Vietnamese Lutheran Church

  • 0 Thánh Ca

    • by Administrator
    • 14-09-2018

    Love and believe on God forever

  • 0 Video DÂNG LÊN CHÚA LỜI NGỢI CA

    • by Administrator
    • 14-09-2018

    DÂNG LÊN CHÚA LỜI NGỢI CA  

  • 0 Video MỌI SUY TÔN THUỘC VUA

    • by Administrator
    • 14-09-2018

      MỌI SUY TÔN THUỘC VUA 

  • 0 Video TÌNH CHÚA BAO LA - Tố Nữ Đơn ca

    • by Administrator
    • 14-09-2018

    TÌNH CHÚA BAO LA 

  • 0 Ray Kroc – Nhà Sáng Lập McDonald’s

    Ray Kroc là người đã biến McDonald’s từ một nhà hàng thành chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh lớn nhất hiện nay. Gia đình ông không có nhiều tiền nhưng Kroc có một tuổi thơ rất hạnh phúc. Ông thích chơi bóng chày (baseball) và tập đàn piano vào năm 6 tuổi. Khi còn trẻ ông đã có tài buôn bán.   Những cố gắng của ông trong việc kinh doanh là quản lý một gian hàng nước chanh và mở một cửa hàng âm nhạc với những người bạn. Bước đầu này đã hướng Kroc đến con đường trở thành một doanh nhân thành đạt. Năm 1917, Mỹ bước tham gia vào Thế chiến I.  Năm 15 tuổi, ông đã khai gian tuổi để được tham gia Hội Hồng thập tự và tham gia chiến đấu. Ông được đào tạo trở thành một tài xế cứu thương. Nhưng chiến tranh đã kết thúc trước khi ông lên đường. Sau chiến tranh, Kroc kết hôn và có một cô con gái. Để nuôi gia đình mình ông đã làm nghề bán ly giấy cho các nhà hàng. Việc này không níu giữ ông đủ lâu để trở thành một trong những người bán hàng tốt nhất công ty. Ông đã thử các công việc khác như buôn bán bất động sản và chơi đàn piano nhưng rõ ràng buôn bán là việc ông làm tốt nhất. Ông trở lại với công ty ly tách Lily-Tulip và trở thành người quản lý (manager) bán hàng cho khu vực miền Trung Tây. Một trong những khách hàng của ông là chủ của chuỗi cửa hàng kem ở Chicago. Ông đã phát minh là máy có thể trộn năm loại sữa một lúc được gọi là Multimixer. Kroc cố gắng thuyết phục công ty để ông bán máy Multimixer vì ông biết nó là một sản phẩm tuyệt vời nhưng họ thì chẳng hứng thú. Vì thế,  năm 1939, ông đã có một quyết định lớn là nghỉ việc và tạo dựng công ty riêng của ông chuyên bán máy Multimixer cho các nhà hàng và gian hàng kem. Là một người bán hàng xuất sắc, Kroc phát triển công ty mình thành một cơ sở kinh doanh rất thành công. Ông đã xử dụng những chiến thuật như phát minh ra những đồ uống mới làm từ chiếc máy của mình và một thập niên sau đó,  ông đã bán hơn 9,000 máy Multimixer trong một năm tại các thành phố trên cả nước. Đến thập niên 50, Kroc bắt đầu mất đi khách hàng. Người ta đã chuyển từ thành phố vào vùng ngoại ô và đến các nhà hàng lớn thay vì vào các gian hàng kem riêng lẻ. Kết quả là các gian hàng kem thất nghiệp và Kroc không còn khách hàng nữa. Việc kinh doanh của Kroc vẫn hoạt động tại một nhà hàng nhỏ. Nó có tên là McDonald’s tại San Bernardino, California và nó cũng bán máy Multimixer. Kroc đã đi thăm các anh em đang sở hữu nhà hàng đó, Maurice và Richard McDonald năm 1954 và thấy được đây là một nhà hàng nhỏ với nhiều người xếp hàng bên ngoài, đặt (order)  món ăn từ một cửa sổ. Món ăn rất hạn chế, họ chỉ bán burger, khoai tây chiên nước ngọt và sữa lắc.  Nhưng các món ăn được phục vụ  rất nhanh chóng. Kroc nghĩ kinh doanh nhà hàng là một ý tưởng tuyệt vời và ông gợi ý đến các anh em này về việc mở rộng kinh doanh. Các anh em ấy đã từ chối vì họ không muốn gánh thêm trách nhiệm. Thay vào đó, Kroc được nhượng quyền mở chi nhánh nhà hàng. Ba trong số họ đồng ý cho Kroc xử dụng tên McDonald’s và các anh em này sẽ hưởng phần trăm trên doanh thu.   