• 0 Thánh Lễ Kỷ Niệm Đức Giê-Xu Giáng Thế - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    Thánh Lễ Kỷ Niệm Đức Giê-Xu  Giáng Thế   Các tín hữu trong kỷ nguyên I đã cử hành Thánh lễ mừng Đức Giê-xu Giáng thế như thế nào?   Thành thật mà nói, Tân Kinh (New Testament) đã không ghi lại. Trong thế kỷ I, các tín hữu chỉ tưởng niệm sự thống khổ của Đức Giê-xu và hân hoan mừng kỷ niệm Đức Giê-Xu Phục Sinh vinh hiển!  Lễ này đã được cử hành có liên quan mật thiết với lễ Vượt Qua của người Do-Thái.  Ngày Đức Giê-Xu sống lại, là sau ngày thứ Bảy, đấy là ngày Chúa nhật, ngày của Chúa. Truy tìm dấu vết cổ xưa nhất thì ngày đại lễ mừng Chúa Ngôi Hai Giáng thế khởi đầu từ thế kỷ IV. Về sau này, giáo hội thiết lập thêm các ngày lễ khác nhau trong suốt cả năm, trong đó  có lễ Giáng Sinh. Dần dần lễ Giáng Sinh lan rộng khắp nơi trong Đế quốc từ Tây sang Đông phương. Thánh Phan-xi-cô thành Asissi cùng với việc làm hang đá Giáng Sinh, đã đánh dấu bước thứ nhất phát triển quan trọng cho việc mừng đại lễ. Thánh sử không kể chi tiết về câu chuyện Đức Giê-xu Giáng Sinh nhưng chỉ đơn sơ nói về cuộc hành trình của Giô-sép và Ma-ri trở về quê hương là tiểu thôn Bết-lê-hem. Rồi một hài nhi được sinh ra, đặt nằm trong máng cỏ, nơi vốn dành cho các con cừu. Chi tiết này được Thánh Lu-ca nhắc đi nhắc lại ba lần: “một hài nhi bọc trong khăn đặt nằm trong máng cỏ.” (Chương 1: 6,12,16).  Điều này giúp chúng ta thấy đây là yếu tố then chốt để hiểu toàn bộ câu chuyện.   Hài nhi Giê-xu ấy, khi được sinh ra, không như bao trẻ em khác nhưng trong hoàn cảnh thật khác biệt.  Ngay cả với các mục đồng nghèo thì ít ra các mục đồng cũng có căn lều của riêng họ. Tuy nhiên, đêm Con Trời giáng thế, Ngài không có một mái nhà. Hài nhi Thánh Giê-xu đã được đặt nằm trong máng cỏ chuồng chiên...   Câu Chuyện Thiên Chúa Ngôi Hai Giáng Thế  Thiên Chúa đã để câu chuyện kỳ diệu này xảy ra tại vùng đất Do-thái trong thời trị vì của Đại đế La-mã Augustus.  Lúc ấy, lá cờ của Đế quốc La-mã tung bay trên bầu trời Thủ đô Giê-ru-sa-lem. Đây không là câu chuyện xảy ra cách ngẩu nhiên mà là một sự chuẩn bị từ buổi sáng thế của Thiên Chúa. Câu chuyện Thiên Chúa Ngôi Hai giáng thế  khởi nguồn từ gốc rể của lịch sử nhân loại với những nhân vật có thật đã hiện hữu trong không gian và thời gian.  Mỗi một chi tiết về sự giáng thế, sự đau đớn, sự chết và sự sống lại của Đức Giê-xu đều đã được các tiên tri dự ngôn nói trước về nơi chốn và kỳ diệu thay, tất cả những điều này đã được ứng nghiệm.  Và tất cả câu chuyện Đức Giê-Xu giáng thế đều được tìm thấy trong Thánh Kinh. Quyển Thánh Kinh có 66 quyển chia làm hai phần: Cựu và Tân Kinh.  Cựu kinh có 39 quyển đã được viết trước khi Đức Giê-Xu giáng thế. Tân Kinh gồm có 27 quyển ghi chép về mục vụ của Đức Giê-Xu và sự phát triển của Cơ-đốc giáo trong thế kỷ đầu tiên.  Bốn sách Phúc âm là Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng trong Tân Kinh.  Mỗi quyển đã trước thuật về đời sống và thánh vụ với những lời giáo huấn của Đức Giê-Xu. Mỗi trước giả có cái nhìn với chiều kích khác nhau, khi chúng ta tổng hợp bốn chiều kích này lại sẽ thấy một bức tranh thật toàn hão về Đức Giê-Xu. Phúc âm Ma-thi-ơ và Lu-ca ghi lại về câu chuyện Chúa Ngôi Hai từ trời giáng thế. Trước hết, Ma-thi-ơ ghi lại gia phả của Đức Giê-Xu trở ngược  đến tổ phụ Áp ra ham, là vị cha già của dân tộc Do-thái, từ đó nẩy ra chi tộc Giu-đa, có Đa-vít là hoàng đế của Do-thái. Ma-thi-ơ ghi lại câu chuyện có một thiên thần xuất hiện báo tin cho Giô sép và Vua Hê-rốt  phản ứng trước tin có một vị vua dân Do-thái sắp ra đời.  