác và Phúc Âm Giăng bằng chữ Nôm. Hai Phúc Âm nầy được in tại Thượng Hải, Trung Hoa. *Năm 1951, Thánh Kinh Hội Anh Quốc (BFBS) tại Hong Kong đã cho xuất bản sách Giăng và sách Công Vụ. Bản dịch mới nầy do cụ Mục Sư Ông Văn Huyên, Giáo Sỉ John D. Olsen, Mục sư Nguyễn Văn Vạn và Mục Sư Phan Ðình Liệu thực hiện. *Năm 1952, Thánh Kinh Tân Ước Nhuận Chánh được dịch xong. Ban Chấp Hành Trung Ương của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam chấp nhận và cho phép ấn hành. *Năm 1954 Thánh Kinh Hội Anh Quốc cho phát hành bản dịch Tân Ước Nhuận Chánh nêu trên tại Sài Gòn. Sau đó, bản dịch nầy được tái bản và tục bản nhiều lần vào những năm 1957, 1960, 1968. Bản dịch Tân Ước nầy được các học giả gọi là Bản Dịch Việt Văn 1952. *Năm 1961, một bản dịch Thánh Kinh Tân Ước toàn bộ khác được các tu sĩ Dòng Ða Minh xuất bản tại Sài Gòn. *Năm 1962, Thánh Tâm Biệt Thư tại Ðà Lạt đã xuất bản Ngũ Kinh Môi Se, Thi Thiên và Thánh Kinh Tân Ước do Linh Mục Gérard Gagnon thực hiện. *Năm 1963, Thánh Tâm Biệt Thư tại Ðà Lạt lại tiếp tục xuất bản những phần còn lại của Thánh Kinh Cựu Ước gồm những sách từ Giô Suê cho đến sách Gióp và các sách tiên tri từ Ê-sai cho đến Malachi. Những sách nầy cũng do Linh Mục Gérard Gagnon thực hiện. *Năm 1969, nhà xuất bản Ðức Mẹ tại Sài Gòn phát hành Thánh Kinh Tân Ước do Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn phiên dịch. *Năm 1969, Thánh Kinh Hội Việt Nam cho ấn hành các sách Công Vụ, Phi-lê-môn, Gia-cơ, I & II Phi-e-rơ tại Sài Gòn. Ðây là một phần trong một đề án phiên dịch mới gọi là Bản Dịch Phổ Thông của Thánh Kinh Hội Việt Nam. *Năm 1970, Linh Mục Trần Hữu Thanh đã sửa chửa lại bản dịch của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn cho phổ cập lại với giọng văn hiện đại và xuất bản cuốn Thánh Kinh Tân Ước nầy để xử dụng trong Nha Tuyên Úy Công Giáo của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. *Năm 1970, Thi Sĩ Nguyễn Xuân Hồng đã dịch Phúc Âm Mác, được in với nhan đề Vào Ðời. Bản dịch mới nầy được phòng sách Tin Lành Sài Gòn xuất bản. Công tác phiên dịch và xuất bản đã được thực hiện dưới sự hổ trợ của Living Bible International (LBI). *Năm 1971, nhà xuất bản Ra Khơi tại Sài Gòn đã phát hành Kinh Thánh toàn bộ do Linh Mục Trần Ðức Huân thực hiện, với sự giúp đỡ của một Ủy Ban Phiên Dịch. Ủy ban nầy đặt dưới sự hướng dẩn và kiểm soát của Giám Mục Trương Cao Ðại. *Năm 1973 Thánh Kinh Hội Việt Nam lại cho xuất bản tiếp các sách Phúc Âm Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca, Giăng, cùng với sách Công Vụ đã được hiệu đính. *Theo tài liệu của Thánh Kinh Hội Quốc Tế Liên Hiệp (UBS), những sách vừa phát hành nêu trên cùng những sách đã được Thánh Kinh Hội Việt Nam phát hành vào năm 1969 là những sách đã được dịch xong của một bản dịch mới gọi là Bản Phổ Thông (Common Language Version) do các dịch giả gồm: Mục Sư Lê Hoàng Phu, Mục Sư Lê Vĩnh Thạch, Mục Sư Nguyễn Xuân Hồng, ông Nguyễn Văn Nha cùng một số các vị khác thực hiện. Tuy nhiên, bản này chỉ in rời rạc mà không hoàn tất. *Năm 1975, World Home Bible League tại South Holland, Illinois phát hành một bản dịch sách Phúc Âm Mác mới. *Năm 1976, toàn bộ Kinh Thánh do Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn thực hiện đã được phổ biến tại Sài Gòn. Phần Tân Ước trong bản dịch này được phiên dịch từ nguyên văn Hy Lạp. Tuy nhiên, do tình hình chính trị tại Việt Nam không thuận lợi cho việc xuất bản Kinh Thánh cho nên năm 1980, các Linh Mục dòng Chúa Cuu Thế tại La Verne, California đã cho xuất bản toàn bộ bản dịch Kinh Thánh của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn tại California. *Năm 1982, Hội Living Bible International tại Hong Kong đã phát hành Thánh Kinh Tân Ước do Mục Sư Tiến Sĩ Lê Hoàng Phu thực hiện. Bản dịch mới này thường được đọc giả biết đến dưới tên Thánh Kinh Tân Ước Diễn Ý. *Cũng vào đầu thập niên 1980, Giáo Hội Công Giáo phát hành bản dịch Kinh Thánh Tân Ước do Hồng Y Trịnh Văn Can thực hiện, tại Hà Nội. Bản dịch này được Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tái