• 0 Nguồn Gốc và Tín Lý Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần - Mục sư Huỳnh Christian Timothy

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Bài 4 Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement) Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement) hoặc "Làn Sóng Thánh Linh Thứ Ba" (The Third Wave of the Holy Spirit) bắt đầu vào đầu thập niên 1980 và vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay. Các phong trào như: Vineyard Christian Fellowship, Global Harvest, Toronto Blessing, Eternal Grace là biến dạng của Phong Trào Dấu Lạ. Những người thuộc Phong Trào Dấu Lạ không chấp nhận họ thuộc về Ngũ Tuần hoặc Ân Tứ. Điểm khác biệt nổi bật của Phong Trào Dấu Lạ đối với Ân Tứ và Ngũ Tuần là Phong Trào Dấu Lạ có khuynh hướng không nhấn mạnh đến sự kiện "nói tiếng lạ" như là bằng chứng của một người đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Nhiều nhà lãnh đạo trong phong trào này không hề có kinh nghiệm "nói tiếng lạ," trái lại, họ quan tâm đến khía cạnh dấu kỳ, phép lạ, các sự hiện thấy, sự nói tiên tri, cùng cái gọi là "lời nói thông biết" (the word of knowledge – được tận dụng trong chương trình truyền hình 700 Club của Pat Robertson trong sự tuyên bố các chi tiết về sự chữa lành xảy ra cho một số khán thính giả đang ngồi tại nhà riêng, xem chương trình 700 Club qua máy truyền hình). Phong Trào Dấu Lạ chấp nhận cả hai quan điểm về sự được báp-tem bằng Thánh Linh: 1. Một người được tái sinh và được báp-tem bằng Thánh Linh khi thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, (quan điểm của Tin Lành truyền thống). Những người thuộc Giáo Phái Vineyard Christian Fellowship bảo vệ tích cực quan điểm này. 2. Một người được báp-tem bằng Thánh Linh nếu tìm cầu điều này sau khi tin nhận Chúa, (quan điểm của Ân Tứ và Ngũ Tuần). Báp-tem bằng Thánh Linh không liên quan đến sự cứu rỗi mà chỉ liên quan đến năng lực sống đạo và giảng đạo. Peter Wagner (Global Havest Ministry) và John Wimber (Vineyard Christian Fellowship) được xem là những nhân vật tiên phong của Phong Trào Dấu Lạ. Vào năm 1977, Carol, vợ của Wimber, vốn xuất thân từ Công Giáo, nằm chiêm bao thấy mình được đầy dẫy Thánh Linh và khi bà thức dậy thì biết "nói tiếng lạ." Mười tháng sau, Wimber kinh nghiệm được một sự chữa lành trong chính thân thể của ông và bắt đầu tin rằng việc chữa bệnh, đuổi quỷ như Đức Chúa Jesus là khả thi. Nhờ quen biết với Peter Wagner, một giảng sư tại Fuller Theological Seminary School of World Missions mà Wimber được mời cùng dạy lớp "Dấu Lạ" (Signs and Wonders) tại Fuller Seminary với Wagner. Lớp học này dạy về sự chữa lành thiên thượng và trở thành lớp học nổi tiếng nhất tại Fuller cho đến khi bị đình chỉ vào năm 1985, vì các viên chức trong trường có những thắc mắc về tính thần học và kinh viện của môn học. Bên cạnh hiện tượng "bị giết trong Thánh Linh" như trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần, có ba hiện tượng nổi bật trong Phong Trào Dấu Lạ được cho là sự thể hiện của Đức Thánh Linh, là: Tiếng Cười Thánh (The Holy Laughter – sự vui mừng khi được đầy dẫy Thánh Linh khiến một người trở thành "say Thánh Linh," không kềm hãm được tiếng cười biểu lộ niềm vui), Tiếng Gầm Tiên Tri (The Prophetic Roar – tiếng rống lớn phát ra từ cổ họng của những người được đầy dẫy Thánh Linh, được cho là dấu hiệu Đức Chúa Trời thông báo sự kiện Ngài bắt đầu chiếm lại quyền tể trị thế giới này từ Satan), và Âm Thanh Của Thú Vật (The Animal Noises – sự tru, hú, gầm gừ như các loài thú, kể cả cục tác như gà, rống như heo, và tru như chó… chưa được những người Ân Tứ định nghĩa) [2]. Gần đây, Wimber đã yêu cầu các hội chúng thuộc giáo phái Vineyard Christian Fellowship do ông sáng lập ngưng chấp nhận hiện tượng Tiếng Cười Thánh. Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần trong Hội Thánh Việt Nam Tin Lành đến Việt Nam vào năm 1911 do các giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp. Vào giữa thập niên 1960, các Giáo Phái Ngũ Tuần, và Giáo Phái Anh Em (Quaker) đem theo hiện tượng "nói tiếng lạ," theo chân những người lính viễn chinh Hoa Kỳ đến Việt Nam, và tạo ra vài nhóm nhỏ tại Saigon nhưng không gây ảnh hưởng nhiều đến Hội Thánh Việt Nam. Phong Trào Ân Tứ đến Việt Nam vào cuối thập niên 1960 và bắt đầu trong Giáo Hội Công Giáo trước, qua Phong Trào Công Giáo Về Nguồn (do những người Công Giáo chủ trương quay lại với lời Chúa, là Thánh Kinh, khởi xướng). Chính hiện tượng "nói tiếng lạ" trong Phong Trào Công Giáo Về Nguồn gây nhiều chú ý đến các mục sư và tín đồ thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Có một số sinh viên Tin Lành đã tham dự sinh hoạt với Phong Trào Công Giáo Về Nguồn và nhận được sự "nói tiếng lạ." Nhiều sinh viên Tin Lành khác bắt đầu nghiên cứu về các Giáo Phái Ngũ Tuần. Điều đáng nói là thuở ấy tài liệu biện giáo thì ít, hầu như là không có, trong khi các tài liệu cổ võ về Phong Trào Ngũ Tuần thì tràn ngập, cho nên, các sinh viên chỉ học biết một chiều về những điểm tích cực của Ngũ Tuần. Hội Thánh Việt Nam, vào thời đoạn đó, phần lớn là tín đồ thuộc Giáo Phái Phúc Âm Liên Hiệp (The Christian and Missionary Alliance với danh xưng chính thức là: Hội Thánh Tin Lành Việt Nam) đã tích cực chống đối các hiện tượng “đặt tay té ngã” và "nói tiếng lạ." Ít lâu sau, một vài mục sư và tín đồ thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam nhận được sự "nói