Ma-thi-ơ viết cho độc giả người Do thái và câu chuyện Đức Giê-Xu giáng thế, đời sống và thánh vụ của Ngài đã được ứng nghiệm đầy trọn từ các lời dự ngôn của các tiên tri trước đó hằng 800 năm. Có chín lần Ma-thi-ơ đã trích ra những lời dự ngôn trong Cựu Kinh  “để làm trọn sự ứng nghiệm”.  Ma-thi-ơ đã trình bày một bức chân dung - sự giáng thế, đời sống, lời giáo huấn, sự chết và sự phục sinh của Đức Giê-Xu - là một ứng nghiệm tuyệt hão về những lời tiên tri ấy! Phúc âm Lu-ca có cái nhìn khác:  Lu-ca ghi lại sự giáng thế siêu nhiên của Đức Giê-Xu. Ông cung cấp những sự việc diễn ra về những gì Đức Giê-Xu đã thực hiện và dạy dỗ.  Lu-ca viết cho người ngoại quốc, đặc biệt cho giới nghèo khổ. Lu-ca hướng về các gã mục đồng thuộc giới bần cùng.  Lu-ca ghi lại câu chuyện Đức Giê-Xu giáng thế thật nhiệm mầu, về trinh nữ Maria, về muôn vàn thiên binh xuất hiện trong bầu trời đêm báo tin cho các mục tử đang thức canh giữ bầy chiên. Ma-thi-ơ thì nhấn mạnh về vương quốc của Thiên Chúa, hình ảnh Đức Giê-Xu là vị vua, câu chuyện có ba nhà thông thái giầu có từ phương Đông đến viếng thăm một vị vua mới ra đời với các món quà như vàng, nhủ hương và mộc dược.  Hai trước giả Mác và Giăng  ghi lại về đời sống và thánh vụ của Đức Giê-Xu. Mác không ghi câu chuyện Đức Giê-Xu giáng thế và Trinh nữ Maria.  Mác có mục tiêu hướng đến số độc giả thuộc xã hội người La mã trong thế kỷ I.  Giăng có cái nhìn theo chiều kích khác: Sự giáng thế của Đức Giê-Xu là từ Thiên thượng.  Không giống như mọi người khác khởi đầu sự sống khi chào đời,  Giăng mô tả Đức Giê-Xu vốn đã hiện hữu  từ trước buổi sáng thế, Ngài là Logos, (Word) Ngài ở cùng Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa.  Nay “Logos –Word trở thành xác thể.”  Phúc âm Giăng chương 1.  Giăng viết, “Logos đóng trại và ở cùng chúng ta”   Giăng nhấn mạnh đến khía cạnh Thần tính của Đức Giê-Xu – Con Trời trở thành xác thể, Ngài là ánh sáng tỏa rực soi giữa bầu trời tối tăm của trần thế. Bốn quyển Phúc âm ghi lại bốn cạnh của Đấng Con Trời với bốn lăng kính khác nhau. Nếu chỉ đọc một Phúc âm thì chúng ta chỉ thấy một phương diện của Đức Giê-Xu chứ không thể thấy toàn diện về Đức Giê-Xu.  Vì mỗi trước giả ghi lại một phương diện đặc biệt - Trinh nữ Maria - Một Đấng Cứu-Tinh được sinh ra -  Một vị Vua được sinh ra vinh hiển - Thiên Chúa ở cùng chúng ta (Emmanuel). Ngày Sinh Của Đức Giê-Xu Đối với các tín hữu đầu tiên cũng như thời đương đại, ngày lễ quan trọng nhất của Cơ-đốc giáo, đấy là lễ Phục Sinh!  Thánh lễ kỷ niệm Đức Giê-Xu sau khi Ngài đã được an táng trong huyệt mộ và Ngài đã sống lại. Hiện nay, ngày 25 tháng 12 là ngày trên toàn thế giới  kỷ niệm một sự kiện có thật của lịch sử, sự kiện Con Đức Chúa Trời giáng thế làm người, để hoàn thành sứ mạng cứu rỗi nhân loại. Tại Sao Lễ Giáng Sinh Được Cử Hành Ngày 25-12 ?   Các nhà nghiên cứu cho biết rằng ngày lễ này thật ra là một sự thay thế của Giáo hội La-mã Công giáo (Roman Catholic) cho ngày Đông chí của người ngoại đạo. Khởi từ Giáo đường Rome, Ý-đại lợi, lễ Giáng Sinh bắt đầu lan sang các nhà thờ khác ở phía Tây và phía Đông trong Đế quốc La-mã. Khi Cơ-đốc giáo được hợp thức hóa vào khoảng đầu thế kỷ IV, Giáng sinh bắt đầu được tổ chức thường xuyên và đều đặn. Thực ra trong ba thế kỷ đầu tiên, không có bằng chứng xác thực nào ghi ngày tháng khi Đức Giê-xu sinh ra.   