bản lần thứ nhất vào năm 1985 tại Orange County, CA. *Vào năm 1987, Vietnamese Bible Inc. được thành lập tại Midland, Texas, với mục đích thực hiện một bản dịch Kinh Thánh Việt Ngữ trung thực, hiện đại, truyền đạt được chân lý của Chúa. Lúc đầu, Vietnamese Bible Inc. do các Mục Sư Baptist Việt Nam khởi xướng, nhưng sau đó dự án đã mở rộng và mời các Mục Sư thuộc các giáo phái Tin Lành khác nhau cùng cộng tác. Thành phần của Ủy Ban Phiên Dịch hiện nay gồm có các Mục Sư Lê Hoàng Phu, Võ Ngọc Thiên Ân, Trần Ðào, Nguyễn Hữu Cương, Mai Hữu Phước, Nguyễn Minh Thắng, Nguyễn Xuân Hà và bà Phạm Xuân. Năm 1991, Vietnamese Bible Inc. tại Midland, TX. đã phát hành thử nghiệm một bản dịch bốn sách Phúc Âm. Bản thảo Tân Ước cũng đã thực hiện xong, hiện nay đang được hiệu đính. Toàn bộ Tân Ước dự tính sẽ in trong tháng 2/1996. Hiện nay, đề án dịch toàn bộ Kinh Thánh của Vietnamese Bible Inc. vẫn đang tiếp tục thực hiện. * Năm 1994, toàn bộ Thánh Kinh do Mục Sư Lê Hoàng Phu và ba dịch giả phiên dịch đã được Thánh Kinh Hội Quốc Tế (International Bible Soceity - IBS) và Văn Phẩm Nguồn Sống phát hành vào tháng 6/1994 tại Anaheim, California. *Năm 1994, Tòa Tổng Giám Mục tại Thành Phố Hồ Chí Minh đã xuất bản 30.000 Thánh Kinh Tân Ước. Công trình này được thực hiện bởi Linh Mục Hoàng Ðắc Ánh và Linh Mục Trần Phúc Nhân. Việc xuất bản Kinh Thánh do cơ quan Thánh Kinh Hội Quốc Tế (IBS) bảo trợ. Vào năm 1973, Thánh Kinh Hội Quốc Tế đã tổ chức một khóa huấn luyện cho các nhân viên phiên dịch Kinh Thánh tại Ðà Lạt. Ðại diện của các giáo phái Tin Lành và Công Giáo đã đến tham dự. Các đại biểu đã bàn thảo về một đề án phiên dịch Kinh Thánh dựa theo khuôn mẫu bản dịch Jerusalem là bản dịch mà cả hai giáo hội Công Giáo và Tin Lành cùng phối hợp thực hiện. Năm 1974, Mục Sư Nguyễn Thỉ và Mục Sư Trần Ðào đại diện cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam bàn thảo với quí Linh Mục Hoàng Ðắc Ánh và Linh Mục Trần Phúc Nhân về những đường lối và nguyên tắc thực hiện. Rất tiếc, biến cố 30/4/1975 xảy ra, các Mục Sư Nguyễn Thỉ và Trần Ðào ra đi, hai Linh Mục Công Giáo ở lại tiếp tục dự án phiên dịch Kinh Thánh. Năm 1985 Thánh Kinh Tân Ước được dịch xong và đã được Tòa Tổng Giám Mục Giáo Phận Thành Phố Hồ Chí Minh phát hành vào năm 1994 với sự hổ trợ của Thánh Kinh Hội Liên Hiệp (UBS) *Năm 1995, toàn bộ Kinh Thánh của Giáo Hội Tin Lành đã được tái bản tại Ðà nẵng (Việt Nam). Bộ Kinh Thánh tái bản lần này là bản Kinh Thánh 1926. Việc tái bản này do Hội Thánh Tin Lành Việt Nam thực hiện với sự hổ trợ của Thánh Kinh Hội Liên Hiệp (UBS). Ðây là bản Kinh Thánh đầu tiên của Giáo Hội Tin Lành Việt Nam được phép in và phát hành dưới chế độ cộng sản Việt Nam. *Năm 1996, Phúc Âm Giăng do Mục Sư Ðặng Ngọc Báu dịch từ nguyên văn Hy Lạp đã xuất bản tại San Diego, CA. Bản dịch mới này được dùng làm tài liệu chứng đạo cho thân hữu. *Hiện nay, ngoài dự án phiên dịch Kinh Thánh sang Việt Ngữ của Vietnamese Bible Inc., một vài Mục Sư Việt Nam cũng đang thực hiện một đề án khác để phiên dịch một bản Kinh Thánh mới theo nguyên tắc bản dịch New International Version (NIV) trong Anh Ngữ. IIITương Lai: Theo một thống kê mới đây, trong số gần 6.000 ngôn ngữ hiện đang được xử dụng trên thế giới, tiếng Việt là một trong 20 ngôn ngữ được dùng phổ thông nhất. Tính đến cuối năm 1995, dân số Việt Nam là 76 triệu người. Ngoài ra còn có hơn hai triệu người Việt tại hải ngoại. Như vậy, đã có khoảng 78 triệu người xử dụng tiếng Việt. Trong tương lai, số người xử dụng Việt Ngữ tiếp tục tăng nhanh, do đó nhu cầu cần có một bản dịch Thánh Kinh Việt Ngữ chuẩn xác, trong sáng, lưu loát là một vấn đề quan trọng mà Hội Thánh Việt Nam cần phải lưu tâm. Hiện nay, việc dịch Kinh Thánh trên thế giới có ba khuynh hướng chính: 1.Khuynh hướng thứ nhất là phương pháp dịch từng chữ một (word-for-word). Nguyên tắc căn bản của phương pháp này là các dịch giả phải tìm từ hoặc ngữ - đồng nghĩa với từ, ngữ trong nguyên bản. Cấu trúc mệnh đề và văn mạch cũng phải theo sát nguyên bản. Nhược điểm của phương pháp này: do dịch giả phải dịch sát nghĩa của từ ngữ trong nguyên bản nên cách hành văn trong bản dịch thường không phổ thông và dẫn đến khó hiểu. Ưu điểm của phương pháp này là diễn đạt gần trọn vẹn ý nghĩa của nguyên bản. Trong các bản dịch sang Anh Ngữ, tiêu biểu cho phương pháp này là bản dịch King James (KJV). Bản dịch Việt Ngữ theo phương pháp này là bản dịch 1952. 