• 0 ATHEISM - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

                                    Vô Thần Vô thần không phải là một tôn giáo như Ki-tô giáo, Hồi giáo, Do-thái giáo.  Các tôn giáo vừa kể thì tin vào vị thần linh, trái lại, vô thần  chủ nghĩa thì chủ trương rằng không có sự hiện hữu nào của các thần linh.  Họ tin tưỏng rằng vũ trụ, điạ cầu này, và sự sống là một sự tiến hoá tuyệt hão của cõi thiên nhiên.  Họ cho rằng không có sự can thiệp của một vị thần linh tối cao nào.  Họ chủ trương  rằng  đạo đức và hệ thống luân lý quản cai mọi tánh hạnh của con ngưòi mà không có sự can thiệp nào của vị thần linh.    Phản nghĩa của  Atheism là Theism - niềm tin vào sự hiện hữu của vị thần linh (deity)  và có hằng nghìn dạng thức khác nhau của thần linh (theism), như là hằng nghìn các thần nam và nữ mà ngưòi hữu thần tin .   Vào thời thượng cổ Hi-lạp, từ ngữ đã được dùng để chỉ ngưòi không tin vào một tôn giáo là “Atheism” nguyên ngữ là từ “Atheos” có nghĩa là “tách ra khỏi lòng tin nơi một hay nhiều vị thần”  (Atheism is derived from the Greek, atheos, and means simply 'away from the belief in a god or gods) “Belief in no God, and no belief in God” đó là cái khẩu hiệu của chủ nghĩa vô thần và họ gào thét như thế đấy! Từ ngữ gốc của Hi-lạp văn  là  “Atheos”  (Atheist)-   “A" which means "without" or "not"  -  “Theos" which means "deity."   Có ngưòi không tin vào vào bất cứ thần linh nào.  Có ngưòi hoàn toàn phủ nhận sự hiện hữu của bất cứ thần linh nào.  Có một số ngưòi vô thần thì giữ lấy sự tin tưỏng này, một số ngưòi khác thì công khai xác quyết sự tin tưỏng ấy cho nhiều ngưòi khác. Ða số ngưòi  Hoa kỳ định nghiã một “Atheist” là ngưòi không tin vào sự hiện hữu của thần linh:  không có Thiên Chúa (God), không có các thần linh nam nữ nào cả (god and goddesses)   Tại sao ngưòi vô thần phủ nhận Thiên Chúa (God) ?   Nếu ngưòi vô thần chấp nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, thời tất nhiên họ phải chịu Thiên Chúa phê phán về mọi hành vi vô luân của họ, vì họ phải chấp nhận một luân lý cao hơn quản cai cuộc đời họ.  Tóm lại, họ thờ phụng cái “ngã” của họ,   đời-sống-họ-là trung-tâm-điểm (self-centred lives.) Từ khi Thiên Chúa ban bố Mưòi điều luật (Ten Commandments) thì Satan muốn con ngưòi đi ra khỏi luật lệ của Ngài, nó khống chế con ngưòi để loại bỏ hình ảnh Thiên Chúa ra khỏi đời sống họ và lừa dối đầu óc họ là không có thần linh nào cả, để họ tự do làm bất cứ điều gì họ muốn theo dục vọng và tư kỷ sai khiến mà không e ngại sẽ bị Thiên Chúa trừng phạt...     Tim Gorski, of The North Texas Church of Freethought, anh chàng vô thần thường lập đi lập lại những gì anh ta nghe từ giới Hữu thần:   "But without God there can be no absolute morality. That's the real reason for Atheism. It's nothing more than wanting to be your own god so you can do whatever you want."   Jalandoak, một anh chàng vô thần khác viết:  "...don't believe in the Bible, because they have a problem with authority. God being the ultimate authority, oppresses them, and they can't be 'free thinkers'. This depresses them, and finally they reject God's reality to make themselves feel better. By living their own way, and not following God's laws, they no longer feel guilt."   Ða số các anh vô thần có ý nghĩ rằng nếp sống đạo đức cá nhân của họ đã được Thánh Kinh đề cập đến như “genocide, murder of people for their religious beliefs, mass murder of innocent children, etc.,” thế cho nên họ cố gắng loại trừ God và Thánh Kinh ra khỏi đời sống họ .                                                   Ngưòi Vô Thần Sợ Hãi Những Ðiều Gì ? Ngày 27-6-2002, tay bỉnh bút vô thần  Ken Schram của KOMO 4 News, Seattle, WA  nói rằng anh ta đã chứng kiến cảnh các anh chàng vô thần sợ hãi những gì qua các thái độ và hành động: Họ sợ hãi Thiên Chúa (God) đến độ khi chỉ nghe đến từ “GOD” làm cho họ đau đớn. Các anh chàng vô thần nhắm đôi mắt lại khi họ móc họ móc ví ra và sợ phải nhìn thấy hàng chữ "In God we Trust." Một số khi đi ra ngoài thì cố tránh đi ngang qua các nhà thờ, nhà hội (synagogues) đền (mosques) Một số thì dội ngưọc khi thấy hình ảnh thập tự giá, Chúa  bị đóng đinh, Ngôi sao Vua David. Atheism is a religion all its own. Although they do not believe in God, they still have faith in their religion. They have faith that there is no God, and they have faith that their beliefs are correct. Sounds a lot like religion to me. Mặc dù các ngưòi vô thần không tin nơi Thiên Chúa, chủ nghĩa vô thần là một thứ tôn giáo của chính họ, họ vẫn có niềm tin nơi tôn giáo của riêng họ: Không có Thiên Chúa, và họ có niềm tin tưỏng rằng đó là đúng. Các ngưòi vô thần cũng có một tôn giáo: cái “ngã,” đó là trung tâm điểm của đời sống hay là thượng đế (god) của họ.  Bởi vì họ đã cố gắng loại trừ GOD ra khỏi đời sống mình, thế cho nên bất cứ mọi lý luận của họ đưa ra đều phủ nhận mọi hiện hữu của GOD, kể cả hơi thở hít vào phổi dưõng khí mỗi giây phút.  Không có sự sống thì mọi “trí tuệ” cũng đều mất đi.  Vậy “trí tuệ” từ đâu mà có? Ngưòi có trí tuệ chân chánhlà ngưòi biết cúi đầu cảm tạ Thiên Chúa (GOD) Ðấng sáng tạo vũ trụ bao la và chính đời sống con ngưòi, một tiểu vũ trụ.  Các bạn vô thần, dù cho các bạn cố gắng phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa thì Ngài vẫn đang đứng bên ngoài cửa tâm của các bạn.  GOD IS LOVE.  Thiên Chúa vẫn thương yêu các bạn.