Trong suốt hơn 300 năm, Cơ-đốc giáo đã bị bách hại tàn khốc suốt 10 đời trị vì của các vị vua La-mã. Sau khi Hoàng đế Constantine I cải đạo từ đa thần giáo sang Cơ-đốc giáo, Tháng February năm 313, Hoàng đế La Mã Constantine I ký Sắc lệnh Milan (Edict of Milan) hợp thức hóa Cơ-đốc giáo trở thành hợp pháp và phổ thông (Catholic) trong toàn Đế quốc La-mã. Ông cho hủy bỏ lễ thờ Thần Mặt trời. Những người đứng đầu Giáo hội tại Vatican đã phải đối mặt với một ngày lễ của người La-mã ngoại giáo. Đấy là ngày “Sinh nhật của Thần Mặt trời Bất bại” (Dies natalis solis invicti) – tên mà người La-mã gọi ngày Đông chí. Vào mỗi mùa đông, người La-mã ngoại giáo đều có lễ hội tôn vinh thần Saturn, hay Thần Nông. Lễ hội này bắt đầu vào ngày 17 tháng 12 và thường kết thúc vào khoảng ngày 25 tháng 12 với một lễ kỷ niệm ngày Đông chí để mừng khởi đầu năm mới. Đây là thời điểm mọi người vui chơi, gia đình và bạn bè sẽ cùng nhau trao đổi quà tặng. Đồng thời, Mithra – tín ngưỡng thờ thần ánh sáng của người Ba-tư cổ đại – cũng rất phổ biến trong quân đội La-mã thời ấy, và họ cũng tổ chức một số nghi lễ quan trọng nhất vào ngày Đông chí. Sau khi Cơ-đốc giáo được nhà vua Đế quốc La-mã công nhận, những người đứng đầu Giáo hội tại Vatican đã nỗ lực để dành lấy các ngày lễ Đông chí.  Làm như thế để giúp những tân tòng chuyển đổi từ ngoại giáo sang La-mã Công giáo (Roman Catholic) trở nên dễ dàng hơn.  Thêm vào đó, khi Giáo hội La-mã Công giáo hợp thức hóa lễ kỷ niệm sinh nhật Đức Giê-Xu vào ngày 25 tháng 12 thì Vatican có lập luận: Vì thế giới được tạo dựng vào ngày xuân phân (cuối tháng 3) nên Đức Giê-Xu cũng được Chúa Cha cho thụ thai trong lòng Trinh nữ Maria vào ngày này, và chín tháng sau đó, Ngài ra đời trong ngày Đông chí (chỉ là bịa đặt). Như thế, ngày 25 tháng 12 từ đó được trở thành ngày lễ mừng sinh nhật của Đức Giê-Xu. Trong quyển niên giám của La-mã Công giáo lâu đời nhất có ghi lại về việc cử hành lễ Chúa Giáng Sinh vào năm 336 tại Giáo đường Rome sau Công nguyên. Từ thời điểm ấy, các giáo dân La-mã Công giáo  đã kỷ niệm Chúa Giáng Sinh vào ngày 25-12. Người La-mã còn thêm các nghi lễ Đông chí khác của người ngoại đạo vào lễ Giáng Sinh, chẳng hạn như việc đốt các khúc gỗ (Ylue log) hay việc trang trí với cây xanh của các bộ tộc người Đức (German). Từ ngữ “Christmas” trong tiếng Anh bắt nguồn từ nhóm chữ “Cristemasse” trong  cổ ngữ Anh thời Trung cổ , “Criste” là “Christ” (Đấng Messiah - Đấng được Xức dầu) -  “Masse”  La-tinh ngữ có nghĩa là “Mass” – cử hành thánh lễ Thánh Tiệc – Eucharist. Thời Trung cổ, có một vị thánh nổi tiếng là Thánh Nicholas của thành Myra (St. Nicholas of Myra) – người luôn đến thăm trẻ em với những món quà cùng những lời khuyên nhủ ngay trước thềm Giáng Sinh. Thời hiện đại, nhân vật này đã được phát triển thành Ông già Noel – người chuyên tặng quà cho trẻ em vào lễ Giáng Sinh. Tên gọi Ông già Noel (Santa Claus) bắt nguồn từ tên Thánh Nicholas trong tiếng Hòa-lan – St. Nicholas-Sinterklaas. Có Phải Đức Giê-Xu Sinh Vào Mùa Đông  ? - Tất cả các lãnh đạo tôn giáo trên thế giới đều biết rằng ngày 25 tháng 12 không phải là ngày Giáng sinh của Đức Giê-Xu, Ngài đã  không sinh ra vào mùa đông tuyết rơi  như chúng ta thường nghe trong các bài hát Giáng sinh hay thấy trong các cảnh trí trang hoàng trong mùa Giáng sinh. Kinh Thánh nói gì về câu chuyện Đức Giê-Xu Giáng sinh?   “Lúc ấy, Sê-sa Au-gút-tơ RA CHIẾU CHỈ PHẢI LẬP SỔ DÂN TRONG CẢ THIÊN HẠ.” Lu-ca 2:1 Không ai thiết lập thống kê dân số trong đế quốc  giữa mùa đông tuyết rơi lạnh lẽo, đường đi khó khăn. Lệnh kiểm tra nói trên, lịch sử chưa bao giờ ghi lại là được khai diễn vào mùa đông thời Đại đế La-mã Au-gút-tơ. Yếu tố Thời tiết “Trong vùng đó, có các người chăn chiên ở ngoài đồng, thức đêm canh bầy chiên...” Phúc âm Lu-ca 2:8  Dựa vào yếu tố khí hậu tại quốc gia Israel, thời điểm lý tưởng nhất để chăn bầy chính là khoảng thời gian từ cuối mùa hạ cho đến giữa mùa thu. Tại đất Do-thái, lúc ấy thời tiết khô ráo, ban ngày tương đối mát và ban đêm không lạnh thì những gã mục đồng có thể ở ngoài cánh đồng khi đêm xuống. Đọc câu Kinh Thánh trên, chúng ta  thấy thời điểm các mục tử thức đêm canh giữ bầy chiên ngoài đồng thì không thể là vào mùa đông.  Bởi vì thời tiết tháng 12 tại Do-thái rất lạnh, đặc biệt vào Tháng Giêng và Hai thì có tuyết rơi, nhiệt độ xuống độ âm.  Lu-ca 2:7 “Ma-ri sinh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc hài nhi đặt nằm trong máng cỏ, vì quán trọ không còn chỗ.” Nếu thật sự Đức Giê-Xu sinh ra trong ngày 25-12 vào thời tiết của mùa Đông giá rét lạnh buốt âm độ thì Hài nhi Thánh không thể nào được đặt trong máng cỏ chuồng chiên với khăn bọc đơn sơ như thế!     Suy Niệm Về Câu Chuyện Đức Giê-Xu Giáng Sinh      1. Không chỗ trong quán trọ -  không nghinh tiếp Con Trời vào nhà mình Đêm Giáng Sinh đầu tiên ấy:  Chủ nhà quán bận rộn với doanh nghiệp, khách hàng tấp nập đến lữ quán. Ông ta không có chỗ cho Con Trời giáng hạ trong nhà của mình.  Ngày nay, con người mãi mê làm giàu, lòng tham muốn vật chất nơi  trần thế chỉ là tạm thời mà họ quên đi tìm Phước hạnh vĩnh cữu hoặc từ khước Đấng ban cho Phước Vĩnh Cữu.  Ngày nay, có vô số người mệnh danh là tín hữu, nhưng thật ra trong nếp sống đạo, họ không dám tuyên xưng đức tin rằng đời sống họ có Chúa trong lòng.      2 Ánh sáng của Giáng Sinh: Vì sao sáng rực tỏa soi giữa trời đêm dẫn đưa các nhà thông thái đi qua nhiều chặng đường dài đến chiêm ngưỡng và thờ phượng Hài nhi Thánh. Ngày nay, có những sách nhỏ, những sứ điệp Phúc âm được truyền giảng trong giáo đường, vận động trường, trên làn sóng truyền thanh, truyền hình để dẫn đưa con người tìm đường đến thờ phượng Đức Giê-xu.   Quí vị có đi tìm Đấng Cứu Thế và tiếp rước Đức Giê-Xu vào tấm lòng mình để phụng thờ Ngài trong Mùa Giáng sinh năm nay không?   Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

  • 0 Halloween: Lễ Hội Quái Gở Của Bóng Tối Và Sự Chết

    Halloween là lễ hội của bóng tối và sự chết. Là những người đã được cứu chuộc bởi huyết của Chúa Cứu Thế Jesus, Cơ Đốc Nhân đừng tham dự vào sự tối tăm của lễ hội Halloween dưới bất cứ hình thức nào.   Lễ hội Halloween đã trở nên khá phổ biến trong nhiều năm gần đây tại Việt nam. Nó gắn liền với các hoạt động như trò trẻ con đi từ nhà này sang nhà khác trêu chọc và quậy phá để đòi bánh kẹo (treat-or-trick), hội hóa trang với mặt nạ và trang phục ma quỉ (ghoulish masks and costumes), chơi lồng đèn có khuôn mặt quái dị làm bằng quả bí ngô (jack-o’-lanterns), đốt lửa hiệu (bonfire), trò dùng miệng để câu quả táo trong thùng nước (apple bobbing)…   Halloween đã phát triển thành hoạt động hằng năm trên toàn cầu, tốn hao hàng tỉ đô-la, dành cho mọi lứa tuổi. Tại các nước Âu-Mỹ, có hàng loạt các tiết mục nhân dịp này được quảng cáo, từ những chuyến du lịch ma, những chuyến tàu ma, lễ hội hồn ma, tiệc ma thâu đêm, cho đến việc ngồi đồng gọi hồn…   Halloween đã du nhập vào Vietnam và được khuếch trương như là hoạt động tiệc tùng vui đùa của thanh thiếu niên. Đây là cơ hội thương mại cho các nhà tổ chức sự kiện, lôi