tiếng lạ" trong khi nhóm họp với các nhóm Công Giáo Về Nguồn, hoặc trong khi nhóm họp với các nhóm Anh Em (Quaker). Sau đó, một vài mục sư đã ly khai Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, sáng lập các giáo phái Ngũ Tuần Việt Nam. Năm 1972, tại Việt Nam có sự phục hưng phát sinh từ Thánh Kinh Thần Học Viện tại Nha Trang. Trong cuộc phục hưng đó, không có sự kiện té ngã, không có sự kiện "nói tiếng lạ" nhưng có sự tan vỡ cõi lòng, khóc lóc, ăn năn, xưng tội tập thể, đốt bỏ bùa chú, hình tượng, mọi người làm hòa với nhau, có sự chữa lành bệnh tật tức thì (không phải lành bệnh từ từ), có sự đuổi quỷ, có sự người chết được sống lại… nghĩa là có đầy đủ dấu hiệu Hội Thánh được đầy dẫy Thánh Linh như đã được ghi chép trong Thánh Kinh. (Xin xem "Phép Lạ Rừng Xanh," Bà Phạm Văn Năm; "Việc của Đức Giê-hô-va," Pastor Trương Văn Tốt; "Công Cuộc Truyền Giáo Tin Lành," Pastor Phạm Xuân Tín). Trước khi Hội Thánh Việt Nam bị Phong Trào Ân Tứ xâm nhập và bị cường quyền đàn áp thì Đức Chúa Trời đã thương xót, cho Hội Thánh được nếm trải sự tuôn tràn Thánh Linh, để dựa vào đó mà phân biệt với hiện tượng “nói tiếng lạ” đến từ tà linh. Sau năm 1975, Phong Trào Ân Tứ bắt đầu lan tràn khắp Miền Nam Việt Nam trong các nhóm Tư Gia, (những nhóm nhỏ nhóm họp thờ phượng Chúa tại nhà riêng để tránh sự đàn áp của chính quyền), và phát triển mạnh mẽ vào cuối thập niên 1990 nhờ các tài liệu về Ân Tứ được dịch ra Việt Ngữ và phổ biến trong các nhóm Tư Gia; đồng thời, có nhiều Giáo sĩ Ân Tứ người Việt cũng như người ngoại quốc, từ nước ngoài âm thầm xâm nhập Việt Nam qua hình thức thăm quê hương và du lịch để quảng bá cho Phong Trào Ân Tứ. Trong giai đoạn đó, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam một mặt buộc phải hòa hoãn với chính quyền mới để được công nhận tư cách pháp nhân, một mặt các mục sư bị cán bộ và công an tôn giáo theo dõi chặt chẽ, cho nên, sinh hoạt của Hội Thánh dần dần bị giảm thiểu và khô cạn. Trong hoàn cảnh đó, những sứ giả của Ân Tứ và Ngũ Tuần càng nổ lực phát triển mô hình nhóm nhỏ, nhóm tại tư gia và tích cực trong công tác truyền giáo. Có thể nói, số người tuyên xưng đức tin trong Đấng Christ thuộc các Hội Thánh Tư Gia phần lớn là tín đồ mới chứ không phải tín đồ từ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam chuyển sang. Đến cuối thập niên 1990, với sự tiếp sức của các giáo phái Ân Tứ và Ngũ Tuần Nam Hàn, với áp lực của các doanh nhân Nam Hàn trên chính quyền Việt Nam, không bao lâu, phong trào Tin Lành Tư Gia phát triển rầm rộ, xây cất nhiều cơ sở nhóm họp, gây tiếng vang trong và ngoài nước. Hiện nay, có thể nói, số thành viên thuộc các nhóm Ân Tứ và Ngũ Tuần tại Việt Nam nhiều hơn số thành viên thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Điều đáng chú ý là những người đi tiên phong trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần tại Việt Nam thiếu sự hiểu biết về lịch sử và tín lý của các phong trào này, cho nên, tạo ra một nét đặc thù của Ân Tứ và Ngũ Tuần Việt Nam. Nét đặc thù đó là: Ân Tứ và Ngũ Tuần Việt Nam tổng hợp tất cả những đặc tính của các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần phát sinh từ Hoa Kỳ. Đối với người Ân Tứ và Ngũ Tuần Việt Nam, bất kỳ giáo sĩ, hoặc tài liệu, hoặc tài chánh của bất kỳ một giáo phái Ân Tứ và Ngũ Tuần nào từ Hoa Kỳ đến, đều được hoan nghênh nhiệt liệt. Người Ân Tứ và Ngũ Tuần Việt Nam chỉ dựa vào một mẫu số chung: hiện tượng “đặt tay té ngã” và “nói tiếng lạ,” cùng sự chữa bệnh, đuổi quỷ (!) Các giáo lý mới lạ được đón nhận dễ dàng dựa trên lý luận: điều đó nghe hợp lý và do “mục sư danh tiếng” giảng thì chắc là không sai. Điển hình là giáo lý về Tin Lành Thịnh Vượng (The Prosperity Gospel) do Kenneth Hagin, Benny Hinn, và Joel Osteen giảng dạy; giáo lý Chiều Kích Thứ Tư (The Fourth Dimension) do David (Paul) Yonggy Cho (quản nhiệm một hội chúng với số thành viên lên đến trên 850,000 người) khởi xướng. Hội Thánh Việt Nam tại Hải Ngoại, đặc biệt là tại Đức và các nước thuộc khối Liên sô cũ, cũng bị Phong Trào Ân Tứ xâm nhập mạnh mẽ. Có những nơi, hầu như hoàn toàn là Ân Tứ. Hầu như Tin Lành truyền thống không có chỗ đứng trong các nước này, vì hai lý do chính: 1. Các giáo phái thuộc Giáo Hội Tin Lành Truyền Thống của người Việt không tích cực trong công tác truyền giáo. 2. Nếu các giáo phái thuộc Giáo Hội Tin Lành Truyền Thống có đi truyền giáo thì hầu hết cũng thỏa hiệp với các giáo sĩ của Ân Tứ và Ngũ Tuần. Còn một lý do phụ là: Cách thức nhóm họp, thờ phượng sôi nổi với các hiện tượng đặc thù của Ân Tứ, Ngũ Tuần như: “đặt tay té ngã,” “nói tiếng lạ,” và nhảy múa dễ thu hút những người Việt Nam phần lớn tha hương từ miền Bắc Việt Nam. Hai cánh đồng truyền giáo Việt Nam rất lớn tại Mã-lai và Nam Hàn cũng không thoát ra ngoài tình trạng nói trên. Riêng tại Bắc Mỹ, cho đến giữa thập niên 2000, Ân Tứ và Ngũ Tuần rất khó xâm nhập vào Hội Thánh Việt Nam, bởi vì, phần lớn các Hội Thánh Việt Nam thuộc về các giáo phái truyền thống. Từ 2005 cho đến nay, tình hình đang chuyển hướng: hàng trăm mục sư thuộc các giáo phái truyền thống như Báp-tít và CMA cũng nghiêng về Phong Trào Ân Tứ, cho phép các mục sư Ân Tứ đến giảng và đặt tay cầu nguyện, chữa bệnh, đuổi quỷ trong Hội Thánh do mình quản nhiệm hoặc trong các Trại Bồi Linh do mình tổ chức. Một trong các mục sư Ân Tứ Việt Nam tiếng tăm là Huỳnh Quốc Khánh, quản nhiệm Vietnamese Baptist Church tại Houston, Texas, USA. Trên website của tổ chức này [3] có các bài dịch và ghi âm Việt Ngữ tác phẩm Chiều Kích Thứ Tư của David (Paul) Yonggy Cho. Từ năm 2004 đến nay, hàng năm, vào tháng 10, Mục Sư Khánh và Vietnamese Baptist Church tại Houston tổ chức Hội Đồng Phục Hưng. Số mục sư và tín đồ thuộc đủ giáo phái về tham dự ngày càng đông hơn là các cuộc Hội Đồng Thường Niên của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Giáo Hạt Bắc Mỹ hoặc Liên Hữu Baptist Việt Nam tại Hoa Kỳ. Kỳ Sau Tín lý của Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần

  • 0 Nguồn Gốc và Tín Lý Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần - Tiếp Theo và Hết - Mục sư Huỳnh Christian Timothy

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Bài 5 Tín lý của Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần Tưởng cũng nên nói đến chi tiết về hiện tượng xảy ra vào ngày 1 tháng 1 năm 1901 tại Trường Thánh Kinh Bethel, Topeka, Kansas để phân biệt với các hiện tượng xảy ra sau này trong các Phong Trào Ân Tứ. Khi nữ sinh viên Agnes Ozman đứng lên yêu cầu ông Hiệu Trưởng Charles Fox Parham đặt tay trên cô cầu nguyện để cô nhận được ân tứ nói ngoại ngữ thì Parham đã đáp ứng yêu cầu của cô. Liền khi đó, Ozman đã bật lên nói tiếng Trung Hoa (Quan Thoại) và suốt hai tuần sau đó, cô chỉ có thể nói và viết bằng tiếng Quan Thoại, là ngôn ngữ mà trước đó cô chưa từng biết đến. Trong vòng tuần lễ kế tiếp, chính Parham và các sinh viên khác cũng bắt đầu nói được các thứ tiếng ngoại quốc khác mà họ chưa bao giờ học biết. Sự kiện đó khiến cho Parham tuyên bố là thời đại Ngũ Tuần đã được tái diễn và ông chiêu mộ những người tình nguyện đi ra nước ngoài làm giáo sĩ, với lòng tin rằng khi đến địa điểm truyền giáo, Đức Thánh Linh sẽ mở miệng các giáo sĩ rao giảng bằng thổ âm địa phương mà họ không cần phải học tập trước. Dĩ nhiên, Đức Thánh Linh đã không làm việc theo cách đó, công cuộc truyền giáo của Parham bị thất bại nặng nề, và khiến ông sửa đổi tín lý về việc “speak in tongues” như sau: “Một người được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết nói ngoại ngữ và thứ ngoại ngữ đó không nhất thiết phải là một ngôn ngữ có người hiểu được.” Quan điểm này về sau tạo thành lỗ hỗng cho sự kiện “nói tiếng lạ” cũng được xem là ân tứ nói ngoại ngữ (speak in tongues). Người Mormon tôn cuốn Kinh Mormon có thẩm quyền ngang hàng với Thánh Kinh. Người Giê-hô-va Chứng Nhân tôn các tài liệu của Hội Tháp Canh có thẩm quyền ngang hàng với Thánh Kinh. Người Công Giáo tôn các truyền thống của giáo hội và những giáo lý do các giáo hoàng đưa ra có thẩm quyền ngang hàng với Thánh Kinh. Người Ân Tứ tôn các khải tượng, lời tiên tri của họ có thẩm quyền hơn cả Thánh Kinh. Thậm chí, họ không còn sống đạo dựa trên Thánh Kinh nữa mà hoàn toàn dựa trên các khải tượng và các lời tiên tri của họ, cùng lời giảng của những người lãnh đạo phong trào. John Wimber, lãnh tụ của Phong Trào Ân Tứ Làn Sóng Thứ Ba, khi bị thách thức về tính phù hợp lời dạy của Thánh Kinh cho những hiện tượng xảy ra tại Yorba Linda, California, (như: la hét lớn tiếng, cười như mất trí, co giật như bị động kinh, té xuống ngất đi, miệng sủi bọt trắng, kêu khóc, tru, rống như thú vật…), đã tuyên bố: “Đức Chúa Trời ở trên Lời của Ngài” (God is above His Word) và “Đức Chúa Trời không bị giới hạn bởi Lời của Ngài” (God is not limited by His Word). Nói cách khác, John Wimber không cần dựa vào Thánh Kinh để xác chứng các hiện tượng. Khi có ai đó tuyên bố bất cứ một điều gì có thẩm quyền ngang hàng với Thánh Kinh, thì đó là tà giáo và con dân Chúa cần phải tránh cho thật xa sự giảng dạy đó, vì ngoài Ba Ngôi Thiên Chúa, Thánh Kinh là thẩm quyền duy nhất và tuyệt đối trong đời sống của con dân Chúa. Bất cứ một điều gì không được Thánh Kinh dạy thì không thể biến đó thành tín lý và không nên giảng dạy, thực hành cho dù điều đó có vẻ hợp lý. Rô-ma 14:23 dạy: “Điều chi làm không bởi đức tin thì đó là tội lỗi;” mà đức tin của tín đồ Đấng Christ là đức tin vào trong chính mình Đấng Christ và lời của Ngài là Thánh Kinh. Đức tin của tín đồ Đấng Christ không dựa vào những kinh nghiệm hoặc cảm xúc thiếu sự xác chứng của Thánh Kinh. Cho dù là tiếng phán nghe được trong nội tâm hay là khải tượng, chiêm bao đến từ một nhân vật sáng láng tự xưng là Chúa mà những tiếng nói đó, những khải tượng, chiêm bao đó không phù hợp với lẽ thật đã được bày tỏ trong Thánh Kinh thì dứt khoát chúng không đến từ Chúa. Thánh Kinh ghi rõ lời cảnh báo sau đây: “Nào có lạ gì, chính quỷ Sa-tan mạo làm thiên sứ sáng láng” (II Cô-rinh-tô 11:14). Sự Báp-tem Bằng Thánh Linh Theo Thánh Kinh Theo Thánh Kinh, khi một người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ thì lập tức người đó được tha tội, được tái sinh, được báp-tem bằng Thánh Linh, được thánh hóa, được ban cho quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời, được lời hứa về sự sống đời đời, và được đồng kế tự với Đấng Christ. “Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp tem”(Ê-phê-sô 4:5). Một Chúa là Đức Chúa Jesus Christ. Một đức tin là đức tin vào trong Đấng Christ, nghĩa là tin vào mọi lời Ngài phán, vào mọi việc Ngài làm. Một phép báp-tem là phép báp-tem nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà Đấng Christ đã truyền trong Ma-thi-ơ 28:19. Trong phép báp-tem đó, khi nhân danh Đức Thánh Linh thì tín nhân được chính Đấng Christ báp-tem vào trong Thánh