Năm 1955, Kroc bắt đầu với công ty chi nhánh, thuộc hệ thống Công ty McDonald’s. Ông đã khai trương McDonald’s đầu tiên của mình tại Des Plaines vào tháng Tư năm ấy. Anh em nhà McDonald’s đã chỉ ông cách điều hành nhà hàng như họ đã làm, bao gồm cách làm thế nào để chuẩn bị và phục vụ đồ ăn một cách nhanh chóng nhờ vào một hệ thống trong nhà  bếp. Vào ngày đầu tiên khai trương nhà hàng,  Kroc thu vào được 366 đô. Ông đã làm việc thật chăm chỉ tại nhà hàng để bảo đảm nó sẽ mang lại thành công, từ việc nhặt rác phía bên ngoài để giúp nhà hàng trông thu hút và sạch sẽ, đến việc đào tạo nhân viên của mình phải nhớ phẩm chất, sự sạch sẽ và cách phục vụ tất cả đều rất quan trọng. Kroc cũng giúp đỡ những ai khác muốn mở chi nhánh nhà hàng McDonald’s mới. Vào năm đầu tiên, ông đã có 18 chi nhánh và năm 1957 là 40 chi nhánh. Tính nhất quán rất quan trọng với Kroc. Cũng như việc mỗi nhà hàng có tên gọi như nhau, Ông muốn mỗi vị khách đều có cùng kinh nghiệm. Do đó, nhiều điều lệ được đưa ra cho các chủ chi nhánh. Thực đơn phải giống nhau và mỗi món ăn trong thực đơn phải được chuẩn bị theo cách giống nhau, bất kể là vị khách nào ở nhà hàng nào đang dùng bữa ăn. Và có một số chủ chi nhánh đã làm ra tiền nhiều hơn cả Kroc. Bước tiếp theo mà Kroc hướng tới để thành công là thiết lập một công ty bất động sản. Công ty này sẽ mua đất để các chi nhánh có thể thuê lại và mở Nhà hàng McDonald’s. Hệ thống hoạt động này có hai lợi thế chính. Một là Kroc có thể chọn địa điểm cho cửa hàng McDonald’s mới và hai là nó tạo ra cho ông nhiều tiền.   Năm 1960, Kroc đã bán công ty Malt-a-Mixer của mình Và hệ thống Công ty McDonald’s trở thành tổng Công ty McDonald’s. Kroc đã chia xẻ lợi nhuận từ 228 nhà hàng vào lúc này ông đã là chủ nhân với anh em McDonald’s.  Năm 1961, ông đồng ý mua tên bản quyền McDonald’s từ họ với giá 2.7 triệu đô la để dành quyền kiểm soát hoàn toàn công ty. Trong suốt thời gian còn lại của thập niên 60, Kroc bước vào giai đoạn mở rộng cách qui mô nhà hàng ra toàn nước Mỹ đến Canada và Puerto Rico. Ông thi hành các qui tắc nghiêm ngặt tại mỗi nhà hàng để bảo đảm tính nhất quán và phù hợp, nhưng ông vẫn cho phép các chi nhánh đề xuất ý kiến. Năm 1962 tại Cincinnati món Filet-O-Fish đã được thêm vào thực đơn. Năm 1968 tại Pittsburgh món the Big Mac được giới thiệu. Kroc cũng đã nhanh chóng thừa nhận khi ông mắc sai lầm như món Hulaburger được đưa ra chỉ có một miếng thơm nướng và hai miếng phô-mai trên miếng bánh không có thịt. Nó đã không phổ biến và nhanh chóng bị loại khỏi thực đơn. Kroc hướng McDonald trở thành như các nhà hàng gia đình thân thiện, quảng cáo sự thật rằng các nhà hàng của  họ sạch sẽ và giá cả hợp lý để thưởng thức trên TV và tạp chí. Năm 1963, Ronald McDonal đã được giới thiệu như một chú hề vui tươi, và sớm trở thành một trong những nhân vật cho trẻ nhỏ được công nhận trên thế giới, và biểu tượng quảng bá này rất thành công. Một số nhà hàng của ông cũng đưa vào hoạt động những khu vực giải trí mà trẻ em có thể vui chơi để duy trì chủ đề gia đình thân thiện. Năm 1979 ông khai triển  bữa ăn vui vẻ với các cửa hàng McDonald’s. Mỗi bữa ăn có một đồ chơi nhỏ và điều này trở nên rất  phổ biến với trẻ em.  Vì thế,  nó đồng thời trở thành một công cụ quảng bá hiệu quả. Ông liên kết với các bộ phim, chương trình truyền hình hoặc các nhãn đồ chơi. Kroc trở nên rất giàu có từ McDonald, ông đã cống hiến một phần tài sản của mình để làm việc thiện bằng việc đóng góp và các hoạt động từ thiện. Ông gây dựng chương trình Kroc Foundation vào năm 1969 để quyên góp tiền chống lại những căn bệnh như tiểu đường, viêm khớp và đa xơ cứng. Kroc nghỉ hưu với chức tổng giám đốc của tổng Công ty McDonald’s năm 1973 nhưng vẫn giữ hoạt động ở vị trí giám đốc và tiếp tục làm việc cho McDonald’s đến khi ông mất vào năm 1984. Gia tài của ông vẫn tiếp tục đến ngày nay và công ty này đang có hơn 36,000 nhà hàng trên 119 quốc gia. Ý tưởng đơn giản của Ray Kroc về sản xuất thức ăn nhanh, tiện lợi và phù hợp đã thay đổi cách ăn uống của nhiều người mãi mãi. Làm việc một cách chăm chỉ, kỹ năng của người bán hàng và việc luôn quan tâm đến sự đổi mới đã giúp McDonald trở thành một huyền thoại thành công về kinh doanh tuyệt nhất trên thế giới. Bé Đẹp & Ku Búa @ CAFEKUBUA.COM]  Ngy. Uyên hiệu đính Theo ObtainEudaimonia  