  • 0 Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ July 4, 1776

    United States Declaration of Independence Thomas Jefferson, the principal author of the Declaration 1823 facsimile of the engrossed copy Created June–July 1776 Ratified July 4, 1776 Location Engrossed copy: National Archives and RecordsAdministration Rough draft: Library of Congress Author(s) Thomas Jefferson et al. Signatories 56 delegates to the Second Continental Congress Purpose To announce and explain separation from Great Britain[1 "Declaration House", the boarding house at Market and S. 7th Street where Jefferson wrote the Declaration  

  • 0 Tìm Hiểu Islam - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    LỊCH SỬ ĐẠO HỒI Islam Trong lịch sử thế giới, chưa từng có một tôn giáo nào bành trướng một cách mạnh mẽ và nhanh chóng cho bằng đạo Hồi. Từ một nhóm người du mục sống trong một ốc đảo heo hút giữa sa mạc Syro-Arabia đã mau chóng biến thành những con người đầy quyền lực tung hoành từ Cận Đông đến Âu Châu và từ Bắc Phi đến tận các nước Châu Á: - Chỉ trong vòng 10 năm kể từ ngày Giáo chủ Muhammad qua đời (632-642) quân Hồi Giáo Ả Rập đã chiếm trọn bán đảo Arabia (rộng gấp 8 lần Việt Nam), chiếm Iraq, Syria, Palestine, Ai Cập và phía Tây nước Iran. - Trong 2 năm (648-649), quân Hồi chiếm Carthage, Tunisia. Một điều làm cho cả thế giới kinh ngạc là lần đầu tiên người Ả Rập chiếm một nước Âu Châu, đó là Hi Lạp. - Thừa thắng xông lên, người Hồi Giáo Ả Rập mở cuộc chiến tranh đánh Tây Ban Nha.  Sau 5 năm, người Hồi chiến thắng đã chiếm trọn nước Âu Châu rộng lớn và nổi tiếng sùng đạo Công Giáo nhất thời bấy giờ. - Năm 712, quân Hồi Giáo chiếm trọn Iran (Ba Tư) và dùng nước này làm bàn đạp tiến quân đánh chiếm các nước Trung Á ở phía nam nước Nga, chiếm vùng Bắc Ấn rộng lớn (nay là Pakistan và Afganistan) và xâm nhập phía Tây Trung Quốc - Quân Hồi bị quân nhà Đường chận lại tại sông Talas nên phải rút về Trung Á. Sự xuất hiện và bành trướng của đạo Hồi trong thế kỷ 7 hung bạo dữ dội như cơn gió xoáy (tornado) khiến cho cả thế giới phải kinh hoàng. Chúng ta thử tìm hiểu những nguyên nhân nào đã khiến cho đạo Hồi có thể bành trướng với tốc độ vũ bão như vậy. Các sử gia đã phân tích 3 nguyên nhân sau đây: Nguyên nhân 1:  Qua nhiều ngàn năm sống trên các cánh đồng cỏ ở sa mạc Syro-Arabia, kiếp sống lang thang của những người Ả Rập càng ngày càng trở nên khó khăn vì đất đai ngày càng trở nên khô cằn. Từ thế kỷ 6, bộ lạc Quraysh (tổ tiên của Muhammad) có sáng kiến bỏ nghề du mục để chuyển hẳn sang nghề thương mại. Họ tổ chức các cuộc đi buôn đường xa với những đoàn lữ hành (caravans) gồm hàng trăm người và rất nhiều ngựa, lạc đà để chở hàng hóa lương thực, lều vải, vũ khí...  Dần dần, thị trường ngày càng được mở rộng, nhu cầu thương mại gia tăng, những đoàn lữ hành có thể gia tăng lên tới nhiều ngàn người. Do nhu cầu tự vệ, mọi người trong đoàn lữ hành đều phải học cưỡi ngựa, cưỡi lạc đà, luyện tập xử dụng các thứ vũ khí như gươm giáo cung tên, kể cả võ thuật và chiến thuật quân sự. Ngoài ra, họ học nói nhiều ngoại ngữ, học cả địa lý và phong tục tập quán của các nước lân cận để gia tăng khả năng giao dịch thương mại. Trải qua nhiều thập niên, những thương gia (traders) Ả Rập trở thành những người đa tài, đa năng và đa hiệu. Họ chẳng những là những thương gia rành nghề mà còn là những quân nhân thiện chiến, kỹ luật và còn là những người lãnh đạo quần chúng. Vào đầu thế kỷ 7, Mecca là thủ phủ của những người Quraysh đã trở nên một trung tâm thương mại lớn nhất tại Trung Đông. Những người Quraysh không còn có dáng dấp quê mùa nghèo khổ của thế kỷ trước nữa trái lại họ đã trở thành những người văn minh giàu có. Điều đó làm cho nhiều bộ lạc Ả Rập khác phải thèm muốn và cố gắng noi theo. Một trong những bộ lạc nổi tiếng hung dữ là bộ lạc Bedouins bắt chước bộ lạc Quraysh đã bỏ nghề du mục và tham gia vào các đoàn caravanscủa Mecca. Vào giữa thế kỷ 7, gặp cơ hội đạo Hồi phát triển, các bộ lạc Ả Rập, nhất là Quraysh và Bedouin, đã nô nức nhập cuộc dùng tôn giáo làm phương tiện bành trướng lãnh thổ để thay đổi môi trường sống tại bán đảo Ả Rập quá cằn cỗi. Nguyên nhân 2:  Từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 7, toàn vùng Trung Đông và Bắc Phi bị hai đế quốc Byzantine và Sassanian thay phiên nhau thống trị. Đế quốc Byzantine là hậu thân của Đế quốc La Mã, được Đại Đế Constantine thành lập năm 330, đặt thủ phủ tại hải cảng Byzantine của Hi Lạp. Từ đời Constantine (thế kỷ 4) đến đời hoàng đế cuối cùng của Đế quốc Byzantine vào giữa thế kỷ 15, tất cả đều là những hoàng đế theo Chính Thống giáo Đông Phương (Orthodox -Eastern Christian Church). Đế Quốc  Sassanian là Đế quốc Ba Tư, tồn tại 427 năm (từ năm 224 đến 651). Các hoàng đế của Đế quốc Sassanian đều theo đạo Hỏa Giáo (Zoroastrianism). Cả hai đế quốc nói trên đánh nhau liên miên suốt 4 thế kỷ, đến đầu thế kỷ 7 thì cả hai đế quốc này đều bị kiệt quệ tạo nên một khoảng trống quyền lực (a power vacuum) tại Trung Đông và Bắc Phi. Do đó, những đoàn kỵ binh của Hồi Giáo Ả Rập đã tiến vào lãnh