Vietnamese Lutheran Church

  • 0 The Gift of the Magi - O' Henry - Phỏng Dịch: Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

                                             Vài Dòng về Tác Giả O’Henry (Sept. 11, 1862- June 5, 1910)     Ông có tên thật là William Sidney Porter sinh ngày 11 September, 1862, tại Greensboro, N. Carolina. Cha của ông là một y sĩ. Khi ông lên 3 tuổi, người mẹ qua đời sau khi sinh con thứ ba. Từ thuở bé, ông thích đọc sách như “One Thousand and One Nights” ...     Năm 19 tuổi, ông có licensed hành nghề dược sĩ. Tại dược phòng, ông thường trình bày biệt tài về những tranh vẽ mỹ thuật. Ông viết rất nhiều...   Ông sáng tác dồi dào qua các truyện ngắn và thi phẩm. Những truyện ngắn của ông thường lấy bối cảnh đương thời mà ông đang sống trong xã hội New York City đầu thế kỷ hai mươi về giới cảnh sát, những người phục vụ trong nhà hàng ăn (waitresses) cuối truyện kết thúc có phần ngạc nhiên.   Mùa Giáng Sinh này mời quí vị đọc “The Gift of the Magi” rất có ý nghĩa. Đây là chuyện tình yêu của đôi uyên ương trẻ nghèo nhưng họ sống cho nhau thật chân tình, lo nghĩ cho nhau, yêu nhau đậm đà và hi sinh cho nhau. Đức Giê-Xu đã phán: “Cho có phước hơn nhận.”     • "The Gift of the Magi" is about a young couple, Jim and Della, who are short of money but desperately want to buy each other Christmas gifts. Unbeknownst to Jim, Della sells her most valuable possession, her beautiful hair, in order to buy a platinum fob chain for Jim's watch; while unbeknownst to Della, Jim sells his own most valuable possession, his watch, to buy jeweled combs for Della's hair. The essential premise of this story has been copied, re-worked, parodied, and otherwise re-told countless times in the century since it was written.   Truyện ngắn này đã được đưa vào lớp văn chương English trong Trường Trung học Đệ-Nhất-Cấp (Jr. High) tại Hoa Kỳ nhiều thập niên trước. Đặc biệt, những tác phẩm của O’Henry cũng đã được thực hiện bằng phim với màn ảnh lớn. Phim “The Cop and the Anthem" với các ngôi sao Charles Laughton và Marilyn Monroe.” - "The Gift of the Magi".   Truyện "The Gift of the Magi nay được dịch thoát trong văn Việt từ nguyên bản. Mục sư Nguyễn Hữu Ninh                                                                      *****       MÓN QUÀ GIÁNG SINH   Phỏng Dịch:  Mục sư Nguyen Huu Ninh   Một mỹ kim và tám-mươi-bảy cắc (cents). Chỉ còn có bấy nhiêu đấy thôi! Và sáu mươi bảy cắc còn lại là những đồng xu teng. Đấy là những đồng xu nhỏ bé này được tiết kiệm từng hồi từng lúc mỗi khi đi mua thực phẩm, rau cải, nàng đã năn-nỉ-ỉ-ôi với người bán hàng và anh chàng ở hàng thịt hầu được giảm bớt giá tiền chút chút. Della đếm đi đếm lại đến ba lần. Một mỹ kim và tám mươi-bảy cắc. Và chỉ còn vài ngày nữa thì ngày Chúa Giáng sinh đến.     Della nằm trên cái ghế dài (couch) và khóc ròng. Đối diện trước hoàn cảnh thực tế của đời thường lại tạo nên tiếng nấc nghẹn ngào, tiếng khóc, nỗi niềm đắng cay hay nụ cười rạng rỡ, hạnh phúc ...   ***   Tình trạng của căn phòng thuê từ bậc thứ nhất nay tụt xuống hạng nhì, hãy nhìn qua gian phòng. Đấy là một phòng thuê được trang bị (furnished) với giá thuê $8 mỗi tuần lễ. Một căn phòng thuê có vẻ tồi tệ.   Ngoài hiên của phòng có một hộp thư, một nút bấm chuông điện. Có một thẻ gắn hàng chữ có tên “Ông bà Dillingham Young.”   Chữ của tên “Dillingham” đã từng hiển hiện rõ ràng trong thời điểm thịnh vượng mà trước đấy anh đã trả tiền thuê $30 mỗi tuần. Hiện tại, khi số thu nhập bị giảm sút nay chỉ còn chữ “Dillingham” trông có vẻ mờ nhạt, dường như là bản ký giao kèo thuê nhà sẽ được xét lại. Tuy nhiên, mỗi khi James Dillingham Young về lại căn phòng tồi tệ ấy, anh được nghe tiếng gọi “Jim” với một vòng tay ôm chặt từ cô James Dillingham Young, mà bạn đã từng được nói là Della trên đây. Thế là tốt quá rồi đấy!   ***   Della cũng vừa khóc xong và nàng lấy phấn xoa hai bên gò má.     Della đứng bên song cửa. Nàng nhìn ra ngoài kia có một con mèo màu xám với bước chân chậm rãi bên hàng rào xám trong một khoảnh sân cũng mầu xám tro.   Ngày mai thì là Ngày Giáng sinh rồi. Và nàng chỉ có $1.87, với số tiền này Della phải mua một món quà cho Jim. Nàng đã cần kiệm từng đồng xu trong những ngày tháng qua và nay đếm đi đếm lại nàng chỉ vỏn vẹn có bấy nhiêu thôi.   Mọi chi tiêu đã vượt trội hẵn so với sự tính toán của nàng. Họ luôn gặp cảnh này. Sau khi kết hôn, nàng không tìm được một công việc nào vào thời buổi với nền kinh tế suy thoái. Jim thì chỉ có một việc làm khiêm nhượng nhưng dù sao có cũng còn hơn không. Chỉ có $1.87 để mua một món quà tặng Jim. Chàng của nàng. Della đã trải qua nhiều giờ rất hạnh phúc và nàng suy nghĩ phải có một cái gì đó đặc biệt thật tốt đẹp cho chàng.       Trong phòng có một gương soi cả thân hình. Della đứng trước gương này phản ảnh mọi cử động nhanh nhẹn và dáng nàng gầy. Thình lình nàng xoay mình lúc đang đứng trước gương. Đôi mắt Della rực sáng, nhưng khuôn mặt nàng hơi tái đi trong hai mươi giây. Della kéo mái tóc huyền dài phủ xuống thân mình.     Có hai tài sản của nhà James Dillingham Youngs thật đáng hãnh diện. Một là đồng hồ quả quít vàng vốn là của ông nội và cha của chàng tặng Jim trong ngày thành hôn nhưng không có dây chuyền. Và món kia là mái tóc huyền của Della.       Thế giờ đây, mái tóc dài của Della xỏa xuống như dòng nước gợn sóng lóng lánh mầu nâu. Tóc nàng phủ dài đến đầu gối như là một áo choàng. Della chợt có một thoáng bối rối đến trong hồn. Nàng  dừng chân trong giây phút, lúc ấy có một vài giọt lệ từ khóe mắt nàng rơi xuống thảm mòn cũ mầu đỏ.   Della khoác trên mình cái áo choàng cũ kỹ mầu nâu; nàng vẫn đội cái mũ nâu cũ xưa. Với cái váy và ánh mắt sáng rỡ, Della mở cửa, chân nàng đi xuống các bậc thang và bước đi trên đường...   ***   Della dừng chân khi thấy bảng hiệu: “Bà Sofronie. Có Đủ Các Loại Tóc Tốt.” Nàng thấy Bà Sofronie, cao lớn, trắng trẽo, lạnh lùng.   - “Bà sẽ mua mái tóc của tôi không?” Della hỏi. - “Tôi mua đấy,” Bà nói. “Cô lấy mũ ra đi và để tôi ngắm mái tóc cô nào.” Bà ấy nhìn từ trên cho đến phần cuối của dòng suối nâu. - “Hai mươi mỹ kim đấy!” Bà ấy nói, bàn tay bà nâng khối lượng nặng chịch của mái tóc dài ...  - “Bà trả tiền nhanh đi” Della nói.           ***   Hai giờ đồng hồ sau đó, Della đi qua các gian hàng để tìm kiếm một món quà cho Jim.     Cuối cùng thì nàng đã tìm được. Chắc chắn món quà này dành cho Jim chứ không một ai đâu. Cũng chẳng có món nào giống như thế tại các gian hàng khác. Đấy là một dây chuyền bằng bạch kim với một thiết kế trông quí phái chứ không phải là kiểu dáng tầm thường. Đúng là mẫu dây thích hợp với đồng hồ của Jim.   Hai mươi mốt mỹ kim, Della phải trả cho dây chuyền, và nàng vội trở về nhà với vỏn vẹn 78 cắc còn lại trong túi. Với dây chuyền này trên cái đồng hồ vàng, chắc chắn Jim hài lòng.     Khi Della về nhà, nàng háo hức mang ra những cuộn uốn tóc. Trong vòng bốn mươi phút, Della dùng những ống quấn be bé để làm tóc dợn sóng, trông cô có vẻ rắn rỏi như một nam sinh trong đội banh thể thao. Della nhìn hình ảnh nàng phản chiếu trong gương soi:   - “Jim nghĩ gì về mình đây nhỉ?” nàng tự nhủ, Oh! Ta có thể làm gì với một mỹ kim và tám mươi bảy cắc ?”   Lúc 7 giờ chiều thì cà-phê đã nấu xong và chão trên lò sẵn sàng để chiên thịt.   Jim chưa bao giờ trễ nải. Della giữ sợi dây chuyền trong tay và ngồi tại một góc bàn gần cửa mà chàng thường bước vào.   Della nghe tiếng bước chân trên bậc thang, da mặt nàng tái đi một tí. Nàng thường có thói quen yên lặng cầu nguyện về các vấn đề đơn giản trong ngày: “Lạy Chúa! Hãy làm cho Jim nghĩ rằng con vẫn xinh.”   Cửa mở ra và Jim bước vào rồi cửa đóng lại. Jim trông có vẻ mảnh khảnh. Chàng chỉ có hai mươi hai tuổi – và một gánh nặng với gia đình. Chàng cần có một áo choàng mới và chàng chẳng có găng tay.   ***   Jim bước vào trong nhà. Đôi mắt chàng dán chặt vào Della, và quả thật Della không thể đọc ra trong đôi mắt chàng có một cảm xúc gì đó dường như làm nàng kinh hãi. Đấy không là nỗi giận dữ, không là sững sốt, không là sự bất đồng ý. Chàng nhìn chằm chặp vào tóc nàng. Chỉ đơn giản thế thôi!       - “Jim, anh yêu ơi,” nàng cất tiếng khóc, “đừng nhìn em như thế đấy! Em đã cắt đi mái tóc dài và bán đi, bởi vì em không thể sống trọn vẹn trong mùa Giáng sinh mà không có món quà tặng anh. Tóc em rồi sẽ dài trở lại mà – anh không lo chi về điều ấy, phải không anh? Em vừa làm điều này. Và tóc em sẽ dài nhanh lắm cơ! Anh Jim nói “Merry Christmas!” với em đi và chúng ta cùng có hạnh phúc bên nhau. Anh không biết được có một quà tặng đẹp, dễ thương mà em dành cho anh đấy.”   - “Em đã cắt đi mái tóc? Jim hỏi, - “Em đã cắt đi mái tóc và bán rồi,” Della nói. “Thế anh không thích em sao nhỉ? Em vẫn là em của anh, dù cho em không có tóc dài, có phải không anh?” - “Em nói tóc em đã bán đi?” Jim nhìn chung quanh căn phòng nói với giọng khôi hài. - “Anh chẳng phải đi tìm – Della nói. ”Bán rồi, em đã nói với anh – bán tóc rồi. Chiều Christmas Eve, cưng ơi! Tóc bán đi vì anh thôi. Có lẽ những tóc trên đầu em thì có thể đếm,” chợt giọng Della trở nên ngọt ngào,” nhưng mà chẳng có ai có thể đếm-được-tình-em-yêu-anh đâu nhé!     