  • 0 CON TÀU ĐỊNH MỆNH TITANIC- Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    Đầu thế kỷ XX,  một sự việc đã xảy ra chấn động trên thế giới, đặc biệt có liên quan đến hai quốc gia Anh và Hoa Kỳ.  Trên toàn cầu có bảy kỳ quan và con tàu vĩ đại mang tên Titanic đã được xem là kỳ quan thứ tám cách đây 100 năm.  Để hình dung con tàu khổng lồ Titanic này, quí vị nhìn chiều cao của tàu như một building cao 10 tầng,  175 feet hay 53.3 m.  Chiều rộng của tàu 240 feet, chiều dài 883 feet hay 269 m tương đương với 4 blocks đường tại downtown.  Tàu có sức chuyên chở 2,435 hành khách cộng thêm 392 thủy thủ đoàn và nhân viên.  Trọng tải của tàu 52,310 tấn.  Thời gian đóng tàu kéo dài suốt 3 năm với tổng số nhân công là 14,000  thuộc công ty Hartland & Wolf, Belfast do nhà thiết kế Thomas Andrews đảm trách.  Tổn phí hoàn thành với một kinh phí kếch xù là 7,500,00 Anh kim vào thời kỳ hơn 100 năm trước đây. Ngày 31-3-1911, trước số lượng 100,000 người hân hoan chứng kiến tận mắt kỳ quan thứ 8 của thế giới, Tập đoàn White Star Line đã hoàn thành con tầu RMS Titanic và chủ nhân công ty đã hãnh diện tuyên bố trước giới truyền thông Luân đôn như sau:  “Tàu Titanic không thể nào bị chìm!” Tàu Titanic đã được thiết kế 7 tầng.  Tầng thượng hạng dành cho giới thượng lưu, quí phái, triệu phú.  Tại tầng này có sân chơi quần vợt, phòng tập thể dục, phòng tiếp tân dạ vũ lộng lẫy, có thư viện và nhà hàng thượng hạng.  Cho đến năm 1911, tàu Titanic đã được xem là một kỳ công của con người. Buổi trưa ngày  10-4-1911, tàu Titanic với 2,223 người gồm các hành khách, thủy thủ đoàn và các nhân viên phục vụ trên tàu Titanic đã rời Hải cảng  Southhampton, Anh quốc khởi đầu cuộc hải hành đầu tiên để đến Hải cảng New York City, Hoa Kỳ.   Tại tầng thượng hạng, các du khách là những khuôn mặt của giới quí tộc, thượng lưu, giầu có của Anh và Mỹ quốc.  Họ là những vương tôn, bá tước, công tử, chủ nhân ngân hàng Philadelphia, các kịch sĩ của sân khấu Broadway, New York, là điêu khắc gia, họa sư nổi danh, bác sĩ y khoa. Thuyền trưởng Edward J. Smith, 59 tuổi đã có bề dày 38 kinh nghiệm hải hành.  Tổng số kim cương, hiện kim, vàng bạc nữ trang cộng lại trên 250,000 Mỹ kim thời bấy giờ.  Tàu Titanic chạy suốt ba ngày đầu trên Bắc Đại Tây dương thì không có vấn đề gì xảy ra.  Khoảng 11:40 đêm 14-4-1911 thì tàu va chạm phải khối băng giá khổng lồ.  Trước đây, Công ty White Star Line đã hãnh diện tuyên bố rằng “Tàu Titanic sẽ không bao giờ chìm!”  Giờ đây, con tàu vĩ đại này trở thành một khối sắt vĩ đại đắm mình trong lòng đại dương, hơn hai nghìn hành khách với nỗi kinh hoàng, hãi hùng  kề cận với tử thần.  Chỉ không đầy nửa giờ ngắn ngủi, nước biển tràn vào thân tàu, vì tảng băng giá đã chọc thủng vỏ tàu bằng kim loại. 12:45am, những chiếc thuyền nhỏ cứu sinh (live boat) được thả xuống, những phụ nữ, trẻ em được thuyền trưởng ra lệnh cho xuống trước. 1:30am, tín hiệu SOS từ tàu Titanic đã được gửi đi trong đêm khuya: “Tàu chúng tôi đang bị đắm nhanh!”   Lúc 2:30 sáng, tàu Titanic bị vỡ làm hai, một phân nửa tàu với 1,500 hành khách dần dần chìm xuống lòng đại dương.  Tàu Titanic chỉ có 65 thuyền cứu sinh nhỏ, tai họa xảy đến đã được xem là một tấn thảm kịch lớn nhất trong ngành hàng hải quốc tế. 8:30am ngày hôm ấy, những người sống sót ngồi trong thuyền cứu sinh trôi lênh đênh trên biển cả.  