thổ của cả hai đế quốc này như tiến vào chỗ không người. Nguyên nhân 3:  Giáo lý đạo Hồi là sản phẩm của người Ả Rập nên được người Ả Rập đón nhận một cách dễ dàng và tự nhiên. Từ thời xa xưa, người Ả Rập đã chấp nhận niềm tin của Abraham, nghĩa là tin có Thiên Chúa (tiếng Ả Rập gọi là Allah) tin có Thiên đàng, Hỏa ngục, tin có các thiên thần v.v... Cho nên người Ả Rập không coi Hồi Giáo như một đạo ngoại lai mà là đạo cổ truyền của dân tộc. Văn thơ trong kinh Koran đối với người Ả Rập là những áng thơ văn tuyệt tác. Mỗi khi họ đọc kinh Koran là một dịp họ ngâm thơ, họ cảm thấy những vần thơ đó rất hấp dẫn vì rất hợp với khiếu thẩm mỹ văn chương của họ. Ý niệm thánh chiến (Jihad) và ý niệm tử đạo (martyrdom) hoàn toàn phù hợp với tâm lý vốn hung bạo của người Ả Rập vì họ rất quen thuộc với cuộc sống đầy bất trắc tại sa mạc. Kinh Koran mô tả thiên đàng rất hấp dẫn đối với các chiến binh trẻ tuổi: Sau khi chết trận, được coi như tử đạo, sẽ được Allah cho lên thiên đàng để hưởng đủ lạc thú cho đến muôn đời. Lạc thú độc đáo nhất mà chỉ đạo Hồi mới có, đó là những người chết trận hoặc tử đạo đều được những cô gái trinh tuyệt đẹp đón tiếp và phục vụ lạc thú tình dục cho đến muôn đời vì mọi người ở thiên đàng đều trẻ mãi không già! Niềm tin đặc biệt này đã là một yếu tố tâm lý quan trọng khiến cho những người lính Hồi Giáo trở thành những chiến sĩ rất dũng cảm trong các cuộc thánh chiến. Chỉ vì cuồng tín, những đoàn quân Hồi Giáo đã lập nên những chiến công oanh liệt như những kỳ tích vượt xa sự dự tưởng của mọi người. Những cuộc chiến tranh mở rộng nước Allah của Hồi Giáo (Kingdom of Allah) từ ngày lập đạo tới nay có thể được chia ra làm hai thời kỳ: - Thời kỳ I-  từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 13: Đạo Hồi bành trướng và phát triển tạo thành một số quốc gia theo đạo Hồi, đứng đầu cộng đồng Hồi Giáo là một vị vua được gọi là Caliph, có nghĩa là "người kế vị giáo chủ Muhammad về phương diện thế quyền ". Xin ghi thêm ở đây là đạo Hồi tin giáo chủ Muhammad là thiên sứ cuối cùng của Allah cho nên không một ai có quyền tự xưng là kẻ thừa kế của Ngài về phương diện thần quyền. - Thời kỳ II-  từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20: Do những biến cố đặc biệt của thế giới đã đưa đến sự  thành hình ba đế quốc Hồi Giáo. Trước hết là sự xâm lăng của quân Mông Cổ chiếm các nước Trung Đông và sau đó chiếm các nước Bắc Ấn và nhiều nước Á Châu khác tạo thành một Đế quốc Mông Cổ rộng lớn. Từ cuối thế kỷ 13, nhiều hoàng đế Mông Cổ theo đạo Hồi đã tạo nên đế quốc Hồi Giáo Mughul (do chữ Mongol mà ra). Trong thế kỷ 15, tại Âu Châu, người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi Giáo chế ra thuốc súng và lập ra binh chủng pháo binh đầu tiên trên thế giới. Dựa vào sức mạnh quân sự, người Thổ Hồi Giáo xua quân đánh chiếm nhiều nước trên cả 3 lục địa Âu, Á, Phi và lập nên đế quốc Ottoman. Cuối cùng, dân tộc Azerbaizan ở tây nam biển Caspian bỗng nhiên trở nên hùng mạnh vào đầu thế kỷ 16, cất quân đánh chiếm nhiều nước Âu Châu và Trung Đông tạo thành đế quốc Safavids theo giáo phái Shiite. Calligraphic representation ofMuhammad's name                                        

  • 0 TÌM HIỂU VỂ LỄ PENTECOST - Tác Giả: Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    Trong nguyên văn Hi-lạp viết là “petekoste”  có nghĩa “fiftieth” là ngày thứ năm mươi.  Trưóc đây, chúng ta quen nghe là “Ngũ tuần,”  đúng ra phải là “thất tuần.”    Ðối với ngưòi Do-thái, đây là lễ lớn thứ nhì trong ba đại lễ:  Lễ Vượt qua, lễ Thất tuần và lễ Lều tạm.  Các lễ nầy đã đưọc Thánh Kinh ghi trong Xuất. 23:16; Lê-vi-ký 23:15-22;  Dân  số ký 28: 26-31; Phục. 16:9-12.   Lễ Thất Tuần (Pentecost) Các Danh Hiệu của Lễ Thất Tuần còn đưọc gọi là Lễ Các Tuần (The Feast of Weeks)  Xem xuất. 34:22; Phục. 16:10, 16; II Các Vua 9:13 nhằm mục đích thờ phượng Chúa và cử hành lễ sau bảy tuần, hay năm mươi ngày, sau lễ Vưọt qua.  (xem Lê vi ký 23:15, 16) Lễ Gặt Hái  (The Feast of Harvest  Xem Xuất 23:16  còn đưọc gọi là lễ Thu Hoạch. Lễ Hoa Qủa Ðầu Mùa (The Day of First Fruits)  Xem Dân số ký 28:26; Lê vi ký 23: 17, vì các ổ bánh đã được làm từ các lúa mì đầu tiên đưọc dâng lên bàn thờ Chúa.   Nguồn Gốc của Lễ Thánh Kinh đã không ghi rõ về lịch sử nguồn gốc của lễ này, chúng ta hiểu rằng lễ Thất tuần có một lịch sử về sự thu hoạch mùa màng vào thời dân Do-thái vào Ðất Hứa, dân sự của Ngài đã dâng lên Thiên Chúa các hoa quả đầu tiên của mùa màng: các lúa mì tốt nhất, ngưòi Do-thái hiểu và nhận thức rằng hoa quả đầu mùa cột chặt với Chúa Hằng Hữu.   Ngưòi Do- thái liên kết với lễ Vượt qua xuyên qua sự hồi tưỏng vào ngày thứ sáu của Sivan, ngày Thiên Chúa ban hành Muời Ðiều Luật vào ngày thứ năm mươi sau lễ Vưọt qua.    Chúng ta có thể hiểu rằng có sự liên quan giữa tình trạng sống nô lệ tại Ai-cập với các kỳ lễ lớn này khi đọc Phục. 16:12.   Lễ Thất tuần có liên quan đến lễ Vượt qua, là lễ lớn và quan trọng nhất trong các kỳ lễ của người Do-thái, họ đã đưọc Thiên Chúa giải phóng khỏi ách thống trị tàn bạo của Pha-ra-ôn, dánh dấu sự chấm dứt đời làm nô lệ của dân Do-thái.   