Linh. Sự kiện người thật lòng tin nhận Chúa liền được tái sinh và được báp-tem bằng Thánh Linh là một điều đương nhiên như khi một em bé vừa được sinh ra đời thì lập tức được nhúng chìm (báp-tem) vào trong bầu khí quyển, em bé chỉ việc hít thở không khí vào phổi. Sự kiện đầy dẫy Thánh Linh tùy thuộc vào lòng tin cậy và yêu mến Chúa của một người, như việc không khí có vào đầy buồng phổi của em bé hay không là tùy thuộc sự hít thở của em bé và sự thông suốt của đường hô hấp. Một người tin nhận sự cứu rỗi của Chúa nhưng chưa hết lòng yêu mến Chúa, vẫn còn lưu luyến hoặc chăm lo thế gian và những sự thuộc về thế gian thì không thể nào được đầy dẫy Thánh Linh. Những người như vậy, dầu có được một ngàn người đầy ơn, đặt tay cầu nguyện cho cũng sẽ không bao giờ đầy dẫy Thánh Linh. Sự Đầy Dẫy Thánh Linh Mệnh lệnh của Chúa là: “Đừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng; nhưng phải đầy dẫy Thánh Linh” (Ê-phê-sô 5:8). Ý nghĩa của mệnh lệnh này là đừng sống theo xác thịt, đừng chăm những sự thuộc về xác thịt, nhưng hãy sống theo Thánh Linh, chăm những sự thuộc về Thánh Linh (Rô-ma 8:5). Các sứ đồ của Chúa và các tín đồ của thời Hội Thánh mới thành lập đầy dẫy Thánh Linh vì họ đã bỏ hết mọi sự để đi theo Chúa, tích cực đáp lại lời kêu gọi của Ngài: “Đoạn, Ngài kêu dân chúng và môn đồ, mà phán rằng: Nếu ai muốn theo Ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta.” (Mác 8:34). Xin lưu ý, đây là điều kiện dành cho mọi người: người đã tin Chúa (các môn đồ) lẫn người chưa tin Chúa (dân chúng). Họ đã bán hết tài sản để nhập làm của chung, sống yêu thương hiệp một với nhau trong danh Chúa (Công Vụ Các Sứ Đồ 4:32-35). Vì vậy, Hội Thánh được đầy dẫy Thánh Linh và Đức Thánh Linh được tự do hành động giữa Hội Thánh. Sự đầy dẫy Thánh Linh; vì thế, tùy thuộc vào tấm lòng của người tin Chúa chứ không tùy thuộc vào sự đặt tay cầu nguyện. Ngày nào Hội Thánh ăn năn tội, xưng nhận tội, bỏ hết mọi sự, đi theo Chúa với lòng sốt sắng yêu mến Chúa và yêu thương lẫn nhau như Hội Thánh lúc ban đầu, ngày đó Hội Thánh sẽ được phục hưng, sẽ được đầy dẫy Thánh Linh. Sự kiện một tín đồ Đấng Christ chân thành khao khát được đầy dẫy Thánh Linh, được sống một đời sống sung mãn trong Đấng Christ, sinh ra nhiều bông trái thuộc linh, hoàn toàn xứng hiệp với thánh ý của Chúa. Sự khao khát chân chính đó sẽ được Đức Chúa Trời đáp ứng khi một người thật sự ở trong Đấng Christ và lời của Đấng Christ ở trong họ (Giăng 15:5, 7). Điều sai lầm là có những người chưa chịu từ bỏ nếp sống cũ tội lỗi, vẫn còn ưa thích thế gian và những điều thuộc về thế gian, nhưng lại muốn đầy dẫy Thánh Linh, muốn có được quyền năng và phép lạ để chứng tỏ “trình độ” thuộc linh của mình, để được loài người tôn vinh mình, chạy theo mình… như thuật sĩ Si-môn trong Công Vụ Các Sứ Đồ chương 8. Nếu không có sự ăn năn tội, xưng tội, từ bỏ thế gian, hết lòng vâng phục lời Chúa thì các dấu kỳ, phép lạ có được, chẳng qua là đến từ Sa-tan, là kẻ mạo làm thiên sứ sáng láng và những kẻ giúp việc nó (II Cô-rinh-tô 11:13-15). Dấu kỳ và phép lạ được làm ra trong danh Chúa không phải là bằng cớ xác chứng người làm ra chúng thuộc về Chúa. Chính nếp sống đạo và các giáo lý đi ngược lại lẽ thật của Thánh Kinh của những người “nhân danh Chúa nói tiên tri, trừ quỷ, làm phép lạ… ” giúp cho Hội Thánh của Chúa nhìn ra những kẻ mang lốt chiên đến cùng Hội Thánh (Ma-thi-ơ 7:15-23). Kết Luận Đứng trước những biến động trong Hội Thánh do các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần gây ra, người tín đồ chân chính của Đấng Christ đối diện với hai sức kéo: 1. Hoàn toàn phủ nhận các phong trào này là công vụ của Đức Thánh Linh và duy trì sinh hoạt của Hội Thánh trong khuôn khổ truyền thống xưa nay. 2. Hoàn toàn ủng hộ các phong trào này như là những cuộc phục hưng của Hội Thánh bởi quyền phép của Đức Thánh Linh, và như vậy, thay đổi hẳn lối sinh hoạt truyền thống của Hội Thánh. Nhiều người đã chọn thái độ thích đáng như sau: 1. Đối với các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần: Gạt bỏ tất cả những hiện tượng xuất thần không được Thánh Kinh hổ trợ, như: hiện tượng đặt tay té ngã, hiện tượng tiếng cười thánh, hiện tượng âm thanh của súc vật… Gạt bỏ tất cả những sự thể hiện ân tứ không đúng với chỉ thị xử dụng ân tứ trong Thánh Kinh, như: “nói tiếng lạ” không có người thông giải, và những cuộc truyền giảng chữa bệnh, đuổi quỷ. Gạt bỏ tất cả các giáo lý không có trong Thánh Kinh hoặc đi ngược lại sự dạy dỗ của Thánh Kinh, như: giáo lý Đức Chúa Trời Một Ngôi (Oneness), giáo lý Tin Lành Thịnh Vượng, giáo lý Chiều Kích Thứ Tư… Cần chấp nhận tuyệt đối thẩm quyền của Thánh Kinh trong mọi sinh hoạt của Hội Thánh. 2. Đối với truyền thống: Bỏ đi những sự thờ phượng nặng phần hình thức mà thiếu quyền năng sống động, tươi mới của Đức Thánh Linh. Bỏ đi quan điểm “các ân tứ của Đức Thánh Linh đã chấm dứt sau thế kỷ thứ nhất”. Cần tích cực truyền giáo với quyền năng và sức sống của Đức Thánh Linh. Riêng đối với Hội Thánh Việt Nam, chẳng những cần có một thái độ thích đáng như trên mà còn cần dẹp tan tinh thần giáo phái và lối tổ chức giáo quyền hàng dọc. Cầu xin sự thương xót của Đức Chúa Trời bao phủ trên Hội Thánh Việt Nam để mỗi người chăn và mỗi con chiên đều nhìn thấy thực trạng của Hội Thánh, sẵn lòng hạ mình ăn năn, xưng tội với Đức Chúa Trời và với nhau, hết lòng sống Lời Chúa và giảng Lời Chúa một cách trung thực để Hội Thánh thực sự được phục hưng và dân tộc Việt Nam có nhiều người được cứu. A-men! Huỳnh Christian Timothy 09.01.2007 Hiệu Đính lần Thứ Nhất 13.12.2012 Ghi Chú [1] Xem ý nghĩa các phép báp-tem tại đây: http://timhieutinlanh.net/node/455 [2] Các websites sau đây sưu tầm rất nhiều những đoạn video ghi lại các hiện tượng kể trên: http://www.bible.ca/tongues-audio-video-documentation.htmhttp://video.google.com/videoplay?docid=-5162260544921752923 [3] http://www.vbcweb.org/media.php?catid=47