Sau nhiều giờ dài dằng dặc suốt cả đêm bị lạnh buốt và cho đến giờ phút ấy, số người này đã được thuyền trưởng của Thương thuyền Carpathia đến cứu vớt và tất cả các hành khách lần lượt được cứu mạng.  Tổng số người được cứu sống là 705 người. Đọc về câu chuyện Tàu Titanic, tôi nhận ra rằng các điều sau đây: Con người từ cổ chí kim, trải qua mọi thời đại luôn luôn tự phụ kiêu hãnh về tài năng của mình. Trong Thánh Kinh, sách Sáng.  11: 1-9 đã ghi lại câu chuyện sau đây:  “Bấy giờ cả thế giới chỉ có một ngôn ngữ, và cùng một thứ tiếng.  Khi đi về phương đông, người ta gặp một thung lũng bằng phẳng trong xứ Si-na nên định cư ở đấy.  Họ rủ người lân cận: "Nào, ta hãy làm gạch và lấy lửa nung cho chín!" Lúc đó, người ta dùng gạch thay cho đá và nhựa chai thay vôi hồ. Họ lại nói: "Nào, chúng ta hãy xây một thành và một ngôi tháp ngọn cao tận trời. Chúng ta hãy lưu danh mình kẻo bị tản lạc khắp mặt đất!"  THIÊN CHÚA ngự xuống quan sát thành và ngôi tháp các con cái loài người đang xây cất.  THIÊN CHÚA phán: "Kìa, toàn thể loài người chỉ có một dân tộc, một ngôn ngữ. Kìa chúng đang khởi công làm việc này, nay không còn gì ngăn cản chúng làm mọi điều chúng hoạch định nữa.  Nào, Chúng Ta hãy xuống xáo trộn ngôn ngữ của chúng, làm chúng không thể nào hiểu tiếng nói của nhau được."  THIÊN CHÚA phân tán loài người từ nơi đó ra khắp mặt đất, và họ ngưng xây cất thành này.  Vì thế, thành ấy mang tên là Ba-bên, vì tại đấy THIÊN CHÚA làm xáo trộn ngôn ngữ cả thế giới và Ngài phân tán họ ra khắp mặt đất.” Con người trong thời tối thượng cổ 4,000 năm trước Công nguyên đã họp nhau và hoạch định  xây một tháp cao tầng.  Họ là những kiến trúc sư tài ba, là những tay thiết kế lỗi lạc.  Từ trên cao, Thiên Chúa đã nhìn thấy công trình của họ  Ngài bèn ra tay hành động  bằng cách “làm xáo trộn ngôn ngữ” để họ không thể hiểu nhau.  Thế là công trình kiến trúc phải bỏ dỡ nửa chừng và bất thành. Trở lại câu chuyện Tầu Titanic, đầu thế kỷ XX, con người tài ba đã tự hào về tài năng qua công trình xây Tàu Titanic thật vĩ đại nhưng rồi cũng không qua khỏi bàn tay tể trị của Thiên Chúa Tối cao.  Những khối băng giá giữa biển cả đã đâm thủng vỏ tầu Titanic và cắt đôi con tàu sắt vĩ đại nói trên.   Khi Tàu Titanic đang chìm dần xuống lòng đại dương thì mọi hành khách gồm giới bình dân lẫn thượng lưu đều có tâm trạng giống nhau: họ đều đối mặt với thần chết, tất cả đều kinh hoàng như nhau và ai ai cũng đều mong ước có người ra tay cứu vớt họ thoát cảnh chết trong lòng biển. Thưa quí vị: Đời người được ví sánh sống trong bể khổ trầm luân, chúng sinh trong trần thế thật khổ ải, nước mắt chảy ra đầy tràn như nước bể cả.  Chúng sinh muốn thoát ra khỏi bể khổ ải bằng phương cách tự cứu như tu thân tích đức, làm lành lánh dữ  để mong được sự cứu rỗi qua việc làm thiện lành của mình.  Tuy nhiên, tất cả những cách thức này đều vô vọng, giống như các hành khách trên Tàu Titanic:  có người cậy vào sức khỏe, từ Tàu Titanic, họ phóng mình xuống biển và bơi nhưng chỉ 10, 20 phút sau,  vì nước biển quá lạnh -2 độ Centigrade và cũng vì đuối sức, thân thể anh ta dần dần chìm xuống giữa lòng biển khơi.  Có những người khác được có phao cứu sinh thì bơi trong bể cả, nhưng vì nước lạnh quá, trải qua nhiều giờ trong biển rồi lưỡi hái tử thần cũng đến.  