Thời Ðiểm của Lễ Ngày cử hành lễ Thất tuần nhằm ngày thứ năm mươi kể từ “ngày mai sau ngày Sa-bát” của lễ Vưọt qua  (xem Lê vi ký 23:11, 15, 15; Phục. 16:9), sau bảy tuần lễ trọn, sau ngày đặt lưỡi liềm trên lúa.  Ý nghĩa chính xác của từ ngữ “Sa-bát”  trong mối liên quan này để chỉ định ngày cử hành lễ Thất tuần.  Sau ngày Sa-bát (thứ bảy) là ngày thứ nhất trong tuần (Chúa nhật)   đó là ngày cử hành lễ Thất tuần.   Nghi Thức Cử Hành Lễ Luật Môi-se cho biết vào ngày lễ Thất tuần, đó là ngày lễ thánh trọng đại của quốc gia Do-thái, không ai làm việc, mọi thành phần phải tham dự lễ tại đền thờ, và mang theo của lễ đặc biệt (Lê vi ký 23:15-22; Dân số ký 28:26-31)  Các của lễ như: a)     Cuả lễ dâng vào buổi sáng và chiều với thịt và nưóc uống. b)     Của lễ thiêu gồm có bảy chiên, một con bò thiến tơ, hai chiên đực chưa thiến, với thịt và nước uống (Lê vi ký 23:18; Dân số ký 28:26)  c)      Dâng hai ổ bánh với hai phần muời ê-pha bột mì không có men (Lê vi ký 23:17) d)     Cùng với các ổ bánh: có bảy chiên con một tuổi không tì vết, hai chiên đực, một bò tơ đực, dâng lên Thiên Chúa để cảm tạ Ngài về sự thu hoạch mùa màng đã nhận đưọc từ bảy tuần lễ trước. Lê vi ký 23: 17: “Các nguơi phải từ nhà mình đem hai ổ bánh…”   không được hiểu là mỗi gia trưỏng mang hai ổ bánh, nhưng đưọc hiểu là hai ổ bánh đại diện cho cả dân sự.  “Từ nhà mình” ngụ ý ổ bánh đã được sửa soạn cho sự nuôi dưõng phần xác hằng ngày cho cả nhà, chứ không hàm ý  đặc biệt cho một mục đích thánh nào.  Ðây là của dâng tự nguyện, đưọc mang đến với Chúa bởi từng cá nhân để cảm tạ Chúa về các ân huệ Ngài đã ban cho.  Ðó là các lễ dâng thịt, nưóc uống, của lễ thiêu (Phục. 16:10) Lễ này là mùa hân hoan cho các trẻ em, ngưòi lớn, ngưòi phục dịch, ngưòi Lê-vi, kẻ khách lạ, ngưòi mồ côi và goá phụ (Phục. 16:11)  Ngưòi Do-thái hồi tưỏng giai đoạn họ đã bị làm nô lệ tại Ai-cập và nay được Thiên Chúa giải phóng và gìn giữ điều luật thiên thưọng (Phục. 16:12) Cử Hành Lễ Lễ Thất Tuần Sau Thời Kỳ Bị Lưu Ðày Ðọc Công vụ. 2: 9-11, chúng ta thấy ngưòi Do-thái từ các quốc gia khác trở về Giê-ru-sa-lem trưóc lễ Thất tuần. Vào ngày hôm trưóc lễ Thất tuần, các ngưòi hành hương vào thủ đô, đến buổi chiều có tiếng kèn trổi lên.  Bàn thờ đã được thanh tẩy, vào lúc nửa đêm cửa chánh đền thờ mở ra.  Vào buổi sáng sớm, các của lễ thiêu và thù ân đã được dân sự mang đến  để các vị tế lễ xem xét.  Tiếp theo là các thứ tự để cử hành lễ dâng: a)     Của lễ dâng buổi sáng b)     Các của lễ được dâng theo Dân số ký 28:26-30 c)      Chi phái Lê-vi hát xưóng bài Alleluia và cả dân sự cùng tham dự. Dâng ổ bánh đầu mùa với các món sau đây: ba seahs bột lúa mì mới, hai chiên con. d)     Các của dâng tình nguyện của dân sự để làm nên sự vui vẻ qua các bửa ăn trong gia đình, cho ngưòi Lê-vi, goá phụ, cô nhi, ngưòi nghèo và khách lạ đưọc mời dự.  Cử Hành Lễ Thất Tuần Ngày Nay Lễ này đã được ngưòi Do-thái mỗi năm cử hành vào ngày thứ sáu và thứ bảy của Sivan – ví dụ, khoảng giữa hạ tuần tháng Năm cho đến thượng tuần của tháng Sáu.  Theo Lê vi ký 23: 15, ngưòi Do-t hái thưòng đếm từ ngày thứ hai sau lễ Vượt qua cho đến chiều thứ “ngày năm mươi” thì đó là lễ Thất tuần, và họ cầu nguyện vào ngày ấy.  Ba ngày trước kỳ lễ lớn này, ngưòi Do-thái hồi tưởng đến ngày Thiên Chúa ban bố bảng Luật pháp, còn được gọi là ba ngày của sự tách biệt và thánh hoá (the three days od separation and sanctification), bởi vì Thiên Chúa đã ban lệnh cho Môi-se là phải tách rời và phân định ranh giới cho dân sự không được đến gần núi Si-nai-i, và trong ba ngày đó, họ phải giữ mình thanh sạch để chờ đợi Chúa ban cho luật pháp (Xuất. 19:12, 14, 23) Vào ngày chuẩn bị cho lễ, các nhà hội (the synagogues) và tư gia trang hoàng các loại bông hoa và các lá tỏa hưong thơm; phái nam thanh tẩy đời sống mình bằng sự xưng nhận tội lỗi trưóc Chúa, họ mặc vào các trang phục của ngày lễ hội, và đến tại nhà hội, nơi đó có buổi cầu nguyện lúc đêm, ngưòi điều khiển ca đoàn cất lên lời chúc phưóc trên “cup of wine” để bắt đầu cho ngày lễ thánh.  Cũng thế, các gia trưỏng tại nhà của mình cũng làm như vậy trưóc bửa ăn chiều.  Sau khi ăn, dù tại nhà hội hay tại tư gia, họ đọc Thánh Kinh suốt cả đêm, về lý do Thiên Chúa đã ban bố bảng Luật pháp cho tổ phụ họ, họ thức dậy trong giấc ngủ và cầu nguyện xin Chúa cất khỏi họ mọi tội lỗi.   Vào buổi sáng của ngày lễ chính vào sáng hôm sau, một buổi cầu nguyện đặc biệt với  mục đích dâng lên Thiên Chúa sự vinh quang, Ðấng đã ban cho họ Luật pháp, bài ca Alleluiah đưọc cất lên; bài đọc về luật pháp Xuất. 19:1, 20, 26;  bài đọc “the Maphtir” Dân số ký 18:26-31 và bài đọc về sách tiên tri Ê-xê-chi-ên 1:1-28.  Vào buổi chiều, đọc bài cầu nguyện Musaph, và có lời chúc phưóc cho hội chúng, đầu của họ đưọc bao bởi khăn quàng.  Vào buổi chiều thứ hai của ngày lễ, họ  tụ tập tại nhà hội lần nữa, dùng nghi thức của các ngày lễ với các bài cầu nguyện đặc biệt của lễ Thất Tuần, nhấn mạnh đến Thiên Chúa vĩ đại, Ngài đã ban cho họ luật pháp.  Kế tiếp là tuyên bố giai đoạn thánh hoá của ngày lễ do chủ nhà hội và gia trưỏng nếu là ở tại nhà mình.  