  • 0 Martin Luther - Người Thay Đổi Thời Đại - Ngy.Uyên Hiệu Đính

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Martin Luther - Người Thay Đổi Thời Đại Thời Niên Thiếu Martin Luther sinh ngày 10 tháng 11 năm 1483 tại Eisleben, Đế quốc La Mã Thần thánh (nay thuộc lãnh thổ nước Đức), con của Hans và Margaretha Luther. Cậu bé được báp-têm (baptized) vào ngày lễ thánh Martin nên được đặt tên theo vị thánh này. Thân phụ của Martin sở hữu một mỏ đồng gần Mansfeld. Xuất thân từ giới nông dân, Hans quyết tâm muốn con trai của mình thành một công chức và gởi chàng Martin trẻ tuổi đến học tại các trường ở Mansfeld, Magdeburg và Eisenach. Năm 1501, vào tuổi 17, Martin Luther đến học tại Đại học Erfurt, tốt nghiệp cử nhân năm 1502, và sau đó là cao học (M.A.) năm 1505. Chìu theo ước muốn của cha, Martin theo học luật cũng tại Đại học Erfurt. Song vì Luther khao khát tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống, Luther bị thu hút bởi thần học và triết học, đặc biệt thích Aristotle. Cậu cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm từ hai nhà phụ giáo, Bartholomäus Arnoldi von Usingen và Jodocus Trufetter, từ hai vị thầy này, Luther học biết cách tra hỏi mọi điều, ngay cả những nhà tư tưởng vĩ đại nhất, và kiểm soát mọi sự qua kinh nghiệm của chính mình. Nhưng mọi sự đã thay đổi khi Martin Luther bị mắc kẹt trong một cơn giông bão với sấm sét vào mùa hè năm 1505. Trong nỗi kinh hoàng ấy, Martin Luther đã cầu Thánh Anne giải cứu và hứa nguyện trở thành tu sĩ.  Luther bỏ trường luật, bán hết sách vở, ngày 17 tháng 7 năm 1505, ông vào dòng tu kín Augustine tại Erfurt. Thân phụ, Hans Luther rất giận vì hành động này của con trai mình. Martin Luther cúc cung hiến mình cho cuộc sống khổ hạnh tại tu viện, tận tụy làm mọi việc lành để mong Thiên Chúa vui lòng, ông phục vụ người khác bằng cách cầu nguyện cho sự cứu rỗi linh hồn của họ. Luther thường xuyên kiêng ăn, tự hành xác, dành nhiều thì giờ để cầu nguyện cũng như đi hành hương và thường xuyên xưng tội. Nhưng dù cho Luther nỗ lực càng nhiều thì ông càng cảm thấy mình tội lỗi nhiều hơn. Sau chuyến hành hương đến Rôma năm 1511, khi trở về Đức quốc, Luther càng chìm sâu trong tuyệt vọng. Ông cảm nhận sâu sắc về tội lỗi và tình trạng bất xứng của mình, nhưng cùng lúc ông thấy mù mịt vì không tìm ra lối thoát. Lòng sùng tín theo kiểu cách thời Trung Cổ trở thành nỗi niềm cay đắng cho Luther, ông bỏ lễ Misa và ngưng đọc kinh. Ông giận Thiên Chúa và oán hận Ngài. Luther mô tả giai đoạn này là tràn đầy sự thất vọng tâm linh. Ông nói, "Tôi không chịu đến với Chúa Ki-tô như là Cứu Chúa và Đấng An ủi, nhưng tôi đã xem Ngài như là cai tù và đao phủ của linh hồn tôi. Linh mục bề trên của Martin Luther, Johann von Staupitz, tin rằng chàng tu sĩ trẻ tuổi cần được giải thoát khỏi trạng thái trầm tư u uất, ông ra lệnh cho Martin chú tâm vào sự nghiên cứu học thuật. Năm 1507, ông được thụ phong linh mục. Năm 1508, ông bắt đầu dạy thần học tại Đại học Wittenberg. Ông tốt nghiệp cử nhân về nghiên cứu Kinh Thánh năm 1508 và cử nhân tu từ học (môn học bắt buộc cho ngành thần học vào thời Trung Cổ) vào năm 1509. Đại học Wittenberg cấp bằng tiến sĩ thần học cho ông năm 1512. Khám phá Ân sủng của Thiên Chúa Những yêu cầu trong thời gian học tập cũng như khi chuẩn bị giáo trình giảng dạy sau này đã dẫn Martin Luther vào việc nghiên cứu Kinh Thánh. Chịu ảnh hưởng học thuyết nhân văn (humanism) phải đi đến tận gốc rễ của vấn đề đang nghiên cứu, ông đắm mình trong lời dạy của Kinh Thánh và các giáo phụ. Martin Luther kể lại rằng bước đột phá đặc biệt đến với ông vào năm 1513, lúc đang giảng dạy sách Thi thiên (Thánh vịnh). Khi đang chuẩn bị bài giảng cho học kỳ sắp tới, ông gặp trong Thi thiên 31: 1, “Xin hãy lấy sự công chính Ngài mà giải cứu tôi”. Đây là một câu Kinh Văn quen thuộc nhưng vào thời điểm ấy nó đến với Luther như một vết dao cắt. Ông cảm thấy sự công chính của Thiên Chúa thật đáng kinh khiếp: luôn nhắc nhở ông về tội lỗi của mình, khiến ông nghĩ về Chúa như một Đấng nghiêm khắc, ra tay đoán phạt con người dựa trên tiêu chuẩn công chính mà con người không bao giờ với tới. Luther quay sang những luận giải của Phao-lô chép trong thư tín La Mã 3: 23-24 để thấy mình bị cuốn hút vào tình trạng căng thẳng và tuyệt vọng. Đức tin đặt vào Chúa Ki-tô càng nâng cao những chuẩn mực đạo đức của Thiên Chúa, theo cách hiểu của Luther vào lúc ấy, là Đấng sẵn sàng ra tay trừng phạt con người đang đắm chìm trong tội lỗi. Trong nhiều ngày, Luther cố gắng tìm kiếm những câu chữ của Phao-lô hầu có thể tìm thấy ý nghĩa chính xác của Kinh Văn, cho đến khi ánh sáng soi rọi tâm trí ông để nhận ra rằng sự công chính của Thiên Chúa không phải là động lực thúc đẩy Ngài trừng phạt tội nhân, nhưng đấy là sự công chính dẫn đến sự tha thứ tội lỗi, bởi đó chúng ta được xưng công chính trước mặt Thiên Chúa do ơn thương xót của Ngài thể hiện qua