Một số người khác ngồi trên các các thuyền cứu sinh trôi lênh đênh trên đại dương, họ hứng  chịu những cơn gió lạnh thổi qua thấu xương, chịu đói chịu khát từ 1 giờ khuya đến 9 giờ sáng ...   Khi tàu Titanic lâm nạn thì  tàu Carpithia cách xa đến 57 hải lý.  Khi tín hiệu cấp cứu Morse SOS vang lên thì Tàu Carpithia phải xả tốc lực 14 hải lý cho mỗi giờ. Khi  Thương thuyền Carpithia cứu mạng đến,  Thuyền trưởng Arthur H. Rostron ra lệnh cho thủy thủ đoàn cứu vớt họ từ các thuyền cứu sinh rồi mang từng người một lên trên chiếc tầu to lớn hơn.  Nơi ấy, họ được cho mặc áo quần ấm, quấn chăn mền, được cho ăn súp nóng, uống cà phê, trà bánh, sữa..    Ngày nay, có nhiều người cố công  tìm mọi phương tiện, có người phải bỏ ra tiền bạc để mua sự cứu rỗi, có người cố công ra sức, bôn ba tự cứu, tự giải thoát bằng những phương cách khổ tu diệt dục để mong đạt cứu ân.  Tuy nhiên, trước mắt Thiên Chúa là Đấng Tối Cao là Đấng Sáng tạo vũ trụ là Đấng tạo sinh con người thì mọi phương cách của con người đều bất lực vô phương tự cứu tương tự như các hành khách của chuyến tàu định mệnh Titanic.  Phải có một vị thuyền trưởng nhân ái, phải có một đoàn thủy thủ hùng hậu ra tay cứu vớt những người đang trôi lênh đênh trên biển cả.  Nếu những hành khách này không gặp được Thương thuyền Carpathia thì số phận họ cũng giống như hằng trăm nghìn thuyền nhân người Việt sau năm 1975 đã mất mạng sống trên biển cả khi họ đi tìm sự tự do tại một quốc gia thứ ba.  Không một ai có thể tự cứu lấy mạng sống mình trên biển cả sau khi bị phong ba bảo tố thổi bay hết thực phẩm, nước uống, họ bị đói khát dưới sức nóng như thiêu nhiều ngày, nhiều tuần lễ  dù  có nhiều thương thuyền đã đi qua  nhưng  không dừng lại. Trong câu chuyện Tàu Titanic, chúng ta thấy hình ảnh của vị Thuyền trưởng nhân ái Arthur H. Rostron của Tàu Carpithia.  Ông sẵn sàng đón tiếp các hành khách sống sót của tàu Titanic lên tàu Carpithia.   Ông không cưỡng bách một ai phải lên tàu Carpithia, và dĩ nhiên nếu có một ai nào đó từ chối lòng tốt của vị thuyền trưởng nói trên thì họ sẽ đón nhận cái chết đến với mình mà thôi.   Tấm lòng vị tha của Thuyền trưởng Arthur H. Rostron rất tỏ tường, các hành khách chỉ cần đưa đôi tay tiếp nhận ơn cứu sinh của thuyền trưởng thì được các thủy thủ cứu thoát khỏi cái chết trên biển cả. Trong các câu chuyện thật kể lại và Hollywood đã thực hiện phim ảnh ghi lại các hình ảnh thật sự cảm động:  những khuôn mặt đầy nét mừng rỡ, hân hoan vì họ nghĩ mình phải chết mất  nay được sống mà không phải mất tiền bạc nữ trang  để mua. Trước cảnh trạng nhân loại đang trổi nổi trên bể khơi của trần gian để rồi cuối cùng lâm cảnh hư vong.   Thiên Chúa từ trời cao đã thương yêu nhân loại đến độ  ban cho Con Duy Nhất làm  phương cách cứu sinh:  Giê-xu từ trời giáng thế và Ngài nhập thể trở thành người để thi hành kế hoạch cứu ân cho nhân loại.  Để “ai tin đến Danh Giê-xu thì được sự sống vĩnh phúc.”  Phúc âm Giăng 3: 16. Câu chuyện Chúa Ngôi Hai – Đức Giê-xu nhập thế là câu chuyện tình yêu Thiên Chúa đối với con người hư vong.  Sự cứu rỗi của Thiên Chúa là món quà tặng vô giá ban cho con người.  Để được thoát khỏi cảnh chết trầm luân nơi biển đời, con người chỉ cần đưa ra đôi tay để tiếp nhận món quà ấy để được Thiên Chúa tha thứ tội lỗi và linh hồn được sống nơi vĩnh phúc...  Amen  