Jim ghì chặt Della. Trong giây phút này chúng ta cùng nhìn đến một chiều hướng khác. Jim lấy từ trong túi áo choàng một gói quà và đặt để trên bàn.   - “Della,” Jim nói, “về phần anh. Anh không nghĩ rằng dù có làm điều gì như cắt tóc, cạo râu hay gội tóc có thể làm cho anh thích em nhiều hay ít hơn, nhưng khi em mở gói quà ra em sẽ biết...”   Những ngón tay trắng trẽo và nhanh nhẹn của nàng xé toạt giấy gói quà. Và tiếp theo có tiếng thét lên vì hoan vui; và những giọt nước mắt trào ra, thì ra đấy là Bộ Trâm Lược Cài Tóc – với những trâm lược này để chải mái tóc mà Della hằng ngắm nghía ham thích từ lâu bên cửa hàng trên đường Broadway. Những cái trâm làm bằng vỏ đồi mồi có chạm khắc tuyệt vời được viền vàng chung quanh trâm để cài hai bên mái tóc trông tuyệt! Oh! Đấy là những trâm cài tóc đắt tiền mà trước đây nàng trầm trồ mơ ước nhưng chẳng hi vọng nào có được. Thế mà giờ này, những trâm lược xinh xinh đáng yêu ấy ở đây. Thế nhưng, mái tóc huyền của nàng chẳng còn để cài trâm nữa.    Della ôm ghì thật chặt Jim vào mình, những phút dài trôi qua, đôi mắt Della lim dim nhìn Jim thật tình. Nàng nở nụ cười: “Tóc em mọc nhanh lắm anh ạ!” Và nàng chợt nhảy lên như chú mèo con, “Oh, oh!” Jim chưa thấy món quà đẹp tuyệt của mình. Della xòe bàn tay ra với món quà. Sợi dây chuyền bạch kim lấp lánh như phản chiếu tình yêu trong sáng rực rỡ của nàng. - “Anh ạ! Em đã rảo bước qua mọi chốn trong các dãy phố để tìm cho được món quà này đấy! Anh sẽ nhìn nó hằng trăm lần trong ngày. Anh đưa em cái đồng hồ quả quít. Em muốn trông thấy nó như thế nào với dây chuyền này. Thay vì làm theo lời Della. Jim ngả thân mình ngồi trên ghế dài (couch) và đôi tay chàng ôm đầu rồi cười rộ: -“Della,” chàng lên tiếng, “thôi hãy để qua một bên các món quà Giáng sinh của chúng ta. Thật ra thì các món quà này rất dễ thương đấy. Anh đã bán đồng hồ quả quít để mua những trâm cài cho em. Và ngay bây giờ em hãy tưởng tượng cài trâm lên mái tóc của em đi nhé!”     -"Em ạ, nhà chiêm tinh học (magi) - những người thông thái uyên bác tuyệt vời – là những người đã mang các món quà đến chiêm ngưỡng và thờ phụng Hài Nhi Thánh Giê-Xu tại máng cỏ chuồng chiên." Và anh được kết chặt với em qua tấm lòng hi sinh cho nhau với một kho-báu-vĩ-đại nhất: tình-yêu-mãnh-liệt-của-chúng-ta. “Cho đi có phước hơn là nhận. Những ai cho và nhận đều là những người khôn ngoan.”   O’Henry – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh Phỏng Dịch Mùa Giáng Sinh 2018   Film 

  • 0 Thánh Lễ Kỷ Niệm Đức Giê-Xu Giáng Thế - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    Thánh Lễ Kỷ Niệm Đức Giê-Xu  Giáng Thế   Các tín hữu trong kỷ nguyên I đã cử hành Thánh lễ mừng Đức Giê-xu Giáng thế như thế nào?   Thành thật mà nói, Tân Kinh (New Testament) đã không ghi lại. Trong thế kỷ I, các tín hữu chỉ tưởng niệm sự thống khổ của Đức Giê-xu và hân hoan mừng kỷ niệm Đức Giê-Xu Phục Sinh vinh hiển!  Lễ này đã được cử hành có liên quan mật thiết với lễ Vượt Qua của người Do-Thái.  