sự cứu chuộc trong Chúa Giê-xu Ki-tô. Chỉ bởi đức tin mà chúng ta được xưng công chính. Sự xưng công chính ấy là sự ban cho từ Thiên Chúa, không phải bởi công đức của chúng ta. Ông nhận ra rằng mệnh đề "sự công chính của Thiên Chúa" trong La Mã 1: 17 không có nghĩa là sự công chính chủ động, theo đó con người được xưng công chính bởi Thiên Chúa dựa trên công đức của chính họ, nhưng là sự công chính thụ động, theo đó con người nhận lãnh sự công chính từ Thiên Chúa qua công đức trọn vẹn, sự sống, sự chết và sự phục sinh của Chúa Giê-xu. Chỉ bởi sự công chính này mà con người mới được Thiên Chúa chấp nhận. Những thuật ngữ như sám hối và công chính chỉ nên được hiểu theo nghĩa ấy. Càng nghiên cứu Kinh Thánh, Martin Luther càng tin rằng giáo hội đã đánh mất khả năng nhận biết những chân lý cốt lõi này. Và đối với Luther, quan trọng hơn hết thảy là tín lý được xưng công chính chỉ bởi đức tin. Ông viết, “Vầng đá nền vững chãi này mà chúng ta gọi là giáo lý xưng công chính, là trọng tâm của toàn bộ nền thần học Cơ Đốc mà mỗi người yêu kính Thiên Chúa cần phải thấu suốt.” Luther hiểu rằng sự xưng công chính hoàn toàn là công việc của Thiên Chúa. Trái với giáo huấn thời đó dạy rằng hành vi công chính của tín hữu là những hành động cùng thực thi với sự hợp tác của Thiên Chúa, Luther viết rằng tín hữu nhận lãnh sự công chính như một sự ban cho, không phải tự mình cố công ra sức; sự công chính không chỉ đến từ Chúa Ki-tô, nhưng đó chính là sự công chính của Ngài, và Ngài dành cho chúng ta khi chúng ta lấy đức tin để nhận lãnh.[25] “Đó là lý do tại sao chỉ có đức tin mới có thể khiến chúng ta trở nên công chính và làm trọn luật pháp”, Luther viết. “Đức tin khiến chúng ta nhận lãnh Chúa Thánh Linh qua công đức của Chúa Cơ Đốc.” Đức tin, theo Luther, là món quà đến từ Thiên Chúa. Ông luận giải về sự xưng công chính: “Trước tiên và quan trọng hơn hết: Chúa Giê-xu, Thiên Chúa và Chúa của chúng ta, đã chết vì tội lỗi chúng ta, đã sống lại để chúng ta được xưng công chính (La Mã 3: 24, 25. Chỉ mình Ngài là Chiên con của Thiên Chúa, là Đấng cất bỏ tội lỗi của thế gian (Phúc âm John 1:29), và Thiên Chúa đặt trên Ngài mọi sự vi phạm của chúng ta (Isaiah 53:6). Chúng ta đều đã phạm tội, và được xưng công chính, không phải bởi công đức và việc làm của mình, bèn là bởi ân điển của Chúa, qua sự cứu chuộc trong Chúa Giê-xu, trong huyết Ngài (La Mã 3: 23-25). Đây là điều cần thiết cho đức tin. Không thể đạt được điều này qua việc làm hay công đức. Như vậy, thật rõ ràng và chắc chắn rằng chúng ta được xưng công chính chỉ bởi đức tin…. Chúng ta không được xem nhẹ hay chối bỏ những tín lý này, ngay cả khi trời, đất và mọi sự đều qua đi.” Với niềm vui tìm ra chân lý, Martin Luther khởi sự giảng dạy lẽ thật rằng cứu rỗi là sự ban cho bởi ân điển của Thiên Chúa, được nhận lãnh bởi đức tin và lòng tin cậy vào lời hứa của Thiên Chúa tha thứ tội lỗi, dựa trên sự chết của Chúa Giê-xu trên thập tự giá. Tranh luận về phép giải tội Lần đầu tiên Martin Luther công khai thách thức quyền lực của giáo hoàng là vào năm 1517, về việc bán bùa xá tội (indulgence). Câu hỏi được đặt ra là liệu giáo hoàng (hoặc bất kỳ ai khác ngoài Chúa Ki-tô) có quyền lực hoặc thẩm quyền xử dụng công đức của Chúa Giê-xu và các thánh để cứu những người đang bị giam trong ngục luyện tội (purgatory) hay không? Luther không hài lòng việc bán bùa xá tội, ông tin rằng bùa xá tội chẳng có ích lợi gì cho việc cứu rỗi linh hồn ngoài mục đích làm đầy túi các chức sắc giáo hội. Ông cũng tin rằng việc mua bán bùa xá tội sẽ khuyến khích phạm tội vì khiến người ta tin rằng có thể dùng tiền mua được sự xá tội. Ông cũng hành hương đến La Mã vào năm 1510 nhưng chỉ để cảm thấy ghê tởm nơi chốn ấy, theo Luther, đầy dẫy sự tham lam và thối nát. Năm 1517, Tổng Giám mục Magdeburg và Halberstadt, Albert von Hohenzollern, muốn có thêm tước vị tổng giám mục Mainz (tước vị này mang lại nhiều lợi lộc và quyền lực của một vương hầu), nhưng theo luật giáo hội không ai có thể cai quản cùng lúc hai giáo phận. Tuy nhiên, vì cần tiền để xây dựng Đại Giáo đường Thánh Peter, Giáo hoàng Leo X cho phép Tổng Giá mục Albert nhận lãnh tước vị sau khi nộp tiền phạt vì vi phạm giáo luật. Vì phải vay mượn để nộp phạt nên Albert được phép bán bùa xá tội để có tiền trả nợ. Một tu sĩ Dòng Dominican tên Johann Tetzel được sai đi khắp giáo phận của Albert bán bùa xá tội, và Tetzel đã rất thành công trong công việc được giao phó. Frederick Hiền nhân, Vương hầu xứ Saxony, sở hữu một bộ sưu tập lớn các thánh tích. Bộ sưu tập này thu hút đông người đến chiêm ngưỡng vào ngày lễ Các thánh. Nhân dịp này Tetzel cũng đến Wittenberg để bán phép giải tội. Ngày 31 tháng 10 năm 1517, Luther viết thư cho Albrecht, Tổng Giám mục Mainz và Magdeburg, phản đối việc bán bùa xá tội, đính kèm một bản sao Tiểu luận “Tranh luận của Martin Luther về Quyền năng và Hiệu lực của Phép Giải tội’, được biết đến dưới tên 95 Luận đề. Hans Hillerbrand viết rằng Luther không có ý định đối đầu với giáo hội, nhưng xem cuộc tranh luận là một sự phản biện về học thuật đối với các tập tục của giáo hội, văn phong của ông thể hiện chủ tâm “tra cứu hơn là lập thuyết.” Luther bắt đầu thuyết giảng bác bỏ phép giải tội, ông treo 95 "Luận đề" tại cửa nhà thờ của lâu đài Wittenberg (nơi treo các thông báo của viện đại học), theo thông lệ vào thời ấy, nhằm mở ra cuộc tranh luận về phép giải tội. Những luận đề của