  • 0 Tự Do Trong Chúa Hay Bản Hiến Chương Cơ Ðốc Giáo - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    Ðọc Kinh Văn:  Ga-la-ti 5: 1-12 Câu Gốc: Ga-la-ti 5:1   “Ðấng Ki-tô đã giải thoát  chúng ta để chúng ta được tự do nên hãy vững mạnh.  Ðừng mang ách nô lệ dưới luật pháp nữa.”     Bản Tuyên ngôn Ðộc lập của Hoa kỳ đã được soạn thảo bởi Thomas Jefferson gồm có các điều khoản chống lại chế độ thống trị của Anh quốc, mọi kiểm soát về kinh tế, thương mại và chính trị do Hoàng đế George III đặt để trên 13 tiểu bang thuộc địa của Anh quốc.  Bản dự thảo này đã được các vị Benjamin Franklin, John Adam hiệu đính ngày 28-6-1776 và đem trình bày trưóc Quốc hội Hoa kỳ ngày 2-7-1776.   Quốc hội Hoa kỳ họp tại Philadelphia chấp thuận bản Tuyên ngôn Ðộc lập vào ngày 4-7-1776.  Bản Tuyên ngôn Ðộc lập này có câu:  “Mọi ngưòi đều bình đẳng dưới Ðấng Tạo hóa ban cho có quyền sống, tự do và đeo đuổi hạnh phúc…”   Tuyên ngôn Ðộc lập ngày 4-7-1776 công bố cho dân  chúng trong 13 thuộc địa được tự do, độc lập.   Tự do là gì?  Muốn hiểu rõ ý nghĩa của sự tự do thì những ai đã từng sống trong cảnh “cá chậu chim lồng” hẵn tất nhiên hiểu rất rõ của từ ngữ này!  Những ai đã từng sống bên trong hàng song sắt  hay cánh cửa của nhà tù thì hẵn biết nỗi ao ưóc khát khao được hít thở không khí tự do ở bên ngoài ngục tù là như thế nào! Như cá thèm được tung tăng bơi lội trong giòng sông, như chim mặc sức cất cánh bay trong không gian bao la.  Ðó là tự do!   “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” nói đến tâm trạng của ngưòi bị giam cầm trong ngục tù một ngày mà  như là một nghìn mùa thu dài ngoài kia.  Tự do thật cao quí mà mọi ngưòi đều khát khao, nhất là đối với các dân tộc bị thống trị bởi các thế lực ngoại bang.  Trong lịch sử của nhân loại, chúng ta đọc được nhiều thiên anh hùng ca do các anh hùng liệt sĩ hi sinh và đứng lên khởi nghĩa làm các cuộc kháng chiến cách mạng  hầu dành được sự độc lập tự do cho dân tộc mình.   Trong thế kỷ XX đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giải phóng chống lại các đế quốc và chủ nghĩa thực dân .  “Một nghìn năm nô lệ giặc Tầu, một trăm năm nô lệ giặc Tây”  (lời của Trịnh Công Sơn)  nói lên thảm trạng của dân Việt sống trong thân phận nô lệ đau khổ.   Trên bình diện tâm linh, nhân loại đã không chỉ bị làm nô lệ dưói ách thống trị của Satan một trăm năm hay một nghìn năm, nhưng từ buổi sáng thế!  Ðấng Giê-xu Ki-tô từ ngôi Trời cao đã vào cuộc đời này để giải phóng con ngưòi thoát khỏi ách kềm kẹp của Satan qua sự hi sinh chính sinh mệnh của Ngài tại Thập tự giá.  Chính huyết báu của Chúa Ngôi Hai có năng lực để ban cho con ngưòi ơn tha thứ.  Qua sự phục sinh vinh hiển, Ngài đã chiến thắng vẻ vang trên sự chết và Satan. Giê-xu Ki-tô đã thật sự giải phóng nhân loại và ban sự tự do cho những ai tin nhận Ngài làm Cứu-Chúa của đời mình.      