Lời cầu nguyện có khác nhau từ ngày thứ nhất, cũng như sự cử hành sự ban cho luật pháp xen lẫn với các lời cầu nguyện; bài ca Alleluiah đưọc cất lên, đọc sách Ru-tơ, đọc Phục. 15:19 – 16:17, hay 3:1-19; cầu nguyện cho các thân quyến đã có người mất đi; họ đọc The Musaph Ritual; các vị tế lễ đọc lời chúc phưóc, lễ kết thúc sau buổi chiều thờ phưọng, cũng như hai ngày trưóc lễ đã khởi đầu vào buổi hoàng hôn. Mục sư Nguyễn Hữu Ninh chuyển ngữ  từ “Unger’s Bible Dictionary”  by Merril F. Unger -  Moody Press – chưong Festivals: Pentecost.   Ngày nay, chúng ta quen thuộc về lễ Pentecost của thời kỳ Tân Kinh đánh dấu một biến cố vô cùng trọng đại của Cơ-đốc giáo, đó là ngày khai sinh của Hội Thánh Ðấng Ki-tô trên trần thế. Ðó ngày Chúa Thánh Linh giáng lâm trên các môn đệ của Giê-xu và các tín hữu đầu tiên.  Tất cả những ngưòi nầy đã được đầy dẫy Thánh Linh như Công Vụ. 2: 1-21 đã trưóc thuật. Biến cố thiên thượng kỳ diệu này đã làm ứng nghiệm lời tiên tri Giô-ên Giô-ên 2: 28-32  thời Cựu Kinh:  “Trong những ngày sau cùng, Ta sẽ đổ Thánh Linh Ta trên tất cả mọi ngưòi, Con trai và con gái các ngưoi sẽ nói tiên tri, Thanh niên sẽ thấy khải tượng Ngưòi già sẽ thấy chiêm bao. Trong những ngày ấy, Ta sẽ đổ Thanh Linh Ta trên các tôi trai, tớ gái Ta, Và họ sẽ nói tiên tri. Ta sẽ ban các phép mầu trên trời Và dấu lạ dưới đất là máu, Lửa và luồng khói. Mặt trời sẽ nên tối tăm, Mặt trăng sẽ đỏ như máu Trưóc ngày vĩ đại và vinh quang  của Chúa đến. Và ai cầu khẩn Danh Chúa đều sẽ đưọc cứu.”   Bản Dịch Mới  -  Arms of Hope 2002 Trưóc khi thăng thiên, Chúa Cứu-thế Giê-xu Ki-tô đã trấn an các môn đệ, vì họ lo âu, buồn bã khi biết Thầy của họ sẽ lìa xa họ.  Trong Giăng chưong, Giê-xu phán rằng “Lòng các con chớ nên lo âu.  Hãy tin Thiên Chúa, cũng hãy tin Ta nữa (c. 1)… Ta sẽ xin Cha, Ngài sẽ cho các con một Ðấng Trợ Giúp khác để ở với các con mãi mãi.  Ngài là Thánh Linh của sự thật.  Thế gian không thể tiếp nhận Ngài vì không thấy cũng không biết Ngài.  Nhưng các con biết Ngài vì Ngài sống trong các con và sẽ ở với các con.”  (c.16,17)  Bản Phổ Thông Niềm Hi Vọng - Tân Ưóc -  Cơ Quan Phiên Dịch Kinh Thánh Thế Giới. Cảm tạ Chúa, tất cả các lời hứa từ thời kỳ tiên tri Giô-ên cho đến thời Giê-xu đã được ứng nghiệm một cách diệu kỳ!  Chúng ta cũng cần nên nhớ, thời kỳ Cựu Kinh, Chúa Thánh Linh đã đến với các các nhã lãnh đạo dân Do-thái, các vị thẩm phán (Judges), tiên tri, Người của Thiên Chúa, Ngài đã đến với họ và đi.  Ðến thời Tân Kinh, lời Giê-xu phán hứa với các môn đệ rằng “Thánh Linh sẽ đến và sống trong các con và sẽ ở với các con.”  Từ biến cố của lễ Thất Tuần trong Công Vụ chương 2, Thánh Linh đã đến với Hội Thánh và ngự trị trong con dân Chúa luôn để ứng nghiệm lời Giê-xu đã hứa. Amen The poet William Blake wrote a poem about Pentecost. Part of the poem says:"Unless the eye catch fire, God will not be seen.Unless the ear catch fire, God will not be heard.Unless the tongue catch fire, God will not be named.Unless the Heart catch fire, God will not be loved.Unless the mind catch fire, God will not be known.  

  • 0 Nguồn Gốc của Father’s Day - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    Nguồn Gốc của Father’s Day       Ngày từ phụ, trái với quan niệm sai, đấy không phải là ngày đưọc thành lập để các công ty in đủ các lại thiệp chúc mừng bán trên thị trưòng.  Bởi vì trong ngày “Father’s Day” thứ nhất đã không có một cánh thiệp nào trên thương trưòng như ngày nay. Thật ra, “ngày từ phụ” từ tiên khởi đã có một ý niệm thật hay. Bà Sonora Smart Dodd tại tiểu bang Washington là ngưòi đầu tiên đã có ý nghĩ về “Father’s day,”  khi bà nghe một bài giảng về đề tài Mother’s Day vào năm 1909.  Bà nảy ra một ý tưởng  là phải có một ngày đặc biệt để vinh danh thân phụ của mình, ông William Jackson Smart,một cựu chiến binh trong cuộc nội chiến, và ông trở thành goá vợ, khi mẹ của Sonora từ trần sau khi sinh ra đứa con thứ sáu.            Ông Smart giờ đây thành “gà trống nuôi con,”  với năm con lớn và một bé sơ sinh tại nông trại vùng phía đông của tiểu bang Washington.  Khi Bà Dodd trưởng thành, bà nhận ra sức mạnh và lòng vị tha của thân phụ đã biểu lộ  khi ông nuôi nấng các con trong cưong vị của một “single parent.” Trong mắt của Sonora, bà nhận thức rằng thân phụ bà đã hi sinh, có lòng can đảm, vị tha và đầy lòng thưong yêu.  Thân phụ bà sinh vào tháng Sáu, vì thế bà chọn tháng Sáu vào Chúa nhật 19 năm 1910 để cử hành  ngày “Father’s Day” đầu tiên tại Spokane, Washington.   Và cũng vào thời điểm này có nhiều thành phố khắp nưóc Hoa kỳ dân chúng cũng bắt đầu cử hành “ngày từ phụ.”   Năm 1924, Tổng thống Calvin Coolidge ủng hộ ý tưỏng  ngày từ phụ của quốc gia.  Sau cùng, mãi đến năm 1966, Tổng thống Lyndon Johnson đã ký đạo luật tuyên bố Chúa nhật  thứ ba trong tháng Sáu là “Father’s Day.” Ngày Từ phụ đã trở nên một ngày không chỉ vinh danh ngưòi cha, nhưng cũng cho tất cả các ông là những ngưòi như bố nuôi, các ông nội ngoại, một ngưòi nam trưỏng thành đều đưọc vinh danh trong ngày Từ phụ.      