2.Khuynh hướng thứ hai, các dịch giả dùng những từ ngữ và thành ngữ phổ thông để diễn đạt ý chính của nguyên tác cách lưu loát và dễ hiểu. Phương pháp này có ưu điểm nổi bật là đọc giả khi đọc bản dịch, họ có thể dễ dàng thấu đáo được nội dung bản văn. Tuy nhiên, khuyết điểm của phương pháp này là bản dịch nhiều khi không thể hiện hết tất cả ý nghĩa khác trong nguyên bản. Trong các bản dịch Anh Ngữ, tiêu biểu cho khuynh hướng này là bản dịch The Living Bible (LBV). 3.Khuynh hướng thứ ba chú trọng vào ưu điểm của hai phương pháp trên. Theo phương pháp này, các học giả vừa tìm cách dịch uyển chuyển nhưng cố gắng sao cho từ ngữ trong bản dịch phải vừa phổ thông, vừa chính xác, trung thực với nguyên bản, đồng thời cách hành văn phải lưu loát, cập nhật, dễ đọc, dễ hiểu. Tiêu biểu cho bản dịch theo khuynh hướng này là bản Kinh Thánh New International Version (NIV). Về Việt Ngữ, hiện nay chưa có bản Kinh Thánh nào hoàn tất theo phương pháp này. Mặc dầu có ba khuynh hướng chính nêu trên, nhưng trên thực tế khi tiến hành dịch thuật Kinh Thánh, tùy theo từng hoàn cảnh khác nhau, các dịch giả có khi uyển chuyển dùng hai hoặc  cả ba phương pháp cùng một lúc. Nhìn về tương lai, để góp phần mở mang công việc Chúa, Cộng Ðồng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam nên thực hiện những dự án sau: *Hoàn tất bản dịch của Vietnamese Bible Inc. *Thực hiện một bản dịch mới tương tự bản dịch NIV trong Anh Ngữ. *Hiệu đính bản dịch 1926. *Phối hợp với Thánh Kinh Hội Quốc Tế đưa toàn bộ những bản dịch Việt Ngữ đã có, cùng với một số bản Anh Ngữ phổ thông, các bản cổ văn bằng Hebrew và Greek, Thánh Kinh Tự Ðiển, Kinh Tiết Sách Dẫn vào Compact Disk (CD). Công trình này sẽ mang lại những hiệu quả thiết thực và lâu dài trong việc phổ biến và nghiên cứu lời Chúa trong tương lai. Hiện nay số sinh viên đã tốt nghiệp Computer Engineer hoặc Computer Science trong các Hội Thánh Việt Nam tại Hoa Kỳ lên đến hàng trăm người. Nếu Hội Thánh có dự án cụ thể và kêu gọi những anh chị em này đóng góp khả năng thì công trình này có thể thực hiện được. *Cần có một web site để phổ biến Thánh Kinh Việt Ngữ trên Internet cho người Việt khắp thế giới. *Phổ cập những chương trình huấn luyện Kinh Thánh Căn Bản và Sơ Cấp cho các tín hữu. Phát triển những khóa học Kinh Thánh Ðoản Kỳ, Thánh Kinh Mùa Hè, Thánh Kinh Tiểu Học Ðường cho thế hệ trẻ tại nhiều địa phương. *Nâng cao pham chất đào tạo người hầu việc Chúa qua các chương trình trung cấp, đại học và cao học. *Ðào tạo những học giả Thánh Kinh, những nhà Thần Học cho Hội Thánh Việt Nam. Cầu nguyện và hổ trợ để Hội Thánh Việt Nam sớm có những đày tớ Chúa có bằng Ph.D. về Thần Học và Kinh Thánh. *Soạn thảo và phiên dịch thêm những sách giải nghĩa Kinh Thánh Việt Ngữ. *Phác thảo những dự án cần thiết nhằm tận dụng những phương tiện sách báo, truyền thanh, truyền hình, phim ảnh, âm nhạc, kịch nghệ, ... để phổ biến lời Chúa cho dân tộc Việt Nam. *Hổ trợ cho các dự án phiên dịch Kinh Thánh sang các ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Trong quá khứ, tiên tri Ô-sê ghi nhận rằng: ‘Dân ta bị diệt vì cớ thiếu sự thông biết.’(Ô-sê 4: 6). Ngày nay hằng triệu người Việt đang bị hư mất vì không biết lời Chúa. Tiếp bước những thế hệ hầu việc Chúa tiền phong, ước mong mỗi người chúng ta hãy làm hết sức mình để lời Chúa sớm được rao truyền khắp mọi miền trên quê hương cũng như tại các cộng đồng người Việt khắp năm châu. Mong rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ vui mừng khi có hằng triệu người Việt hiểu rõ lời Chúa và bằng lòng tiếp nhận Chúa. Phước Nguyên Tháng 1/1996 Trích Báo Linh Lực