Thư Ga-la-ti chương 5 đã được xem là Bản Hiến Chương của Ki-tô giáo  tuyên bố nguời Do-thái nói riêng và tất cả con dân Chúa được giải phóng khỏi sự trói buộc của Kinh luật Môi se suốt hằng thế kỷ dài, vì khi Ðấng Ki-tô vào đời, Ngài đã ban cho họ sự tự do trong Chúa bởi ân phúc.  Từ ngữ “giải phóng”  (to liberate)  nói đến sự giải cứu và phóng thích.   Một ngưòi đang bị tù tội trong gông cùm xiềng xích, nhưng được một người có quyền lực mạnh mẽ (powerful) đến và phá tan xiềng xích để giải cứu anh ta ra khỏi ngục tù.   Chúa Giê-xu Ki-tô là Ðấng Giải phóng thật và có quyền lực vô song để giải cứu con ngưòi.   Các tân tín hữu tại Hội thánh Ga-la-ti được tự do trong Chúa, nhưng họ không thể sống vô luật.  Khi còn là người nô lệ, ngưòi ấy không thể là chủ nhân, vì mọi hành động của họ bị canh giữ, quan sát bởi ngưòi chủ của mình.  Sau khi được giải phóng khỏi Kinh luật Môi-se, ngưòi ấy sống trong tự do, và ân phúc Chúa ban cho như món quà tặng, giờ đây ngưòi ấy bước đi trong sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh.    Có một câu chuyện đã được kể lại rằng sau khi nghe Phúc âm, một người trưóc kia sống la cà nơi các quán rượu và  sòng bài, theo các bạn bè xấu làm những việc tồi tệ, tống tiền giựt dọc, tuy nhiên, sau khi anh trở nên con của Chúa thì nếp sống cũ kỹ đã được Chúa Thánh Linh biến đổi 180 o.  Các bè bạn cũ nhìn anh với vẻ thương hại: -  “Sao anh cứ đọc Thánh Kinh, đi nhà thờ, thật là chán quá!“  Họ muốn nói rằng anh sống thì cứ hưởng thụ, dù cho sống bê tha trụy lạc, bỏ bê vợ con nheo nhóc, mà đời sống “tứ đổ tường” thì “vũ như cẫn” (vẫn như cũ)…   Anh ôn tồn nói với số bè bạn rằng “Các bạn ơi!  Trưóc kia tôi là nô lệ của Satan, tôi đã từng sống khổ sở dưới sự kềm kẹp của ma quỉ để làm các điều tồi tệ.  Cảm tạ Chúa, Ngài đã giải phóng tôi khỏi nếp sống cũ kỷ, giờ đây tôi trở nên con Chúa, hằng ngày tôi bước đi theo sự hưóng dẫn của Chúa Thánh Linh, tôi có Lời Chúa là kim  chỉ nam trong nếp sống đạo.  Giờ đây, tôi không thấy thú vị khi hút xách, cờ bạc, rượu chè be bét như ngày xưa. Các bạn ơi !  Tôi muốn uống rượu, bài bạc hay trộm cắp bất cứ lúc nào tôi muốn… nhưng nay tôi sống không phải là tôi sống nữa, vì Chúa sống trong tôi.  Chúa đã cất lấy những cái “tôi muốn” đó cả rồi!”  Thưa quí vị! Sau khi chúng ta đã được Chúa giải phóng, nay được tự do trong Chúa, nhưng không có nghĩa là chúng ta lạm dụng sự tự do để làm mọi điều đâu, và nhất là chúng ta không quay trở về nếp sống cũ như xưa nữa!        Các tín hữu Do-thái tại Hội thánh Ga-la-ti đã gặp nan đề:  sau khi tin Chúa  họ bị các giáo sư giả len lõi vào bên trong Hội thánh và rỉ tai tuyên truyền rằng chỉ tin vào Chúa không chưa đủ,  họ phải vâng giữ mọi Kinh luật của Môi-se…  Tin tức này đến tai Phao-lô, là một cha thuộc linh, ông yêu thưong các tín hữu tại Ga-la-ti.  