  • 0 THÔNG ĐIỆP LIÊN BANG CỦA TỔNG THỐNG HOA KỲ DONALD TRUMP (Phần 2)

    THÔNG ĐIỆP LIÊN BANG CỦA TỔNG THỐNG HOA KỲ DONALD TRUMP - 9 GIỜ Đêm Thứ Ba Ngày  05-02-2019 TẠI WASHINGTON D.C.  HOA KỲ.  (Tiếp Theo)   Đêm nay, tôi cũng đề nghị các bạn thông qua đạo luật thương mại đối ứng của Hoa Kỳ, để nếu một quốc gia khác áp dụng mức thuế không công bằng đối với một sản phẩm của Mỹ, chúng tôi có thể tính cho họ mức thuế chính xác với cùng sản phẩm mà họ bán cho chúng ta. Cả hai đảng có thể đoàn kết để xây dựng lại cơ sở hạ tầng đổ nát của Hoa Kỳ. Tôi biết rằng Nghị viện rất mong muốn thông qua dự luật cơ sở hạ tầng, và tôi rất mong muốn được làm việc với bạn về luật này để tạo điều kiện cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng mới và quan trọng, bao gồm đầu tư vào các ngành công nghiệp tiên tiến trong tương lai. Đây không phải là một lựa chọn. Đây là một điều cần thiết. Ưu tiên chính tiếp theo đối với tôi, và đối với tất cả chúng ta là giảm chi phí chăm sóc sức khỏe và thuốc theo toa, đồng thời bảo vệ những bệnh nhân không được hưởng các ưu đãi từ trước. Với những nỗ lực quản trị của tôi, năm 2018, giá thuốc đã giảm mạnh nhất trong 46 năm qua. Nhưng chúng ta phải làm nhiều hơn nữa. Không thể chấp nhận được việc người Mỹ trả nhiều tiền hơn cho cùng một loại thuốc, thường được sản xuất ở cùng một nơi, so với người dân ở các quốc gia khác. Điều này là sai, không công bằng, và cùng nhau chúng ta có thể ngăn chặn nó. Và chúng tôi sẽ nhanh chóng xóa bỏ nó. Tôi đang đề nghị Nghị viện thông qua luật để giải quyết vấn đề global freeloading (tạm dịch: sử dụng các dịch vụ công cộng toàn cầu) và mang lại sự công bằng và minh bạch về giá [khám chữa bệnh] cho bệnh nhân Mỹ. Chúng tôi cũng sẽ yêu cầu các công ty dược phẩm, công ty bảo hiểm và bệnh viện thông tin giá [khám chữa bệnh] thật để thúc đẩy cạnh tranh và giảm chi phí. Không có lực lượng nào trong lịch sử thúc đẩy chất lượng sống của con người hơn được Tự do Mỹ. Trong những năm gần đây, chúng ta đã đạt được tiến bộ đáng kể trong cuộc chiến chống lại HIV và AIDS. Những đột phá khoa học đã mang tới những điều chỉ có trong giấc mơ. Tôi đề nghị Đảng Dân chủ và Cộng hòa đưa ra cam kết cần thiết để loại bỏ HIV ở Hoa Kỳ trong vòng 10 năm. Chúng tôi đã có những bước tiến đáng kinh ngạc. Đáng kinh ngạc. Cùng nhau, chúng ta sẽ đánh bại AIDS ở Mỹ. Và hơn thế nữa. Đêm nay, tôi cũng đề nghị các bạn tham gia cùng tôi trong một cuộc chiến khác mà tất cả người Mỹ có thể vượt qua, cuộc chiến chống ung thư cho các bệnh nhân nhỏ tuổi. Ngồi cùng Melania trong phòng tối nay là một cô bé 10 tuổi rất dũng cảm, dễ thương, Grace Eline. Chào Grace. [Mọi người cười] Kể từ sinh nhật năm 4 tuổi, mỗi khi tới sinh nhật của mình Grace đề nghị bạn bè quên góp cho Bệnh viện Jude [có dự án] nghiên cứu về trẻ em. Cô bé không biết rằng một ngày kia mình lại là một bệnh nhân. Đó là những gì đã xảy ra. Năm ngoái, Grace được chẩn đoán mắc bệnh ung thư não. Ngay lập tức, cô bé được xạ trị. Đồng thời, cô bé đã kêu gọi và quyên góp được hơn 40.000 đô la cho cuộc chiến chống ung thư. Khi Grace kết thúc việc điều trị bệnh vào mùa thu năm ngoái, các bác sĩ và y tá của cô đã động viên cô bé rất nhiều, họ yêu mến cô bé, họ vẫn yêu mến cô bé. Cô bé đã khóc khi cầm tấm biển ghi dòng chữ “ngày hóa trị cuối cùng”. Cảm ơn Grace. Con là nguồn cảm hứng tuyệt vời cho mọi người trong căn phòng này. Cảm ơn nhiều. Nhiều trẻ bị ung thư đã không được tiếp cận với các liệu pháp điều trị mới trong nhiều thập kỷ. Tôi sẽ đề nghị Quốc hội chi 500 triệu đô la trong 10 năm tới để tài trợ cho những nghiên cứu quan trọng về vấn đề này. Để hỗ trợ các bậc cha mẹ đi làm, đã đến lúc thông qua lựa chọn trường học cho trẻ em Mỹ. Tôi cũng tự hào là tổng thống đầu tiên đưa vào ngân sách của mình một kế hoạch cho phép nghỉ làm có lương trên toàn quốc, để các bậc cha mẹ có cơ hội gần gũi với đứa con mới sinh của mình. Không có sự tương phản nào đối với hình ảnh đẹp người mẹ đang bế con sơ sinh của mình hơn là sự lạnh lùng mà Quốc gia chứng kiến gần đây. Những nhà lập pháp tại New York đã phấn khởi thông qua luật cho phép loại bỏ đứa trẻ ra khỏi lòng mẹ trước khi bé chào đời. Đó là những trẻ xinh đẹp, nhạy cảm, và đang sống nhưng sẽ không có cơ hội lan tỏa tình yêu và ước mơ của mình cho thế giới. Và, Thống đốc tiểu bang Virginia còn tuyên bố rằng sẽ hành hình em trẻ sau khi chào đời. Để bảo vệ phẩm giá của mỗi người, tôi đang yêu cầu Quốc hội thông qua luật nghiêm cấm phá thai trễ những trẻ có thể cảm thấy đau đớn trong lòng mẹ. Hãy cùng nhau xây dựng một nền văn hóa trân trọng những sinh mạng vô tội. Và hãy xác quyết một lần nữa chân lý nền tảng: tất cả trẻ em – đã sinh hay chưa được sinh – đều được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Phần cuối của chương trình nghị sự của tôi sẽ là về An ninh Quốc gia Hoa Kỳ. Suốt hai năm vừa qua, chúng ta đã tái thiết hoàn toàn Quân lực Hoa Kỳ - với 700 tỉ USD năm ngoái và 716 tỉ USD năm nay. Chúng ta cũng có được sự chia xẻ tài chánh công bằng từ những nước khác. Trong nhiều năm, Hoa Kỳ đã bị NATO đối xử rất bất công – nhưng bây giờ chúng ta đã có thêm 100 tỉ USD chi tiêu quốc phòng do các đồng minh NATO khác đóng góp. Như là một phần của kế hoạch xây