  • 0 Thiên Chúa Thực Hữu - Sự Sống Là Gì? - Nguyễn Sinh

    Ðây là một lãnh vực mong manh nhất đối với kiến thức của các nhà khoa học.  Môn khoa học thực nghiệm chủ trương về sự tính toán, cân đo và làm các thí nghiệm trong phòng Lab; tuy nhiên, không một ai có thể dùng cân để cân sự sống nặng bao nhiêu?  Không ai có thể dùng thước để đo các chiều kích của sự sống được.  Cũng chẳng có ai có thể biết được sức mạnh của sự sống làm cho cây đâm chồi nẩy lộc, nở hoa, và mọc rể. Chúng ta có thể hình dung về sự sống như một nhạc sĩ vô hình dạy chim hát líu lo, như là một họa sĩ đều đặn tô mầu cho hoa và lá.  Sự sống như là một nhà hóa học liên tục mang hương vị đến cho hoa quả, biến đổi nước và Acid Carbonic thành đưòng bột gỗ để rồi từ đó tỏa ra Oxy cho mỗi động vật có được sự sống.  Sự sống này phát xuất từ tế bào, từ trong nguyên sinh chất Gene, DNA.  Vậy nguyên thủy của sự sống từ đâu?  Càng suy nghĩ tìm tòi, các khoa học gia biết được rằng sự sống có được đây quả thật là lạ lùng.  Câu hỏi nêu lên rằng ai đã đặt để sự sống vào cõi tạo vật, cây, hoa, lá, sinh vật, kể cả con ngưòi?  Có phải là một tình cờ hay ngẩu nhiên chăng? Có một số ngưòi chủ trương rằng sự sống trên đất là do tình cờ. Nhưng các khoa học gia chân chánh thì không tin điều này là hợp lý. Do các công trình khảo cứu, tìm tòi, thử nghiệm, đối chiếu, các nhà khoa học đành phải công nhận rằng sự sống trên đất đòi hỏi những điều kiện thật chính xác, và dĩ nhiên, các điều kiện ắt có và đủ này không thể nào do sự tình cờ mà có được.  Trái lại, nó phải được điều khiển bởi một Ðấng-Huyền-Nhiệm (GOD) trong một trật tự nhất định.  Tối thiểu cũng phải có 10 điều kiện sau đây:   Phải có không khí Phải có nước Phải có ánh sáng Ðịa cầu phải quay.  Trái đất tự xoay trên một trục của nó khoảng 1,000 dặm/giờ.  Nếu quả đất quay chậm hơn, kết quả sẽ là ngày và đêm kéo dài hơn, sức nóng của mặt trời sẽ thiêu cháy cây cỏ lúc ngày, làm tàn héo các mầm non vào lúc đêm. Phải có sức nóng vừa phải.  Mặt trời nóng liên tục 12,000 độ F.  Quả đất được đặt ở một tầm vừa phải để có sự sống.  Vì lẽ nếu mặt trời nóng hơn hoặc nguội hơn thì đều gây nên tai hại cho sự sống trên địa cầu này. Trục trái đất phải nghiêng, nhờ sự nghiêng 23 độ mà quả đất có được bốn mùa xoay vần trong năm.  Nếu hành tinh này không nghiêng thì rất nguy hại cho sự sống.  Tại sao?  Vì hơi nưóc bốc lên từ các đại dương sẽ hội tụ tại  Nam và Bắc cực.  Kết quả xảy ra là sẽ tạo nên các lớp băng giá dày, dần dần chúng sẽ hủy diệt sự sống. Mặt trăng không thể gần địa cầu này hơn nữa.  Nếu nguyệt cầu gần quả đất hơn sẽ tạo nên thủy triều mạnh mẽ, nước của các đại dương sẽ tiếp tục dâng tràn và các lục địa sẽ bị chìm ngập trong bể nước mà thôi. Vỏ của địa cầu không được dày hơn.  Nếu mọi nơi trên quả đất dày hơn thêm vài thưóc thì không có đủ Oxy để duy trì sự sống. Các đại dương sẽ không được sâu hơn.  Nếu các biển cả khắp nơi sâu thêm vài thước nữa thì khí Carbonic và Oxy sẽ bị thiếu hụt mất, và hậu quả là các thảo mộc sẽ chết hết.  Bầu khí quyển không được dày hơn.  Vì nếu dày hơn thì số sao băng sẽ gia tăng.  Sao băng là gì?   Ðấy là những tảng đá vĩ đại trong vũ trụ va chạm vào lớp khí quyển và bị bốc cháy.  Khi các sao băng này gia tăng và bị bốc cháy như thế thì hậu  quả sẽ ra sao nào? Các khối lửa khổng lồ này sẽ rơi trên mặt quả đất tạo nên những vụ hoả hoạn thiêu hủy sự sống.   Trên đây chỉ là 10 điều kiện trong vô số điều kiện phải xảy ra cùng một lúc để có sự sống trên địa cầu này. Sự sống trên đất này không do tình cờ hay ngẩu nhiên mà có.  Vậy chỉ còn phải tin rằng có một bàn tay nhiệm mầu đã sắp đặt có hệ thống,  một cấu trúc vô cùng kỳ lạ lùng đã được điều khiển từ bàn tay của một kiến trúc sư đại tài thiết dựng.  Sự tình cờ, ngẩu nhiên không thể nào đưa đến kết quả là vũ  trụ có trật tự để dẫn đưa đến sự sống.  Tôi tin rằng các quí vị sẽ đồng ý 100% với các khoa học gia. Nay tôi xin được hỏi quí vị có  đồng ý để cho Ðấng-Tối-Cao-Toàn-Năng (GOD) ấy sắp đặt, và cai quản đời  sống của quí vị hay không? Trong thời tối thượng cổ của Quốc gia Do-thái có một hoàng đế tên Salomon.  