Ngày Đức Giê-Xu sống lại, là sau ngày thứ Bảy, đấy là ngày Chúa nhật, ngày của Chúa. Truy tìm dấu vết cổ xưa nhất thì ngày đại lễ mừng Chúa Ngôi Hai Giáng thế khởi đầu từ thế kỷ IV. Về sau này, giáo hội thiết lập thêm các ngày lễ khác nhau trong suốt cả năm, trong đó  có lễ Giáng Sinh. Dần dần lễ Giáng Sinh lan rộng khắp nơi trong Đế quốc từ Tây sang Đông phương. Thánh Phan-xi-cô thành Asissi cùng với việc làm hang đá Giáng Sinh, đã đánh dấu bước thứ nhất phát triển quan trọng cho việc mừng đại lễ. Thánh sử không kể chi tiết về câu chuyện Đức Giê-xu Giáng Sinh nhưng chỉ đơn sơ nói về cuộc hành trình của Giô-sép và Ma-ri trở về quê hương là tiểu thôn Bết-lê-hem. Rồi một hài nhi được sinh ra, đặt nằm trong máng cỏ, nơi vốn dành cho các con cừu. Chi tiết này được Thánh Lu-ca nhắc đi nhắc lại ba lần: “một hài nhi bọc trong khăn đặt nằm trong máng cỏ.” (Chương 1: 6,12,16).  Điều này giúp chúng ta thấy đây là yếu tố then chốt để hiểu toàn bộ câu chuyện.   Hài nhi Giê-xu ấy, khi được sinh ra, không như bao trẻ em khác nhưng trong hoàn cảnh thật khác biệt.  Ngay cả với các mục đồng nghèo thì ít ra các mục đồng cũng có căn lều của riêng họ. Tuy nhiên, đêm Con Trời giáng thế, Ngài không có một mái nhà. Hài nhi Thánh Giê-xu đã được đặt nằm trong máng cỏ chuồng chiên...   Câu Chuyện Thiên Chúa Ngôi Hai Giáng Thế  Thiên Chúa đã để câu chuyện kỳ diệu này xảy ra tại vùng đất Do-thái trong thời trị vì của Đại đế La-mã Augustus.  Lúc ấy, lá cờ của Đế quốc La-mã tung bay trên bầu trời Thủ đô Giê-ru-sa-lem. Đây không là câu chuyện xảy ra cách ngẩu nhiên mà là một sự chuẩn bị từ buổi sáng thế của Thiên Chúa. Câu chuyện Thiên Chúa Ngôi Hai giáng thế  khởi nguồn từ gốc rể của lịch sử nhân loại với những nhân vật có thật đã hiện hữu trong không gian và thời gian.  Mỗi một chi tiết về sự giáng thế, sự đau đớn, sự chết và sự sống lại của Đức Giê-xu đều đã được các tiên tri dự ngôn nói trước về nơi chốn và kỳ diệu thay, tất cả những điều này đã được ứng nghiệm.  Và tất cả câu chuyện Đức Giê-Xu giáng thế đều được tìm thấy trong Thánh Kinh. Quyển Thánh Kinh có 66 quyển chia làm hai phần: Cựu và Tân Kinh.  Cựu kinh có 39 quyển đã được viết trước khi Đức Giê-Xu giáng thế. Tân Kinh gồm có 27 quyển ghi chép về mục vụ của Đức Giê-Xu và sự phát triển của Cơ-đốc giáo trong thế kỷ đầu tiên.  Bốn sách Phúc âm là Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng trong Tân Kinh.  Mỗi quyển đã trước thuật về đời sống và thánh vụ với những lời giáo huấn của Đức Giê-Xu. Mỗi trước giả có cái nhìn với chiều kích khác nhau, khi chúng ta tổng hợp bốn chiều kích này lại sẽ thấy một bức tranh thật toàn hão về Đức Giê-Xu. Phúc âm Ma-thi-ơ và Lu-ca ghi lại về câu chuyện Chúa Ngôi Hai từ trời giáng thế. Trước hết, Ma-thi-ơ ghi lại gia phả của Đức Giê-Xu trở ngược  đến tổ phụ Áp ra ham, là vị cha già của dân tộc Do-thái, từ đó nẩy ra chi tộc Giu-đa, có Đa-vít là hoàng đế của Do-thái. Ma-thi-ơ ghi lại câu chuyện có một thiên thần xuất hiện báo tin cho Giô sép và Vua Hê-rốt  phản ứng trước tin có một vị vua dân Do-thái sắp ra đời.  