dựng quân đội của chúng ta, nước Mỹ đang phát triển Hệ thống Phòng thủ Hỏa tiễn hiện đại nhất. Dưới Cháính phủ của tôi, chúng ta sẽ không bao giờ xin lỗi vì đã đặt ích lợi của nước Mỹ lên trên hết. Ví dụ, nhiều thập niên trước đây, nước Mỹ và Nga đã cùng ký kết một hiệp ước trong đó đồng ý giới hạn và giảm khả năng hỏa tiễn của chúng ta. Trong khi chúng ta tuân theo thỏa thuận, thì Nga hết lần này đến lần khác lại vi phạm nó. Đó là lý do vì sao tôi tuyên bố rằng Hoa Kỳ chánh thức rút khỏi Hiệp ước về loại bỏ hỏa tiễn tầm trung (the Intermediate-Range Nuclear Forces Treaty), hay Hiệp ước INF. Chúng ta có thể đàm phán một thỏa thuận khác, thêm cả Trung Quốc và các nước khác, hoặc không thể - trong trường hợp đó, chúng ta sẽ chi và đổi mới để vượt qua tất cả. Là một phần của chiến lược ngoại giao táo bạo mới, chúng ta tiếp tục sự thúc đẩy lịch sử hòa bình trên Bán đảo Triều Tiên. Những con tin của chúng ta đã về nhà, các cuộc thử nghiệm hạt nhân đã dừng lại, và không có cuộc thử nghiệm hỏa tiễn nào trong vòng 15 tháng qua. Nếu tôi không đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ, thì có lẽ lúc này, theo tôi thì sẽ có một cuộc chiến tranh với Bắc Hàn rồi. Vẫn còn rất nhiều việc phải làm, nhưng mối quan hệ của tôi với ông Kim Chính Ân vẫn rất tốt đẹp. Và Chủ tịch Kim và tôi sẽ gặp nhau lần nữa vào ngày 27-28 tháng Hai tại Việt Nam. Hai tuần trước, Hoa Kỳ đã chính thức công nhận chính phủ hợp pháp của  Venezuela, với Tổng thống lâm thời, Juan Guiado. Chúng tôi sẽ sát cánh cùng nhân dân Venezuela trong hành trình mưu cầu tự do cao quí của họ - và chúng tôi lên án sự tàn ác của Chế độ Maduro, với các chính sách xã hội chủ nghĩa đã làm cho một đất nước từ thịnh vượng nhất khu vực Nam Mỹ thành một nơi nghèo đói và tuyệt vọng nhất. Ngay tại Hoa Kỳ, chúng ta lo sợ trước những lời mời gọi chấp nhận chủ nghĩa xã hội. Nước Mỹ được thành lập trên nền tảng tự do và độc lập – không phải là sự cưỡng bách, sự thống trị và sự kiểm soát của chánh phủ. Chúng ta được sinh ra cùng với sự tự do, và chúng ta sẽ luôn tự do. Đêm nay, chúng tôi nhắc lại quyết tâm rằng Hoa Kỳ sẽ không bao giờ là một quốc gia xã hội chủ nghĩa. Một trong những thách thức phức tạp nhất mà chúng ta phải đối mặt là ở Trung Đông. Cách tiếp xúc của chúng tôi dựa trên thuyết duy thực theo nguyên tắc – không phải những lý thuyết khô khan đã thất bại trong việc chuyển giao tiến bộ hàng thập niên. Ví lý do này, Chánh quyền của tôi đã thừa nhận thủ đô đích thực của Israel – và tự hào mở cửa Tòa Đại sứ  Mỹ tại Jerusalem. Những chiến binh dũng cảm của chúng ta đã chiến đấu tại tại Trung Đông gần 19 năm. Ở Afghanistan và Iraq, gần 7,000 anh hùng Hoa Kỳ đã hiến dâng mạng sống của mình. Hơn 52,000 người Mỹ chịu thương tích trầm trọng. Chúng ta đã chi hơn 7 ngàn tỉ USD cho vùng Trung Đông. Là một ứng viên cho chức Tổng thống, tôi cam kết một cách giao hão mới. Các quốc gia vĩ đại không chiến đấu trong những cuộc chiến tranh dài bất tận. Khi tôi nhậm chức, ISIS đã kiểm soát hơn 20,000 dặm vuông tại Iraq và Syria. Hôm nay, chúng ta đã giải phóng trên gần như tất cả vùng lãnh thổ ấy khỏi sự kìm kẹp của những tay sát thủ tàn bạo này. Giờ đây, chúng tôi đang cùng với các đồng minh tiêu diệt tàn dư của ISIS, đây là lúc gửi tới những chiến binh dũng cảm của chúng ta tại Syria một cái ôm ấm áp chào đón họ trở về nhà. Tôi cũng thúc đẩy các cuộc đàm phán để đạt được thỏa thuận chính trị tại Afghanistan. Quân đội của chúng ta đã chiến đấu bằng sự dũng cảm không ai bì kịp – và nhờ sự dũng cảm của họ, giờ đây chúng ta có thể theo đuổi một giải pháp chánh trị cho cuộc xung đột đẫm máu và kéo dài này. Ở Afghanistan, Chính quyền của tôi đang tổ chức các cuộc nói chuyện mang tính xây dựng với một số nhóm ở Afghanistan, bao gồm Taliban. Khi có sự tiến triển trong các cuộc đàm phán này, thì chúng ta có thể giảm quân số hiện diện và tập trung vào việc chống khủng bố. Chúng tôi không biết liệu chúng ta có thể đạt được một thỏa thuận hay không – nhưng chúng tôi biết rằng sau hai thập niên chiến tranh, điều mà ta phải đạt được ít nhất phải là hòa bình. Trên tất cả, bằng hữu và địch thủ đều nghi ngờ sức mạnh và thiện chí bảo vệ người dân của nước Mỹ. 18 năm trước, bọn khủng bố đã tấn công tàu USS Cole – và tháng vừa rồi quân lực Hoa Kỳ đã tiêu diệt một trong những tên thủ lãnh của vụ tấn công đó. Thật vinh dự khi hiện diện cùng chúng ta tại đây có Tom Wibberley, con trai của ông, Thủy thủ Hải quân Craig Wibberley, là một trong 17 thủy thủ đã hi sinh. Tom: chúng tôi hứa sẽ không bao giờ quên những anh hùng của tàu USS Cole. Chính quyền của tôi đã hành động kiên định để đối mặt với nhà bảo trợ khủng bố hàng đầu thế giới: chế độ cực đoan Iran. Để chắc rằng chế độ độc tài thối tha này không bao giờ có được vũ khí hạch tâm, tôi đã rút Hoa Kỳ khỏi thỏa thuận hạch tâm Iran tồi tệ. Và mùa thu vừa rồi, chúng ta đã đưa ra các biện pháp trừng phạt cứng rắn nhất trên đất nước này. Chúng tôi sẽ không bao giờ rời mắt khỏi cái chế độ đã mang lại mất mát cho Hoa Kỳ và đe dọa diệt chủng người Do Thái. Chúng tôi không bao giờ phớt lờ thứ độc dược ghê tởm của chủ nghĩa bài Do Thái, hay những kẻ lan tỏa tín điều tàn bạo của nó. Không nhiều lời, ta phải đối mặt với sự hận thù này