kéo nhiều người tham gia tìm thú vui trong các sinh hoạt liên quan đến Halloween, bất chấp sự quái gớm của nó hoặc không hiểu nguồn gốc và bản chất tối tăm của lễ hội này. Nhiều bậc phụ huynh mua cho con em mình những bộ quần áo và mặt nạ ma quỉ, đồ dùng của phù thủy với suy nghĩ ma quỉ sẽ tránh xa con em mình khi thực hiện việc hóa trang quái gở này, đơn giản là thấy người ta mua bán, ăn mặc trang phục ma quỉ thì cũng cho con em mình tham gia theo. Điều đáng buồn là một số Cơ Đốc Nhân cũng hưởng ứng các hoạt động nhân dịp lễ Halloween vì cho rằng đó chỉ là sự vui chơi tiệc tùng. Bài viết này nhằm mục đích giúp người đọc hiểu rõ nguồn gốc và bản chất của lễ hội Halloween; và nhận thức việc mình có nên tham gia bất cứ điều gì liên quan đến Halloween hay không, dựa trên ánh sáng của Lời Chúa.                                       Nguồn Gốc Tối Tăm Của Lễ Hội Halloween Lễ hội Halloween ngày nay có nguồn gốc từ những nghi lễ thờ cúng xa xưa của những tu sĩ Druid cách đây khoảng 2000 năm. Nhà nghiên cứu tôn giáo George Mather khẳng định, “Tất cả những hoạt động phổ biến liên quan đến Halloween đều có nguồn gốc từ những tục lệ tôn giáo của tu sĩ Druid và người Celt cổ xưa”.   Druidism là một tôn giáo cổ xưa của người Celt ở Anh quốc, Ái Nhĩ Lan và xứ Gaul, thờ phượng các thế lực siêu nhiên bằng cách thiền định, cầu kinh và cúng bái, trong đó có việc thờ lạy thần Ba-anh gớm ghiếc như người dân xứ Ca-na-an trong thời Cựu Ước. Các nhà sử học đề cập đến mối liên hệ giữa người Phoenician (người Ca-na-an) và người Celt trong thời kỳ cổ đại, và những ảnh hưởng của việc thờ thần Ba-anh của người dân xứ Ca-na-an trên người Celt.  Các bằng chứng khảo cổ học cũng cho thấy nhiều gốc tích từ người Phoenician trong đời sống của cư dân Britons và Ái Nhĩ Lan, Sir Betham thuật lại rằng, “Trên một bàn thờ đá, được khai quật gần Kirby Thore, ở Westmorland, có khắc dòng chữ, ‘DEO BEL ATUCADRO IB[ERUM] VOTUM FECIT IOLUS’, được dịch nghĩa là, ‘Dâng lên cho Ba-anh, bạn của con người, , Iolus đã lập lời thề’”. Trên thực tế, cả người Ca-na-an và người Celt đều dâng tế lễ mùa thu lên cho thần Ba-anh, mà người Celt gọi là “Baal-tinnes”.   Samhain (phát âm là sah-win) vốn là lễ hội nổi lửa trong ba ngày khi các tu sĩ Druid thực hiện việc dâng sinh tế bằng sinh mạng người, cùng các nghi lễ ghê tởm để thờ cúng các thần linh, trong đó có Ba-anh, và ma quỉ để khẩn cầu sự che chở, bảo vệ, sự sinh sản và vụ mùa bội thu.   Buổi tối ngày 31 tháng Mười, các tế lễ được dâng lên cho Sanhain, chúa của bóng tối và sự chết, mang biểu tượng là thần dê và thần sơn dương, cùng với nghi lễ dâng lửa cho thần Ba-anh, “Vào rạng ngày 1 tháng Mười Một, những ngọn lửa được dâng lên như là của lễ tạ ơn thần Ba-anh”. Các nghi lễ ghê tởm của các tu sĩ Druid gồm cả việc dâng sinh tế bằng trẻ em trong đêm Samhain. Giáo sư sử học Nicholas Roger thuộc trường Đại học York cho biết, “Những tế lễ được đề cập đến trong một bài thơ thuộc tập thơ Dindshenchas có việc dâng trẻ em làm sinh tế mỗi kỳ lễ Samhain”. Merle Severy, trong bài viết đăng trên tạp chí National Geographic, mô tả, “Trẻ em đầu lòng được hiến tế cho thần linh để bảo đảm cho sự bội thu của mùa màng và các đàn gia súc. Đêm trước ngày lễ Samhain là thời điểm của sự nguy hiểm và kinh khiếp”. Bách khoa toàn thư Harper’s Encyclopedia of Mystical & Paranormal Experience cho biết các tu sĩ Druid uống máu và ăn thịt các nạn nhân, “Họ [các tu sĩ Druid] hiến tế các nạn nhân bằng cách bắn nạn nhân bằng tên, xiên các nạn nhân trên cọc, cắt cổ các nạn nhân trên những chiếc nồi lớn (và rồi uống máu)…”. Các tư liệu lịch sử từ những ghi chép của Julius Caesar, Lucan , Suetonius và Cicero cũng xác nhận rằng các tu sĩ Druid đã thực hiện việc hiến tế mạng người trong các nghi lễ thờ cúng các vị thần và ma quỉ. Những tư liệu này ban đầu bị cho là những quan điểm thành kiến, nhưng trong những năm gần đây đã được nhìn nhận  bởi những bằng chứng khảo cổ học về việc hiến tế mạng người và tục ăn thịt người của tu sĩ Druid.   