Ma-thi-ơ viết cho độc giả người Do thái và câu chuyện Đức Giê-Xu giáng thế, đời sống và thánh vụ của Ngài đã được ứng nghiệm đầy trọn từ các lời dự ngôn của các tiên tri trước đó hằng 800 năm. Có chín lần Ma-thi-ơ đã trích ra những lời dự ngôn trong Cựu Kinh  “để làm trọn sự ứng nghiệm”.  Ma-thi-ơ đã trình bày một bức chân dung - sự giáng thế, đời sống, lời giáo huấn, sự chết và sự phục sinh của Đức Giê-Xu - là một ứng nghiệm tuyệt hão về những lời tiên tri ấy! Phúc âm Lu-ca có cái nhìn khác:  Lu-ca ghi lại sự giáng thế siêu nhiên của Đức Giê-Xu. Ông cung cấp những sự việc diễn ra về những gì Đức Giê-Xu đã thực hiện và dạy dỗ.  Lu-ca viết cho người ngoại quốc, đặc biệt cho giới nghèo khổ. Lu-ca hướng về các gã mục đồng thuộc giới bần cùng.  Lu-ca ghi lại câu chuyện Đức Giê-Xu giáng thế thật nhiệm mầu, về trinh nữ Maria, về muôn vàn thiên binh xuất hiện trong bầu trời đêm báo tin cho các mục tử đang thức canh giữ bầy chiên. Ma-thi-ơ thì nhấn mạnh về vương quốc của Thiên Chúa, hình ảnh Đức Giê-Xu là vị vua, câu chuyện có ba nhà thông thái giầu có từ phương Đông đến viếng thăm một vị vua mới ra đời với các món quà như vàng, nhủ hương và mộc dược.  Hai trước giả Mác và Giăng  ghi lại về đời sống và thánh vụ của Đức Giê-Xu. Mác không ghi câu chuyện Đức Giê-Xu giáng thế và Trinh nữ Maria.  Mác có mục tiêu hướng đến số độc giả thuộc xã hội người La mã trong thế kỷ I.  Giăng có cái nhìn theo chiều kích khác: Sự giáng thế của Đức Giê-Xu là từ Thiên thượng.  Không giống như mọi người khác khởi đầu sự sống khi chào đời,  Giăng mô tả Đức Giê-Xu vốn đã hiện hữu  từ trước buổi sáng thế, Ngài là Logos, (Word) Ngài ở cùng Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa.  Nay “Logos –Word trở thành xác thể.”  Phúc âm Giăng chương 1.  Giăng viết, “Logos đóng trại và ở cùng chúng ta”   Giăng nhấn mạnh đến khía cạnh Thần tính của Đức Giê-Xu – Con Trời trở thành xác thể, Ngài là ánh sáng tỏa rực soi giữa bầu trời tối tăm của trần thế. Bốn quyển Phúc âm ghi lại bốn cạnh của Đấng Con Trời với bốn lăng kính khác nhau. Nếu chỉ đọc một Phúc âm thì chúng ta chỉ thấy một phương diện của Đức Giê-Xu chứ không thể thấy toàn diện về Đức Giê-Xu.  Vì mỗi trước giả ghi lại một phương diện đặc biệt - Trinh nữ Maria - Một Đấng Cứu-Tinh được sinh ra -  Một vị Vua được sinh ra vinh hiển - Thiên Chúa ở cùng chúng ta (Emmanuel). Ngày Sinh Của Đức Giê-Xu Đối với các tín hữu đầu tiên cũng như thời đương đại, ngày lễ quan trọng nhất của Cơ-đốc giáo, đấy là lễ Phục Sinh!  Thánh lễ kỷ niệm Đức Giê-Xu sau khi Ngài đã được an táng trong huyệt mộ và Ngài đã sống lại. Hiện nay, ngày 25 tháng 12 là ngày trên toàn thế giới  kỷ niệm một sự kiện có thật của lịch sử, sự kiện Con Đức Chúa Trời giáng thế làm người, để hoàn thành sứ mạng cứu rỗi nhân loại. Tại Sao Lễ Giáng Sinh Được Cử Hành Ngày 25-12 ?   