Ông đã được mô tả là vị vua rất thông minh, uyên bác, ông rất giầu có và nắm quyền lực trong tay; tuy nhiên, Hoàng đế Salomon cũng đã phải thốt lên: “Các tầng trời rao truyền sự vinh quang của Thiên Chúa, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm.”  (Thánh Vịnh 19:1) Câu trên đây rất đúng trên lãnh vực khoa học và cũng rất đúng về bình diện thuộc linh.  Thánh Kinh chép “Ðức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy.” (Hê-bơ-rơ 11:1) Ðối với vấn đề Thiên Chúa hiện hữu, chúng ta có thể kể ra ba hạng người:   Họ đòi hỏi mình phải thấy được dung nhan của Thiên Chúa, có thấy mới tin.   Có một số ngưòi có thấy Thiên Chúa Ngôi Hai, Giê-xu Ky-tô,  song họ vẫn không tin.  Lúc còn tại thế, Chúa Giê-xu đã thực hiện vô số phép lạ, nhưng lòng ngưòi cứng cõi vẫn không tin Ngài. Khi Ðấng Giê-xu còn tại thế, ngài là nguồn của sự sống, như là ánh sáng tỏa sáng rực rở giữa trời đêm, nhưng tâm trí con ngưòi vẫn phủ nhận Ngài  và từ khưóc Ngài.  Vì lẽ có một bức màn che tâm trí và đôi mắt tâm linh của họ.  “Trước khi sáng tạo vũ trụ đã có Logos, Logos ở cùng Thiên Chúa và Logos là Thiên Chúa.  ngay từ ban đầu Logos đã ở cùng Thiên Chúa.  Tất cả đều đưọc Logos sáng tạo. Không gì hiện hữu mà không do Logos.  Trong Ngài có nguồn sự sống và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.  Ánh sáng toả ra trong bóng tối và bóng tối không khống chế được ánh sáng. (Giăng 1: 1-5)  “Ánh sáng thật này (Logos) đã đến trần gian soi sáng mọi ngưòi.” (Giăng 1: 9)   ] Logos là Ðấng Giê-xu Ki-tô cũng là GOD, Ðấng sáng tạo vũ trụ và con người. Có nhiều người đã thấy được một phần và có đức tin để tin thiên Chúa cách trọn vẹn. Quí vị đang ở trong thành phần nào?  Các con dân Chúa (Christians)  gồm có những ai đã tin nhận Thiên Chúa, họ thuộc thành phần thứ ba trên đây.  Bởi đức tin, các con dân của Chúa thấy Chúa qua công trình sáng tạo vũ trụ và con ngưòi, một tiểu vũ trụ.  Hiện nay, mắt chúng tôi chưa nhìn thấy Thiên Chúa mặt đối mặt, nhưng tất cả chúng tôi đều tin chắc chắn về một Thiên Chúa thực hữu. Ðại lễ kỷ niệm Chúa Giê-xu nhập thế là một biến cố vô tiền khoáng hậu trong cõi nhân gian. Thiên Chúa Ngôi Hai nhập thể để trở nên ngưòi. Vì thế, Ngài hiểu và cảm biết được mọi nỗi khổ đau, bất lực, tuyệt vọng của con ngưòi.  Sau hết, Ðấng Giê-xu Ky-tô hi sinh chịu làm một sinh tế chuộc tội cho nhân loại.  Không có sự đổ huyết của Giê-xu thì không có sự giải thoát con ngưòi thoát khỏi cùm kẹp, xiềng xích của tội lỗi và bởi Satan thống trị.  Sự chết chuộc tội của Ðấng Giê-xu chỉ một lần duy nhất, vì  “mọi sự đều được trọn.”  Công tác cứu chuộc tội lỗi con ngưòi trước Thiên Chúa đã hoàn tất. Nếu không có sự chết khổ hình tại thập tự giá thì sẽ không có sự sống vinh quang đắc thắng tử thần.  Qua sự nhập thế của Chúa Ngôi Hai, qua sự chết  và sự phục sinh vinh quang của Ðấng Giê-xu Ky-tô đủ bảo đảm cho chúng ta biết Ngài đang hiện hữu, nắm mọi quyền bính trong tay.  Ðấng đang sống và sống đời đời.    Rất mong các bạn vô thần đừng hình dung Thiên Chúa là Ðấng chỉ có trừng phạt và quăng các bạn vào hỏa ngục. Trái lại, Ngài thương yêu các bạn.   Lời Thánh Kinh trong Phúc âm Giăng 3:16: “Vì Thiên Chúa thương yêu thế gian, đến độ đã ban Con-Duy-Nhất -Jêsus-  để ai tin Con ấy, không bị hư vong nhưng được sự sống vĩnh cửu.” Mong các bạn hãy hồi tâm và quay trở lại đầu phục Thiên Chúa, Ðấng sáng tạo vũ trụ và chính đời sống các bạn.  AMEN Nguyễn Sinh