Các tu sĩ Drud dạy rằng trong đêm trước ngày lễ Samhain, ranh giới giữa sự sống và sự chết trở nên mù mịt, và hồn ma của người chết quay trở lại dương thế tìm người sống để nhập vào. Người ta cũng tin rằng những phù thủy, yêu tinh yêu quái, ma cả rồng, quỉ sứ đều đi lang thang khắp nơi trong đêm này. Do đó, người dân phải hóa trang với những trang phục và mặt nạ ma quỉ để hù dọa và đánh lừa các hồn ma và yêu quái không đến gần mình. Người dân cũng đặt bánh kẹo và thức ăn bên ngoài nhà để thết đãi yêu ma với mong muốn chúng không phá rối gia đình mình. Lửa hiệu và lồng đèn bí ngô được đốt lên là để xua đuổi yêu ma, quỉ quái, soi đường cho chúng và giữ chúng cách xa khỏi người sống.   Năm 835, Giáo hoàng Gregory IV chính thức ký sắc lệnh chuyển ngày lễ All Saints’ Day từ ngày 13 tháng Năm sang ngày 1 tháng Mười Một, cùng ngày với lễ Samhain, nhằm thay thế các nghi lễ của người Celt khi La-mã Công giáo lan truyền đến Anh quốc, Ái Nhĩ Lan và xứ Gaul. Ngày lễ All Saints’ Day còn được gọi là All Hallows Day khi chữ Hallo được dùng để thay thế chữ Saints.   Đêm trước ngày lễ All Hallows Day vì thế được gọi là All Hallows Eve (31 tháng Mười), và được rút gọn thành Halloween. Vì bản chất của ngày lễ All Saints’ Day (và lễ All Souls’ Day trong ngày 2 tháng Mười Một) vốn là tưởng nhớ và tôn vinh những người đã chết, nên những niềm tin và tập quán liên quan đến lễ Samhain vẫn tiếp tục được lưu truyền trong đêm Halloween. Jack Santino viết, “Nhiều tín ngưỡng và phong tục truyền thống liên quan đến lễ Samhain… vẫn tiếp tục thực hành trong đêm 31 tháng Mười – được gọi là Eve of All Saints, hay là Eve of All Hallows. Đó là sự giải thích cho chữ Hallow Even vốn đem đến cho chúng ta tên gọi Halloween”. Lesley Pratt Bannatyne nhận định, “Thay vì xóa bỏ các hủ tục, các lãnh đạo giáo hội lại tạo phiên bản Cơ Đốc cho chúng: kể từ thời đại Trung Cổ, All Saints’ Day và All Souls’ Day đã thay thế các lễ hội bóng tối và sự chết của người Celt cổ xưa”. James Bonwick cũng có đồng quan điểm, “All Saints’ Day đã kế tục lễ hội ngoại giáo Samhain trong đêm cuối tháng Mười”.        Halloween Và Sự Thờ Phượng Sa-tan Cùng Các Hoạt Động Của Bóng Tối Và Sự Chết Ngày nay, Halloween trở thành một đêm quan trọng của Sa-tan giáo, Neo-paganism (Tân ngoại giáo) và các thuật sĩ phù thủy. “Witches’ Sabbath” (Cuộc tụ họp lúc nửa đêm của những phù thủy để tuyên thệ trung thành với Sa-tan) và “Black Mass” (Nghi lễ khẩn cầu Sa-tan) được cử hành tại giáo đường của Sa-tan vào đêm 31 tháng 10. Đây là đêm mà các nghi lễ thờ phượng Sa-tan được thực hiện cùng với việc dâng sinh tế bằng máu người trên bàn thờ.   Anton LaVey, người sáng lập Sa-tan giáo đã khẳng định, “Hai ngày lễ ma vương quan trọng nhất là Walpurgisnacht và Halloween”. Người này cũng tuyên bố rằng, “Tôi rất vui khi các bậc phụ huynh Cơ Đốc để cho con em mình thờ phượng ma quỉ ít nhất một đêm trong năm” (ám chỉ đến việc tham gia các hình thức lễ hội Halloween). Sa-tan và những kẻ thờ phượng nó biết tận dụng sự ham thích thú vui, ưa những điều huyền bí và tính nổi loạn của con người, khiến cho nhiều người chạy theo nó, công khai hoặc vô thức, trong các hoạt động liên quan đến Halloween. Johanna Michaelsen, người nghiên cứu những điều huyền bí tiết lộ rằng, “Halloween là mùa quan trọng để Sa-tan giáo thu hút và tuyển giáo đồ”.   