Các nhà nghiên cứu cho biết rằng ngày lễ này thật ra là một sự thay thế của Giáo hội La-mã Công giáo (Roman Catholic) cho ngày Đông chí của người ngoại đạo. Khởi từ Giáo đường Rome, Ý-đại lợi, lễ Giáng Sinh bắt đầu lan sang các nhà thờ khác ở phía Tây và phía Đông trong Đế quốc La-mã. Khi Cơ-đốc giáo được hợp thức hóa vào khoảng đầu thế kỷ IV, Giáng sinh bắt đầu được tổ chức thường xuyên và đều đặn. Thực ra trong ba thế kỷ đầu tiên, không có bằng chứng xác thực nào ghi ngày tháng khi Đức Giê-xu sinh ra.   Trong suốt hơn 300 năm, Cơ-đốc giáo đã bị bách hại tàn khốc suốt 10 đời trị vì của các vị vua La-mã. Sau khi Hoàng đế Constantine I cải đạo từ đa thần giáo sang Cơ-đốc giáo, Tháng February năm 313, Hoàng đế La Mã Constantine I ký Sắc lệnh Milan (Edict of Milan) hợp thức hóa Cơ-đốc giáo trở thành hợp pháp và phổ thông (Catholic) trong toàn Đế quốc La-mã. Ông cho hủy bỏ lễ thờ Thần Mặt trời. Những người đứng đầu Giáo hội tại Vatican đã phải đối mặt với một ngày lễ của người La-mã ngoại giáo. Đấy là ngày “Sinh nhật của Thần Mặt trời Bất bại” (Dies natalis solis invicti) – tên mà người La-mã gọi ngày Đông chí. Vào mỗi mùa đông, người La-mã ngoại giáo đều có lễ hội tôn vinh thần Saturn, hay Thần Nông. Lễ hội này bắt đầu vào ngày 17 tháng 12 và thường kết thúc vào khoảng ngày 25 tháng 12 với một lễ kỷ niệm ngày Đông chí để mừng khởi đầu năm mới. Đây là thời điểm mọi người vui chơi, gia đình và bạn bè sẽ cùng nhau trao đổi quà tặng. Đồng thời, Mithra – tín ngưỡng thờ thần ánh sáng của người Ba-tư cổ đại – cũng rất phổ biến trong quân đội La-mã thời ấy, và họ cũng tổ chức một số nghi lễ quan trọng nhất vào ngày Đông chí. Sau khi Cơ-đốc giáo được nhà vua Đế quốc La-mã công nhận, những người đứng đầu Giáo hội tại Vatican đã nỗ lực để dành lấy các ngày lễ Đông chí.  Làm như thế để giúp những tân tòng chuyển đổi từ ngoại giáo sang La-mã Công giáo (Roman Catholic) trở nên dễ dàng hơn.  Thêm vào đó, khi Giáo hội La-mã Công giáo hợp thức hóa lễ kỷ niệm sinh nhật Đức Giê-Xu vào ngày 25 tháng 12 thì Vatican có lập luận: Vì thế giới được tạo dựng vào ngày xuân phân (cuối tháng 3) nên Đức Giê-Xu cũng được Chúa Cha cho thụ thai trong lòng Trinh nữ Maria vào ngày này, và chín tháng sau đó, Ngài ra đời trong ngày Đông chí (chỉ là bịa đặt). Như thế, ngày 25 tháng 12 từ đó được trở thành ngày lễ mừng sinh nhật của Đức Giê-Xu. Trong quyển niên giám của La-mã Công giáo lâu đời nhất có ghi lại về việc cử hành lễ Chúa Giáng Sinh vào năm 336 tại Giáo đường Rome sau Công nguyên. Từ thời điểm ấy, các giáo dân La-mã Công giáo  đã kỷ niệm Chúa Giáng Sinh vào ngày 25-12. Người La-mã còn thêm các nghi lễ Đông chí khác của người ngoại đạo vào lễ Giáng Sinh, chẳng hạn như việc đốt các khúc gỗ (Ylue log) hay việc trang trí với cây xanh của các bộ tộc người Đức (German). Từ ngữ “Christmas” trong tiếng Anh bắt nguồn từ nhóm chữ “Cristemasse” trong  cổ ngữ Anh thời Trung cổ , “Criste” là “Christ” (Đấng Messiah - Đấng được Xức dầu) -  “Masse”  La-tinh ngữ có nghĩa là “Mass” – cử hành thánh lễ Thánh Tiệc – Eucharist. Thời Trung cổ, có một vị thánh nổi tiếng là Thánh Nicholas của thành Myra (St. Nicholas of Myra) – người luôn đến thăm trẻ em với những món quà cùng những lời khuyên nhủ ngay trước thềm Giáng Sinh. Thời hiện đại, nhân vật này đã