Luther tố cáo sự tham lam và tinh thần thế tục đang phổ biến trong giáo hội (thể hiện qua việc bán bùa xá tội), và yêu cầu mở ra tranh luận về thần học. Ngay tức khắc các luận đề này được dịch từ tiếng Latin sang tiếng Đức, được in ra và phổ biến. Đây là cuộc tranh luận đầu tiên trong lịch sử có sự hỗ trợ của máy in. Chỉ trong vòng hai tuần lễ chúng đã được phổ biến rộng rãi trên toàn nước Đức, và chỉ trong hai tháng chúng được tìm thấy trên toàn lãnh thổ châu Âu. Phản Ứng Của Giáo Hoàng Sau khi tỏ ra xem thường "gã người Đức viết các luận đề khi say rượu, khi tỉnh ra anh ta sẽ đổi ý", Giáo hoàng Leo X vào năm 1518 chỉ thị Silvester Mazzolini, giáo sư thần học Dòng Dominican, xem xét vấn đề này. Nhận thấy Luther là một mối nguy hiểm, Mazzolini công bố Martin Luther là kẻ dị giáo và viết một bài phản bác các luận đề nhằm khẳng định thẩm quyền của giáo hoàng trên giáo hội Công giáo và khuyến cáo bất cứ sự chệch hướng nào cũng bị coi là dị giáo. Khi đang tham dự một hội nghị của Dòng Augustine tại Heidelberg, Martin Luther nhận được lệnh triệu tập đến La Mã. Trong khi vẫn tỏ ý trung thành với giáo hội, ông bắt đầu bác bỏ quyền lực tuyệt đối của giáo hoàng. Vì muốn giữ sự hòa hảo với Vương hầu Frederick, người có khả năng được bầu chọn làm hoàng đế cho Đế quốc La Mã Thần thánh và đang tỏ ra muốn bảo vệ Martin Luther, Giáo hoàng chọn giải pháp ôn hòa nhằm thuyết phục Martin Luther ngưng đả kích giáo hội, hãy viết thư tỏ ý thuận phục giáo hoàng và soạn một luận văn nhằm tôn vinh Giáo hội La Mã. Bức thư được viết nhưng không được gởi đi vì Martin Luther vẫn giữ nguyên chính kiến, sau này ông cũng viết một luận văn nhưng nhằm mục đích bác bỏ mọi linh nghiệm của phép giải tội. Cùng với một người bạn, Carlstadt, Martin Luther tham dự cuộc tranh luận với John Eck tại Leizpig từ 27 tháng 6 – đến 18 tháng 7 năm 1519. Tại đây, ông đã bác bỏ quyền lực tối thượng của ngai giáo hoàng, cho rằng "quyền cầm giữ chìa khoá nước Trời" là được ban cho toàn thể Hội thánh (nghĩa là cho tất cả tín hữu), ông cũng khẳng định rằng Giáo hội La Mã không giữ vai trò ưu việt nào trong sự cứu rỗi. Trong khi đó, các tác phẩm của Martin Luther ngày càng được phổ biến rộng rãi hơn, lan truyền đến Pháp, Anh, và Ý vào đầu năm 1519. Nhiều sinh viên tìm đến Wittenberg để nghe các bài thuyết giảng của Martin Luther và Philipp Melancthon. Năm 1518, Melancthon tìm đến để cộng tác với Luther. Trong thư gửi giới Quí tộc Đức, ấn hành vào tháng Tám năm 1520, Luther tin rằng cuộc cải cách đến từ ý muốn của Thiên Chúa nhưng đã bị khước từ bởi giáo hoàng và giới tăng lữ, ông cũng kêu gọi cải cách nhiều lãnh vực từ trong giáo hội ra ngoài xã hội. Trong tác phẩm “Đường dẫn đến sự Lưu đày tại Babylon của Giáo hội”, ông luận bàn về các thánh lễ, bác bỏ chủ nghĩa hình thức trong cử hành các thánh lễ và, theo ông, chỉ có Tiệc Thánh và Báp têm nên được kể là thánh lễ. Ngày 15 tháng 6 năm 1520, Giáo hoàng Leo X cảnh cáo Luther (chiếu chỉ Exsurge Domine) có thể bị dứt phép thông công nếu trong vòng 60 ngày không chịu rút lại 41 câu, trong đó có 95 luận đề. Sau khi thẳng thừng khước từ vâng phục mệnh lệnh của giáo hoàng, ngày 3 tháng 1 năm 1521, Martin Luther bị khai trừ khỏi giáo hội. Nghị Viện Worms Hoàng đế La Mã Thần thánh là Karl V khai mạc Nghị viện của Đế chế tại Worms ngày 22 tháng 1 năm 1521. Martin Luther được triệu tập để xác định lập trường của mình trước hoàng đế và nghị viện. Ông được hoàng đế cam kết bảo vệ an toàn trong thời gian này. Tại đây, John Eck, trong tư cách là phát ngôn nhân của hoàng đế, đối diện Luther với câu hỏi: "Ông có đồng ý bác bỏ các cuốn sách của ông cùng những điều lầm lạc được chép ở trong?" Câu trả lời của Luther: "Trừ khi được thuyết phục bởi Thánh Kinh – tôi không công nhận thẩm quyền của các giáo hoàng và các công đồng vì họ tự mâu thuẫn với nhau – lương tâm của tôi chỉ thuận phục Lời của Thiên Chúa, bởi vì chống lại lương tâm thì không đúng và cũng không an toàn". Trong năm ngày kế tiếp, các phiên họp kín được triệu tập để quyết định số phận của Luther. Ngày 25 tháng 5 năm 1521, Hoàng đế trình bày bản thảo Chiếu chỉ Worms tuyên bố Luther bị đặt ngoài vòng pháp luật, cấm các tác phẩm của ông, và yêu cầu bắt giữ ông, “Ta muốn bắt giữ và trừng phạt hắn như là một tên dị giáo xấu xa.” Chiếu chỉ kể là tội phạm bất cứ ai chứa chấp hoặc cấp dưỡng cho Luther, và cho phép mọi người giết Luther mà không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ẩn náu tại lâu đài Wartburg Câu chuyện Martin Luther mất tích trên đường về là một phần trong kế hoạch của Vương hầu Frederick nhằm bảo vệ ông. Một nhóm gồm năm kỵ sĩ bịt mặt chận bắt Martin Luther khi ông vừa rời khỏi Nghị viện Worms và đưa ông về lâu đài Wartburg. Tại đây ông phải mặc trang phục hiệp sĩ, để râu dài và được gọi với tên Junker Jorg (Hiệp sĩ George). Trong thời gian sống ẩn dật, Luther vẫn chuyên cần liên tục làm việc. Tại đây, ông bắt đầu dịch Thánh Kinh sang tiếng Đức. Bản Tân Ước nổi tiếng được ấn hành năm 1522. Trong khi đó, các thành phần cực đoan bắt đầu gây dựng thanh thế bên trong phong trào cải cách, và đặt phong trào còn non trẻ này vào nguy cơ bị dẫn đi lệch hướng khỏi tôn chỉ ban đầu, đặc biệt là khi những người Anabaptist đến từ Zwickau gia nhập nhóm này để đẩy nhanh tình trạng hỗn loạn vốn đã bộc phát từ khi Luther vắng mặt. Bất đồng với quan điểm cực đoan của nhóm này và rất lo lắng về những hậu