Blanche Barton, nữ tế thượng phẩm của Sa-tan giáo đã đề cao lễ hội Halloween trên trang web The Church of Satan, “Nó [Halloween] cho những người thậm chí là ngờ nghệt nhất cơ hội để nếm trải những xấu xa đồi bại trong một đêm. Họ có dịp để nhảy múa với ma quỉ. Tôi thấy những giáo đồ của Sa-tan trên toàn thế giới nhóm nhau lại trong từng nhóm nhỏ trong đêm này và Halloween năm trăm năm nữa, để nâng cốc chúc mừng chúa của địa ngục”   Chính vì nguồn gốc và bản chất tăm tối và gớm ghiếc của Halloween cho nên không lạ gì khi nó là đêm hoan hỉ trong sự tán tụng quyền lực của bóng tối và thực hành những hoạt động xấu xa trụy lạc nhất của Sa-tan giáo.  Sa-tan lịch qui đinh, “All Hallows’ Eve (Halloween): Một trong hai đêm quan trọng nhất trong năm. Những nỗ lực được thực hiện để phá vỡ mối liên kết giữ chặt những cánh cửa đóng lại với âm ti địa ngục. Những nghi lễ máu và tình dục. Sự liên hiệp nhục dục với ma quỉ. Tế lễ bằng súc vật và mạng người –  giống đực hay giống cái”.   Halloween cũng là đêm lễ trọng của Tân Ngoại giáo và giới thuật sĩ phù thủy ngày nay. Theo Witches Calendar, Halloween là kỳ lễ trọng đại nhất trong số tám kỳ lễ hội gọi là Sabbats, được các phù thủy tổ chức hằng năm. Họ xem Halloween như là đêm Giao Thừa, được thực hiện với những nghi lễ thần bí, ma mị. Nhà nhân loại học Geoffrey Clarfield, đã thưc hiện cuộc phỏng vấn với Catherine Starr, giáo sĩ Tân ngoại giáo tại trường Đại học Toronto, cho biết trong đêm Halloween, các phù thủy thực hiện nghi lễ cầu khấn và gọi hồn, mời các thần linh và người chết cùng tham gia dạ tiệc và nhảy múa.   Mặc dù giới thuật sĩ phù thủy cho rằng Tân ngoại giáo không thờ phượng Sa-tan, nhưng trong cuốn sách Witchcraft: Theory and Practice, một cẩm nang phổ biến hướng dẫn ma thuật, tuyên bố rõ ràng rằng, “Chúa của thuật sĩ phù thủy… ngài là chủ tể của âm ti… ngài là Baphomet, Lucifer, Baal”.   Jean Markale, nhà nghiên cứu về văn hóa truyền thống Celts phơi bày việc tham gia lễ hội Halloween là dự phần vào công việc được dẫn dắt bởi chúa của bóng tối, “Bước vào thế giới Halloween thật sự là khởi đầu của một hành trình đầy nguy hại, được dẫn dắt và theo dõi của thế lực ẩn sau bóng tối, theo từng bước đi của người mới gia nhập vào mê cung – một thế giới khác”.   Tại các nước Âu Mỹ, vào đêm Halloween hằng năm, nhiều phụ huynh để cho con em mình mặc các bộ quần áo ma quỉ và đi gõ cửa hết nhà này đến nhà kia để xin kẹo bánh, hoặc những thanh thiếu niên, cả tại các nước Á châu, tham gia lễ hội hóa trang với các trang phục, mặt nạ gớm ghiếc thành ma quỉ hoặc phù thủy “mà không ý thức rằng dạ hội hóa trang nầy là thực sự là tàn dư của nghi lễ thờ cúng của các tu sĩ Druid thời cổ xưa”.   