được phát triển thành Ông già Noel – người chuyên tặng quà cho trẻ em vào lễ Giáng Sinh. Tên gọi Ông già Noel (Santa Claus) bắt nguồn từ tên Thánh Nicholas trong tiếng Hòa-lan – St. Nicholas-Sinterklaas. Có Phải Đức Giê-Xu Sinh Vào Mùa Đông  ? - Tất cả các lãnh đạo tôn giáo trên thế giới đều biết rằng ngày 25 tháng 12 không phải là ngày Giáng sinh của Đức Giê-Xu, Ngài đã  không sinh ra vào mùa đông tuyết rơi  như chúng ta thường nghe trong các bài hát Giáng sinh hay thấy trong các cảnh trí trang hoàng trong mùa Giáng sinh. Kinh Thánh nói gì về câu chuyện Đức Giê-Xu Giáng sinh?   “Lúc ấy, Sê-sa Au-gút-tơ RA CHIẾU CHỈ PHẢI LẬP SỔ DÂN TRONG CẢ THIÊN HẠ.” Lu-ca 2:1 Không ai thiết lập thống kê dân số trong đế quốc  giữa mùa đông tuyết rơi lạnh lẽo, đường đi khó khăn. Lệnh kiểm tra nói trên, lịch sử chưa bao giờ ghi lại là được khai diễn vào mùa đông thời Đại đế La-mã Au-gút-tơ. Yếu tố Thời tiết “Trong vùng đó, có các người chăn chiên ở ngoài đồng, thức đêm canh bầy chiên...” Phúc âm Lu-ca 2:8  Dựa vào yếu tố khí hậu tại quốc gia Israel, thời điểm lý tưởng nhất để chăn bầy chính là khoảng thời gian từ cuối mùa hạ cho đến giữa mùa thu. Tại đất Do-thái, lúc ấy thời tiết khô ráo, ban ngày tương đối mát và ban đêm không lạnh thì những gã mục đồng có thể ở ngoài cánh đồng khi đêm xuống. Đọc câu Kinh Thánh trên, chúng ta  thấy thời điểm các mục tử thức đêm canh giữ bầy chiên ngoài đồng thì không thể là vào mùa đông.  Bởi vì thời tiết tháng 12 tại Do-thái rất lạnh, đặc biệt vào Tháng Giêng và Hai thì có tuyết rơi, nhiệt độ xuống độ âm.  Lu-ca 2:7 “Ma-ri sinh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc hài nhi đặt nằm trong máng cỏ, vì quán trọ không còn chỗ.” Nếu thật sự Đức Giê-Xu sinh ra trong ngày 25-12 vào thời tiết của mùa Đông giá rét lạnh buốt âm độ thì Hài nhi Thánh không thể nào được đặt trong máng cỏ chuồng chiên với khăn bọc đơn sơ như thế!     Suy Niệm Về Câu Chuyện Đức Giê-Xu Giáng Sinh      1. Không chỗ trong quán trọ -  không nghinh tiếp Con Trời vào nhà mình Đêm Giáng Sinh đầu tiên ấy:  Chủ nhà quán bận rộn với doanh nghiệp, khách hàng tấp nập đến lữ quán. Ông ta không có chỗ cho Con Trời giáng hạ trong nhà của mình.  Ngày nay, con người mãi mê làm giàu, lòng tham muốn vật chất nơi  trần thế chỉ là tạm thời mà họ quên đi tìm Phước hạnh vĩnh cữu hoặc từ khước Đấng ban cho Phước Vĩnh Cữu.  Ngày nay, có vô số người mệnh danh là tín hữu, nhưng thật ra trong nếp sống đạo, họ không dám tuyên xưng đức tin rằng đời sống họ có Chúa trong lòng.      2 Ánh sáng của Giáng Sinh: Vì sao sáng rực tỏa soi giữa trời đêm dẫn đưa các nhà thông thái đi qua nhiều chặng đường dài đến chiêm ngưỡng và thờ phượng Hài nhi Thánh. Ngày nay, có những sách nhỏ, những sứ điệp Phúc âm được truyền giảng trong giáo đường, vận động trường, trên làn sóng truyền thanh, truyền hình để dẫn đưa con người tìm đường đến thờ phượng Đức Giê-xu.   Quí vị có đi tìm Đấng Cứu Thế và tiếp rước Đức Giê-Xu vào tấm lòng mình để phụng thờ Ngài trong Mùa Giáng sinh năm nay không?   Mục sư Nguyễn Hữu Ninh