  • 0 Hành Trình Từ Ghết-sê-ma-nê Đến Gô-gô-tha – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    Kính thưa quí vị: Từ Chúa nhật ngày 25-3-2018 là bắt đầu của Tuần lễ Thánh, Giê-xu vào thủ đô Giê-ru-sa-lem, Ngài đã được nhân dân Do-thái tung hô và họ xem Ngài như một vị Vua đến để giải phóng họ khỏi ách thống trị của đế quốc La-mã.  Tuy nhiên, Giê-xu đến trần gian lần I là để làm trọn kế hoạch cứu chuộc nhân loại bằng cách hi sinh chính sinh mệnh Ngài làm của lễ chuộc tội cho cả nhân loại trước mặt Chúa Cha. Thứ sáu ngày 30-3 là Good Friday, Chúa vào vườn Ghết-sê-ma-nê để cầu nguyện và sau đó Ngài bị bắt.   Hôm nay, xin mời quí vị cùng đồng hành với Chúa trên chặng hành trình từ Ghết-sê-ma-nê đến Gô-gô-tha.   Hành Trình Từ Ghết-sê-ma-nê Đến Gô-gô-tha – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh Kinh Văn:  Mác 14:32-36; 53-72 & 15: 1-41; 16:20 -  Ê-sai 53: 1-12.  Các câu Kinh Văn trích ra nơi đây từ Thánh Kinh - Bản dịch mới, Phiên dịch từ nguyên bản Hi-bá-lai và Hi-lạp - Arms of Hope 2002   Trong Mùa Chay, chúng ta hãy cùng nhau suy gẫm về nỗi thống khổ, sự đau đớn mà Chúa Ky-tô phải gánh chịu .  Thông thường, không ai trong chúng ta muốn đề cập đến sự khổ đau, của chính mình, hay của ngưòi trong gia đình ...  Hầu hết chúng ta  muốn tránh né nói đến những điều đau buồn vừa kể.  Trong Cơ-đốc giáo, Mùa Chay là cả một phước hạnh cho Hội thánh và con dân Chúa, bởi vì trong thời gian này, chúng ta cùng nhau suy gẩm Lời Chúa  như khi Ngài phán cùng các môn đệ: “Phải tỉnh thức và cầu nguyện để các con khỏi sa vào sự cám dỗ;  vì tâm linh thì mong muốn, nhưng thể xác lại yếu đuối.”  (Mác. 14: 38)  Đó là lý do của sự cử hành Mùa Chay: Canh thức và cầu nguyện để chuẩn bị cho sự cử hành thánh lễ Chúa Phục sinh.  Mùa Chay là thời điểm  để con dân Chúa làm cuộc hành trình từ vườn Ghết-sê-ma-nê đến đồi Gô-gô-tha với Cứu-Chúa. Trưóc giả Mác và Lu-ca đồng trước thuật về một câu chuyện, nhưng mỗi vị ghi lại với một sắc thái riêng.  Mác là chứng nhân, cũng là một phát ngôn nhân về Chúa Giê-xu Ky-tô là Đấng  Messiah, là Con của Thiên Chúa.  Mác viết cho độc giả ngưòi Do-thái cư ngụ  tại Kinh thành La-mã.   Trưóc giả Lu-ca, một nhà trí thức cũng là một y-sĩ thì viết cho độc giả ngưòi Hi-lạp thời bấy giờ.  Mác l5: 32:  Chặng đưòng Ghết-sê-ma-nê, trong nguyên văn Aramaic là “Press of oil”  nơi ép dầu.  Tại khu vườn Ghết-sê-ma-nê có vườn cây Olive là bất động sản tại chân núi Olive.  Y-sĩ Lu-ca không viết  “vườn  Ghết-sê-ma-nê” mà viết  “Chúa ra đi, lên núi  Olive” (Luca 22: 39) điều này cũng không có chi mâu thuẩn, bở vì ngưòi Hi-lạp sẽ không hiểu nếu Lu-ca viết "vườn Ghết-sê-ma-nê," vì thế Lu-ca viết về  một "nơi chốn" “the place,”  vườn cây Olive là nơi Chúa Giê-xu thưòng trải qua đêm tại nơi đó.  Chúa cùng  ba môn đệ là Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đến đấy để cầu nguyện.  Mác ghi lại Chúa “bắt đầu kinh hãi” trong nguyên văn được  dịch sang Anh ngữ là “astonished and to be distressed.” Có nhà giải kinh đã giải thích sự kiện này: “Sự đau đớn quá to lớn như sức nặng nghìn cân đè lên.” Hơn ba năm về trưóc, khi Giê-xu bắt đầu thánh vụ, Ngài đã chiến đấu, kiêng ăn cầu nguyện trong bốn muơi ngày đêm, suốt thời gian dài này, Chúa biết rằng Ngài phải gánh chịu cái án phạt của Thiên Chúa  trên dân sự Ngài.  Chúa đã nói trước với các môn đệ về sự thống khổ mà Ngài phải gánh chịu (Mác 10: 32-34)  “Chén Ta phải uống” (c.38) là nói đến nỗi đau khủng khiếp trong tâm linh Ngài. Chương 14: 34: “Linh hồn Ta đau buồn cho đến chết,”  cho chúng ta biết rằng những giờ phút sắp đến không phải là dịu dàng dễ chịu.  35a: “Chúa sấp mình xuống đất và cầu nguyện.” Thông thưòng, người Do-thái vào đền thờ Giê-ru-sa-lem đứng cầu nguyện.  Tại vườn cây Olive, Chúa sấp mình và cầu nguyện khẩn thiết, Ngài phải tranh chiến giữa ý riêng và ý Cha trên trời. “Nếu có thể được, giờ này qua khỏi con.” (c. 35b)   Đây là giờ đắng cay, giờ của các sỉ nhục, giờ của những nhạo cuời, khinh khi, vô lễ của nhóm lãnh đạo tôn giáo đương thời ném vào thân Ngài. 36: “A-ba” nguyên văn Aramic có nghĩa là “Cha,”  “my Father” chứng tỏ Giê-xu cầu nguyện với Chúa Cha trong ngôn ngữ thân thuộc trong gia đình. Một nhà giải kinh nói rằng “Chúa đã không liên kết các môn đệ trong khi khẩn cầu với Cha, nhưng Ngài chỉ nói đến chính Ngài và Cha, nói lên sự liên hệ thắm thiết giữa Con và Cha trên trời.”   Ý con, ý Cha, chén đắng cay nói về khổ hình, nói về sự trừng phạt về tội lỗi của Chúa Cha trên nhân loại mà Con Ngài phải gánh thế, nhưng cuối cùng Chúa vâng phục ý Cha hoàn toàn, một đầu hàng vô điều kiện với Cha trên trời, “nhưng không theo ý con mà là ý Cha.” (c.36 c) Tại vưòn Ghết-sê-ma-nê, Chúa muốn các môn đệ cùng thức canh và cầu nguyện.  