Các vật trang trí trong lễ Halloween ngày nay, đặc biệt là sọ người là biểu tượng và khí cụ nổi bật của phép thuật phù thủy và sự thờ cúng ma quỉ thời xưa. Những chiếc lồng đèn bí ngô, biểu tượng gớm ghiếc của sự chết và thế giới tà linh, ngày nay được trình bày theo đúng hình thức truyền thống trong ngày lễ Samhain của người Celt cổ xưa, là những quả bí ngô khoét rỗng khắc hình chiếc đầu cắt rời của người chết với những hốc mắt và mũi hình tam giác và nụ cười nhe răng, với mục đích dọa các hồn ma tránh xa người sống. Với bản chất tối tăm, ma quỉ và nổi loạn, Halloween khiến người tham gia dễ trở nên ngược ngạo, côn đồ và trụy lạc. Gerina Dunwich viết về những tác động ghê gớm của lễ hội này, “Nhiều người nói rằng Halloween làm lộ ra mặt độc ác trong bản chất của con người. Những hành động phá hoại, gây thương tích xảy ra hằng năm vào dịp Halloween hiển nhiên xác chứng cho điều đó…”. Nicholas Roger phải thốt lên rằng, “Đó là là một cơ hội để người ta thực hiện những ham muốn dục vọng và những chuyện kỳ quặc. Halloween rõ ràng là một đêm của sự đảo lộn mọi trật tự”. David Skal mô tả chi tiết hơn về những hậu quả nguy hại này, “Halloween đã luôn là đêm của sự hỗn loạn và vô nhân. Người ta có thể tự do vứt bỏ nhân phẩm. Đàn ông mặc trang phục đàn bà, và ngược lại. Sự tin cậy có thể bị cười nhạo và người ta mặc nhiên lừa dối nhau”. Thật không ngạc nhiên khi giới đồng tính luyến ái tại Mỹ ngày nay xem Halloween là dịp lễ hội để tưng bừng tổ chức các dạ tiệc trụy lạc và những cuộc diễu hành đồng tính lòe loẹt trên đường phố.                                             Cơ Đốc Nhân và Halloween Halloween không chỉ trở thành một lễ hội thế tục tại các nước Âu Mỹ mà đã du nhập vào các nước châu Á. Tại Việt Nam, nhiều bậc phụ huynh cho con em tham gia vào các hình thức Halloween như là một trò vui, các thanh thiếu niên thì bị thu hút vào các hoạt động vui chơi nhân dịp Halloween. Là Cơ Đốc Nhân, chúng ta nên có nên tham gia vào các hoạt động này không? Thanh thiếu niên Tin lành có thể dự phần vào các lễ hội hóa trang trong đêm Halloween, khoác lên mình những bộ trang phục, mặt nạ ma quỉ hay phù thủy để vui chơi; hay các bậc phụ huynh Cơ Đốc có thể mua cho con em mình những bộ trang phục và đồ chơi Halloween hay không khi biết rằng tất cả những điều này đều là sự thể hiện của lễ hội tối tăm và những nghi lễ thờ phượng tà thần gớm ghiếc?   Halloween là lễ hội của bóng tối và sự chết. Là những người đã được cứu chuộc bởi huyết của Chúa Cứu Thế Jesus, Cơ Đốc Nhân đừng tham dự vào sự tối tăm của lễ hội Halloween dưới bất cứ hình thức nào.   Một số người cho rằng, Halloween chỉ là hoạt động vui chơi đơn thuần, không nên nghiêm trọng hóa, và cần tham gia để hòa đồng với bạn bè và xã hội. Bác sĩ David Enoch, chuyên gia tâm thần học tại bệnh viện Royal Liverpool và trường Đại học Liverpool nhìn nhận, “Các hoạt động Halloween mở đường cho những điều huyền bí và các lực lượng siêu nhiên (tà linh) đi vào đời sống con người mà họ không thể nào hiểu được và cũng không chống lại được… ”. Hans Biedermann cho biết, “Người mang mặt nạ cảm thấy sự biến đổi bên trong và ngay lúc ấy có những đặc tính của thần hay ma quỉ mà chiếc mặt nạ đó thể hiện”. Cơ Đốc Nhân cần nhớ sự cảnh tỉnh của Lời Chúa, “Hãy tiết độ và tỉnh thức: kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được” (I Phi-e-rơ 5:8). Chúa Jesus cầu nguyện cho chúng ta, “Con chẳng cầu Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ cho khỏi điều ác. Họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh; lời Cha tức là lẽ thật.” (Giăng 17:15-17). Vì vậy, thay vì tham dự vào bất cứ hình thức nào của Halloween, Cơ Đốc Nhân cần sống theo Lời Chúa dạy và dành cơ hội để chia sẻ lẽ thật của Phúc âm. “Hãy xét điều chi vừa lòng Chúa, và chớ dự vào công việc vô ích của sự tối tăm, thà quở trách chúng nó thì hơn” (Ê-phê-sô 5:10-11).   Nguyễn Hữu Đa Vít  -   Ngy. Uyên Hiệu Đính Theo psalms51site.wordpress.com