ở mọi nơi và bất kỳ nơi nào nó xuất hiện. Vài tháng trước, 11 người Mỹ gốc Do Thái đã bị giết trong một cuộc tấn công vào Giáo đường Tree of Life ở Pittsburgh. Thành viên của đội SWAT, Timothy Matson đã lao vào làn đạn và bị bắn bảy phát khi truy đuổi kẻ sát nhân. Tuy vừa trải qua cuộc phẫu thuật lần thứ 12 – nhưng Timothy vẫn có mặt ở đây với chúng ta. Sĩ quan Matson: Chúng tôi sẽ mãi ghi ơn vì sự can đảm khi đối mặt với tội phạm của anh. Cũng hiện diện tại đây còn có Judah Same, người sống sót sau vụ xả súng ở Pittsburgh. Ông tới giáo đường khi cuộc tấn công bắt đầu. Nhưng đây không phải là lần đầu tiên ông sống sót sau một vụ thảm sát – hơn 70 năm về trước, ông cũng thoát khỏi những trại tập trung của Đức Quốc xã. Hôm nay là ngày sinh nhật thứ 81 của ông. Judah nói rằng ông vẫn nhớ như in những gì đã xảy ra gần 75 năm trước. Sau 10 tháng ở trong tại tập trung, một hôm gia đình ông được đưa lên xe lửa và được cho biết sẽ đi tới một trại khác. Đột nhiên toàn tàu rít lên và ngừng lại. Một quân nhân xuất hiện. Gia đình của Judah nghĩ đến điều tồi tệ nhất. Và rồi, cha của ông bật khóc và nói trong sung sướng: “Người Mỹ đấy.” Joshua Kaufman, một người sống sót khác sau thảm họa Holocaust, cũng đang có mặt tại đây. Ông là tù nhân tại Trại Tập trung Dachau. Ông nhớ lại rằng mình đã quan sát mọi thứ bằng lỗ hổng trên vách xe trở gia súc khi lính Mỹ kéo đi bằng xe tăng. “Với tôi,” Joshua nhớ lại, “những quân nhân Mỹ thật đã chứng tỏ rằng Thiên Chúa có thật, và họ ngự xuống từ trên trời.” Tôi bắt đầu đêm nay bằng sự vinh danh ba quân nhân đã chiến đấu trong ngày D-Day trong Thế chiến Thứ II. Một trong số họ là Herman Zeitchik. Nhưng còn nhiều nữa những câu chuyện như của Herman. Một năm sau ngày đổ bộ vào bờ biển Normandy, Herman là một trong những quân nhân đã góp phần giải phóng Dachau. Ông là một trong những quân nhân Hoa Kỳ đã giải cứu Joshua khỏi địa ngục trần gian. Gần 75 năm sau, Herman và Joshua lại cùng nhau hiện diện tại đây trong căn phòng này – ngồi cạnh nhau, trong ngồi nhà tự do Hoa Kỳ. Herman và Joshua: sự hiện diện của các bạn là niềm vinh hạnh và nâng đỡ toàn bộ Đất nước của chúng ta. Khi những quân nhân Hoa Kỳ ra đi dưới bầu trời  tăm tối để hướng về nước Anh vào sớm ngày D-Day văm 1944, họ là những chàng trai trẻ ở độ tuổi 18 hoặc 19, lên những chiếc tàu đổ bộ mong manh để hướng về trận đánh quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh. Họ chẳng biết mình sẽ sống sót nỗi một giờ hay không. Họ chẳng biết mình có già đi không. Nhưng họ biết rằng Hoa Kỳ phải chiến thắng trận đánh này. Động lực của họ là Quốc gia, và các thế hệ sau. Tại sao họ làm thế? Họ làm thế vì nước Mỹ - họ làm thế vì chúng ta. Mọi sự xuất hiện từ đó – chiến thắng của chúng ta trước chủ nghĩa cộng sản, những bước nhảy khổng lồ trong khoa học và khám phá, những tiến bộ vô song hướng về bình đẳng và công lý – tất cả những thành tựu này đều có dấu ấn của máu, nước mắt, sự can đảm và tầm nhìn của những người Mỹ đi trước. Hãy nghĩ về đồi Capitol – về căn phong trang trọng này, nơi các nhà lập pháp trước các bạn đã bỏ phiếu để bãi bỏ chế độ nô lệ, xây dựng các tuyến đường sắt và đường cao tốc, đánh bại phát xít, bảo vệ quyền dân sự, hạ gục chế độ gian tà. Đêm nay, hiện diện cùng chúng ta là các nhà lập pháp từ khắp nơi trong nền cộng hòa thần kỳ này. Họ đến từ những bờ đá ở Maine và các đỉnh núi lửa ở Hawaii; từ những rặng rừng tuyết ở Wisconsin và những sa mạc đỏ ở Arizona; từ những trang trại xanh tươi ở Kentucky và những bờ biển vàng ở California. Cùng nhau, chúng ta đại diện cho Quốc gia đặc biệt nhất lịch sử. Ta sẽ làm gì trong khoảnh khắc này đây? Ta sẽ làm gì để được nhớ tới? Tôi yêu cầu các dân biểu trong Quốc hội này: Hãy nhìn vào những cơ hội  trước mặt chúng ta! Những thành tựu phi thường nhất đang ở phía trước. Những hành trình thú vị nhất đang chờ đợi. Những thắng lợi vĩ đại nhất đang tới. Chúng ta vẫn chưa bắt đầu mơ ước. Chúng ta phải chọn việc được nhớ tới vì những khác biệt – hay vì dám thách thức và vượt qua chúng. Chúng phải chọn hoặc hoang phí di sản mà chúng ta được thừa hưởng – hay tự hào tuyên bố rằng mình là người Mỹ. Chúng ta làm những việc phi thường. Chúng ta thách thức cái bất khả. Chúng ta chinh phục cái chưa biết. Đây là lúc khơi lại hình ảnh của Hoa Kỳ. Đây là lúc tìm kiếm những đỉnh cao nhất, và hướng tầm nhìn lên những ngôi sao sáng. Đây là lúc thắp lại những mối quan hệ của tình yêu, lòng trung thành, và ký ức đã gắn chúng ta lại cùng nhau, với tư cách là công dân, với tư cách là láng giềng, với tư cách là những kẻ ái quốc. Đây là tương lai của chúng ta – số mệnh của chúng ta – và lựa chọn của chúng ta. Tôi yêu cầu quí vị hãy chọn lấy sự vĩ đại! Bất chấp những gian nan, thử thách mà ta phải đối mặt, chúng ta hãy cùng nhau tiến lên. Và hãy luôn ghi nhớ điều này trong tim. Chúng ta phải gìn giữ tự do sống trong linh hồn mình. Và phải luôn giữ đức tin về định mệnh của Hoa Kỳ - Một quốc gia nằm dưới sự quan phòng của Thiên Chúa, phải là niềm hi vọng, phải là lời hứa, phải là ánh sáng, và phải là vinh quang giữa tất cả các quốc gia trên thế giới. Cảm ơn quí vị. Thiên Chúa ban phước lành trên quí vị. Thiên Chúa ban phước lành trên nước Mỹ. Và chúc một buổi tối tốt lành!