Trong ba lần, khi Chúa trở lại với các môn đệ, Ngài thấy họ vẫn ngủ. (chương 14: 19-31)   Đây cũng là bức tranh về Hội thánh Chúa ngày nay đang ngủ thay vì canh thức và khẩn nguyện, nhưng các con dân Chúa lại ngủ, và khi Chúa trở lại thì có những ngưòi đang ngủ mê mệt. Chúa Bị Bắt Và Kết Án (chương 14: 43-65; chương 15:1-41) Giu-đa Ích-ca-ri-ốt xuất hiện, dẫn quân lính đến bắt Chúa, họ giải Ngài đến trước vị Thượng tế, họ tra hỏi, nhưng Chúa im lặng (E-sai 53:7) 26: 53: “Các con tưởng rằng Ta không thể xin Cha Ta và Ngài sẽ cấp  cho Ta hơn mưòi hai đạo thiên binh sao?”  Từ ngữ "đạo" đây trong nguyên văn là  “Legion” của thời đế quốc La-mã, đây là đơn vị cấp trung đoàn của thời đại ngày hôm nay, có khoảng 3,000-6,000  quân nhân.                                                                                      Số quân lính đến bắt Chúa gồm những người được tuyển mộ từ các chủng tộc khác sống tại Do-thái nhưng họ không phải là ngưòi Do-thái, họ được bổ nhiệm với nhiệm vụ canh giữ dinh của thống đốc  hoặc để bảo vệ khi ông ta đi kinh lý từ Sê-sa-rê đến Giê-ru-sa-lem. Các quân nhân này xem sự bắt giữ Chúa như một màn kịch vui để giải trí. Chương 15: 16-20: Họ chế nhạo, cưòi khinh khi, khạc nhổ trên Ngài, lấy sậy đánh trên đầu Ngài, đấm vào mặt Ngài ( ch. 14:65) và lấy áo mầu đỏ tía như của hoàng đế La-mã mặc cho Ngài, lấy mão đan bằng gai đội lên đầu Ngài và cho rằng Ngài là vua Hellenistic, là một đảng Cách mạng ngưòi Do-thái chống lại đế quốc La-mã.  Thay vì họ giam Ngài vào ngục tù, nhóm giáo phẩm Do-thái xui giục dân Do-thái đóng đinh Ngài trên thập tự giá, một hình phạt của kẻ chiến thắng trong cuộc chiến đối với kẻ bại trận.  Khi ấy, Hoàng đế Augustus ban hành sắc lệnh “The Lex Iula Maiestatis” để đóng đinh. Luật đánh roi của đế quốc La-mã  là một hình phạt vô cùng đau đớn kinh khiếp, tội nhân bị cột vào một trụ cột và bị đánh roi bởi quân lính, Phi-lát áp dụng luật này và sai quân lính đánh đòn Ngài trưóc khi đóng đinh (ch. 15: 15)                                                                                                                                                                                                                                                                                            Địa Danh Gô-gô-tha 15:20: “Sau khi chế diễu, họ lột áo tía ra, mặc áo của Ngài lại và dẫn đi để đóng đinh.” Theo Sử gia Josephus, thông  thưòng, một tội nhân với thân thể trần truồng, vừa vác thập tự giá vừa bị quân lính đánh roi.  Ở đây, trong trường hợp này, vì Chúa đã bị đánh roi trước rồi cho nên tập tục này không áp dụng cho Chúa, bởi vì nếu Chúa vừa vác cây thập tự và vẫn bị quân lính đánh roi thì Chúa sẽ kiệt lực trút hơi thở  trưóc khi bị đóng đinh.   15: 22: “Họ đem Ngài đến một nơi gọi là đồi Gô-gô-tha, nghĩa là đồi Sọ,” đây là một ngọn đồi trọc, có hình dạng tròn trịa.  Giăng 19: 23 “Toán lính đóng đinh Giê-xu  xong, lấy áo Ngài chia làm bốn phần, mỗi ngưòi một phần.  Còn áo trong của Ngài, vì dệt nguyên tấm, không có đưòng may, nên họ bảo nhau: “Đừng xé áo ra nhưng chúng ta hãy bắt thăm xem ai đưọc.”  Như vậy để ứng nghiêm lời  KinhThánh:             “Chúng chia nhau áo xống tôi             Và bắt thăm lấy áo trong của tôi.”  (Thi-thiên 22:18)   Hình phạt đóng đinh trên thập tự giá là một nhục hình dã man nhất.  Theo Sử gia Josephus, lúc bấy giờ, Đế quốc La-mã ban hành sự trừng phạt  đối với các thành phần nổi loạn chống lại với đế quốc.  Theo luật của xã hội Do-thái thì lên án tử hình khi có người lộng ngôn nói mình là Con Thiên Chúa hoặc nguyền rủa Thiên  Chúa, hay là  xưng mình là Messiah thì bị ném đá cho đến chết hoặc mang đi xử tử  rồi bị treo lên thân cây.(Phục.  21:13)   Khi hàng giáo phẩm cao cấp Do-thái xui giục dân chúng đóng đinh Chúa trên thập tự giá, có nghĩa  là họ muốn phô diễn luật Do-thái đối với Giê-xu, vì Ngài xưng là Con Thiên Chúa. Cả hai nhóm ngưòi La-mã và Do-thái đồng thi hành việc đóng đinh Giê-xu trên cây thập tự.  