Nhờ ơn Chúa Thánh-linh, ông đã viết bức thư Ga-la-ti để khuyên nhủ các con thuộc linh của mình qua thư Ga-la-ti.   Phao-lô khích lệ họ hãy vững vàng trong niềm tin, đừng thối lui mà             quay trở về với ách nặng nề của Kinh luật Môi-se  để vâng giữ các điều luật quá ư nặng nề khắt khe mà họ không thể nào vâng giữ trọn vẹn, nếu họ có giữ mọi Kinh luật đến 99% mà có 1% không giữ được thì cũng hõng cả thôi!    Sau thế chiến II, Hitler và quân Ðức quốc xã bại trận và bị chia đôi:   Ðông Ðức bị chế độ độc tài Cọng sản vô thần cai trị nhưng dân Tây Ðức thì sống dưới chính thể dân chủ tự do.  Một bức tường  ô nhục đã được chánh quyền Ðông Ðức dựng lên để ngăn chận các làn sóng dân Ðông Ðức đi tìm tự do bên Tây Ðức.  Có người đã cố bơi qua dòng sông giữa mùa Ðông lạnh lẽo.  Có nhiều ngưòi đã vượt leo lên bức tường ngăn cách để qua phần lãnh thổ Tây Ðức và họ đã bị các toán lính canh Ðông Ðức nổ súng bắn tử thương.  Lại có ngưòi tổ chức vượt thoát bằng khinh khí cầu, lần thứ nhất bị thất bại, họ vẫn không nãn chí, họ tổ chức lần nhì thì thành công.    Sau đây là câu chuyện thật trong tác phẩm “Berlin Tunnel 21” kể lại câu chuyện các ngưòi dân tại Ðông Ðức đi tìm tự do.  Tác phẩm  này kể lại rằng có các gia đình sống dưói chế độ độc tài Cọng sản vô thần tại Ðông Ðức tổ chức vượt thoát bằng cách đào đưòng hầm xuyên qua ranh giới của bức tưòng ô nhục và trổ lên tại phần đất Tây Ðức tự do.  Trải qua nhiều tháng dài, các ngưòi nam và nữ, khi đêm đến họ xuống basement và bắt đầu đào con đưòng hầm, có toán ngưòi đào đất để làm con đưòng hầm  thì có các toán khác chuyển đất và mang đất đi đổ ở một nơi thật xa phía trên.   Họ đã làm công việc này trong điều kiện khó khăn và gian khổ, đôi khi đất phía trên của đưòng hầm bị sụp và ống nước bị vở tạo nên bùn lầy, khiến cho công tác đào đưòng hầm rất vất vả.  Thế rồi, cả năm sau, đường hầm này được hoàn tất.  Họ chia ra làm hai toán gồm có ngưòi lớn và trẻ em, mỗi toán do một ngưòi can đảm biết rõ đưòng đi nước bước và họ hẹn gặp nhau tại một tụ điểm ở phần đất tự do Tây Ðức.    Trong chuyến vượt thoát này cũng chẳng phải là hanh thông, bởi vì khi đoàn ngưòi đi trong đêm tối họ đã bị  tường đất đổ xuống đè chết một vài ngưòi.  Sau những giờ phút căng thẳng, hồi hộp nghẹt thở vì e sợ các toán lính canh Ðông Ðức phác giác thì mạng sống họ như “chỉ mành treo chưông.”  Các toán ngưòi đi tìm tự do cuối cùng đi xong con đường hầm dẫn đến một toà nhà phía trên thuộc vùng đất tự do Tây Ðức.   Bấy giờ, tất cả mọi ngưòi đều thở phào nhẹ nhõm, vì biết rằng giờ đây họ đang ở trong lãnh địa Tây Ðức.  Họ thật sự được hít hở không khí tự do.   Tất cả mọi ngưòi dân Ðông Ðức này không có một ai có lòng muốn quay trở về lại phần đất Ðông Ðức nữa!