Tội nhân bị đóng đinh vào hai bàn tay và hai bàn chân, đinh dài khoảng 17-18 cm, thập tự giá là gỗ cây Olive.  Thường thưòng chiều cao của thập tự giá  không cao hơn vóc dáng của thân ngưòi, bàn chân gần chạm với mặt đất.  Cái chết đến với tử tội từ từ,  nhưng họ thật quá đau đớn vì các vết đinh đóng, dưới ánh nắng mặt trời quá nóng, họ khát nuớc, sự  sống ngưòi ấy sẽ kéo dài vài ngày.   25: “Vào lúc chín giờ sáng họ đóng đinh Ngài. Bảng ghi án Ngài viết: “Vua dân Do-thái,” nhằm để cáo buộc tội Giê-xu là tội phạm chính trị,  nổi loạn chống lại đế quốc La-mã.    33: “Từ giữa trưa đến ba giờ chiều, tối tăm bao trùm khắp đất.” Các nhà giải kinh cho biết đây là hiện tượng nhật thực kéo dài trong ba giờ. Thời Thượng cỗ, theo triết gia Philo, khi có hiện tượng nhật thực, họ cho là có một nhà vua vừa băng hà hoặc là có sự tiêu diệt một thành phố sẽ xảy đến. Quang cảnh u ám, tăm tối lúc ấy nói lên sự than khóc cho Con-Duy-Nhất. Sự tối tăm xuất hiện giữa buổi trưa cũng nói đến sự rủa sả của Thiên Chúa: “Chúa Cứu-thế đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của  Kinh Luật khi Ngài chịu rủa sả  thay cho chúùng ta vì Kinh Thánh chép:  Đáng rủa sả thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ.” (Phục. 21:23).   34: “Chúa kêu lớn tiếng” Trước khi bắt đầu thánh vụ, Chúa vào nơi sa-mạc.  Cuối cùng của thánh vụ, Giê-xu  vào vườn Ghết-sê-ma-nê và Ngài đã hàng phục Chúa Cha cách trọn vẹn, Ngài chấp nhận  mang lấy sự đoán phạt về tội lỗi của Cha đối với nhân loại.  Mọi rủa sả, thịnh nộ, đoán phạt của Thiên Chúa trút trên thân Ngài. Trong giờ phút đau đớn về thể xác lẫn tâm linh, Giê-xu kêu  thét lên: “Cha ôi!  Sao Ngài lìa bỏ Con!”   Lúc ấy, giữa Cha và Giê-xu có một khoảng cách, vì tội lỗi của nhân loại chồng chất trên thân Ngài.   Con vốn vô tội, thánh khiết giờ này phải mang đầy tội của loài ngưòi.  Tiếng thét giữa buổi trưa tăm tối sao thật kinh hoàng!  Nhưng cũng tiếng thét lớn này là một bảo đảm về giá phải trả của tội lỗi.   Giá Chuộc Tội   37: “Nhưng Giê-xu kêu lên một tiếng lớn rồi  tắt thở.” Tiếng kêu của Chúa không phải là oán hờn, trách cứ, đây cũng không phải là sự từ bỏ nơi Thiên Chúa, vì Ngài có kêu lên: “Thiên Chúa của tôi ơi!”(c.34b) rồi Ngài trút linh hồn. Tiếng thét lớn và tắt hơi của Giê-xu không như là cái chết thông  thưòng của một tử tội bị đóng đinh trên thập tự giá, ngưòi đã  trải qua nhiều giờ đau đớn,  máu huyết tuôn ra, bất tỉnh rồi hôn mê.  Mác ghi lại, cái chết của Chúa đến thình lình, khác hẵn với cái chết của những ngưòi ấ  Đây là cái chết mà Thiên Chúa đặt để trên Con Ngài để chết thay cho nhân loại. 2. Sự chết đây không phải là giá phải trả về tội của Ngài, bèn là cho cả nhân loại.  c.39  Vị Đại đội trưỏng chứng kiến mọi việc từ phút đầu cũng phải xác nhận đây là một cái chết khác thường, và kêu lên rằng “Người này thật là Con của Thiên Chúa.” Giêxu quả thật là Trời đã vào đời, trở nên như một con người, mang lấy một thể xác như chúng ta, Ngài biết đói, khát, Ngài buồn rầu khi thấy dân sự sống trong vòng tội lỗi, dưới ách thống trị của Satan.  Cuối cùng, Giê-xu đã vâng theo ý Cha trên trời để chịu hi sinh chính sinh mệnh mình, chịu đóng đinh trên thập tự giá để làm sinh tế dâng lên Chúa Cha.  Cuối cùng của con đường Gô-gô-tha là sự chết mà Giê-xu đã phải gánh chịu sự trừng phạt của Chúa Cha về tội lỗi của nhân loại trên thân Ngài.  Nhưng sự chết của Giê-xu tại thập tự giá không phải là chấm dứt tại đó.  Đấy là một mở đầu cho sự đắc thắng huy hoàng trước tử thần, đánh tan mọi quyền lực tăm tối của Satan qua sự phục sinh vinh quang của Giê-xu Ki-tô.  Sự khổ đau bắt đầu từ vườn Ghết-sê-ma-nê, nhưng cuối đường thập tự giá là phước hạnh vĩ đại mà Chúa Cứu-thế Giê-xu Ki-tô đã ban cho người thành tâm ăn năn tội và tiếp nhận Ngài làm chủ tể của đời sống mình, để tội lỗi mình được Chúa tha thứ, linh hồn được cứu rỗi. Amen . Hiện nay, Giê-xu đang ngồi bên hữu Chúa Cha, cầm quyền tể trị thế giới.  Mục sư Nguyễn Hữu Ninh