họa do họ gây ra, ngày 6 tháng 3 năm 1522, Luther bí mật trở về Wittenberg. “Trong khi tôi vắng mặt,” ông viết cho Vương hầu Frederick, “Satan đã đột nhập vào bầy chiên, gây biết bao tàn hại mà tôi không thể nào cứu chữa được nếu chỉ bằng thư tín, tình thế đòi hỏi phải có sự hiện diện và tiếng nói của tôi.” Trở Lại Wittenberg Trong vòng tám ngày trong Tuần thánh, khởi đi từ Chúa nhật ngày 9 tháng 3 và kết thúc vào Chúa nhật sau, Luther đã giảng tám lần. Trong tám bài giảng này, ông dẫn dắt thính giả vào tâm điểm của những giá trị căn bản của Cơ Đốc giáo như tình yêu thương, đức nhẫn nại, bác ái, và sự tự do, cũng như nhắc nhở họ cần phải tin cậy Lời Thiên Chúa thay vì dùng bạo lực để tiến hành những cải cách cần thiết. Ông nói, “Các bạn có biết ma quỉ nghĩ gì khi nhìn thấy chúng ta xử dụng bạo lực để truyền bá phúc âm? Đằng sau những đám lửa hỏa ngục, ma quỉ ngồi khoanh tay, đôi mắt hiểm độc và nụ cười ghê rợn, rít lên rằng, “À, những tên điên khùng này đang làm đúng ý ta! Cứ để chúng tiếp tục, rồi ta sẽ hưởng lợi. Thật vui thích biết bao.” Nhưng khi ma quỉ nhìn thấy Lời Thiên Chúa được rao giảng và hiển lộ quyền năng, ma quỉ sẽ co rúm lại và run rẩy vì khiếp sợ.” Kinh Thánh Tiếng Đức Việc Martin Luther dịch Tân Ước ra tiếng Đức giúp người dân thường dễ gần gũi với Kinh Thánh, đồng thời làm suy giảm ảnh hưởng của giới tăng lữ. Ông đã dùng Thánh Kinh Hi Lạp văn của Erasmus để dịch. Trong thời gian dịch Thánh Kinh, ông thường đến các thị trấn lận cận, và vào các ngôi chợ để lắng nghe người dân nói chuyện với nhau hầu có thể đưa ngôn ngữ đại chúng vào bản dịch của ông. Tận dụng thời gian nhàn rỗi khi đang ẩn náu tại Lâu đài Wartburg, năm 1521 Luther một mình khởi sự dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức. Theo Philip Schaff, nhà thần học thế kỷ 19, chỉ riêng công trình này cũng đủ để Luther được công nhận là một trong số những người đóng góp nhiều nhất cho các dân tộc nói tiếng Đức. Bản dịch Tân Ước của Luther xuất bản vào tháng 9 năm 1522. Đến năm 1534, ông hoàn tất bản dịch Cựu Ước với sự cộng tác của Johannes Bugenhagen, Justus Jonas, Caspar Creuziger, Philipp Melanchthon, Matthäus Aurogallus, và George Rörer. Luther vẫn tiếp tục hiệu đính bản dịch cho đến cuối đời. Bản dịch Kinh Thánh của Luther đã đóng góp vào sự thành hình ngôn ngữ Đức đương đại, được xem là dấu mốc trong nền văn chương Đức. Bản Kinh Thánh năm 1534 của Luther tạo ảnh hưởng trên bản dịch của William Tyndale, là ấn bản tiền thân cho bản Kinh Thánh King James. Philip Schaff nhận xét về bản dịch này: “Kết quả lớn nhất của Luther trong thời gian ẩn náu tại Wartburg, cũng là thành tựu quan trọng nhất và hữu ích trong suốt cuộc đời ông, là bản dịch Tân Ước, qua đó ông đã mang sự giáo huấn và cuộc đời mẫu mực của Chúa Cơ Đốc và các Sứ đồ vào lòng và tâm trí của người dân Đức, như là một sự tái tạo giống y như thật. Kết quả này có thể được xem như là sự tái ấn hành phúc âm. Ông đã làm Kinh Thánh trở nên quyển sách của nhân dân, có mặt khắp mọi nơi, trong nhà thờ, trường học và gia đình.” Với bản dịch Cựu Ước ấn hành năm 1534, Martin Luther hoàn tất công trình dịch thuật toàn bộ Kinh Thánh. Công trình này giúp chuẩn hóa ngôn ngữ Đức và được xem là dấu mốc quan trọng trong lịch sử văn học Đức. http:codocnhan.org Ngy.Uyên Hiệu Đính (Nguồn: Wikipedia)

  • 0 Phong Trào Cải Chánh Thế Kỷ XVI - Ngy. Uyên

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Phong Trào Cải Chánh Thế Kỷ XVI Là một sinh viên thần học rất xuất sắc: - Trở thành tu sĩ và được thụ phong Linh mục năm 1507 - Nhanh chóng đỗ bằng Tiến sĩ Thần khoa - Được bổ nhiem làm Giáo sư tại Đại học Wittenberg. Martin Luther sinh ngày 10-11-1483. Lớn lên theo học trường đại học danh tiếng Erfurt tại Đức quốc, năm 1501, sau khi tốt nghiệp cử nhân. Năm 1505, ông tốt nghiệp Cao học nhưng sau đó ông vào tu viện Augustinians. Năm 1507, ông được thụ phong linh mục. Năm 1512, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Thần học và được mời dạy tại Đại Chủng viện Wittenberg. Trong thời đại Trung cổ, giáo hội đang trên đà suy đồi tâm linh trầm trọng, giới tăng lữ với nhiều mê tín dị đoan như bán bùa xá tội, giáo dân thì không đượcc đọc Thánh Kinh, chỉ có hàng giáo phẩm đọc Thánh Kinh với tiếng La-tinh trong giờ hành lễ. Khi Martin Luther đọc và nghiên cứu trong Thánh Kinh thì ông nhận thấy rằng địa vị của con người trước Thiên Chúa được cứu rỗi không do nơi việc làm tốt, thiện mà được xưng nghĩa, dù cố công ra sức làm việc lành. Duy chỉ có lòng nhân từ, tình yêu, ân phúc của Thiên Chúa ban cho qua Chúa Jêsus Christ, và bởi đức tin của chúng ta đặt nơi Ngài. Ngày 31-10-1517, Martin Luther đóng vào cửa giáo đường Wittenberg 95 Luận đề (Theses) chống lại việc buôn bán bùa xá miển tội. Những luận đề này đã được viết bằng La-tinh ngữ, về sau đã được dịch sang Đức ngữ. Martin Luther bắt đầu giảng dạy rằng con người được cứu rỗi không bởi việc làm tốt nhưng bởi ân phúc của Thiên Chúa, chứ không phải dùng tiền mà mua. Vì sự giảng dạy của Martin Luther, việc bán bùa xá miển tội của hàng tăng lữ đã bị mất đi mối lợi, khi giáo dân đã được nghe đến lời chân lý trong Thánh Kinh. Vatican cáo buộc Luther đã rao giảng điều sai lạc, và đòi Luther phải đối chất tranh biện với hàng giáo phẩm La-mã Công giáo, họ ép buộc Luther phải rút lại tất cả những lời ông đã giảng dạy. Tuy nhiên, Luther vẫn can đảm tiếp tục truyền giảng lời chân lý. Giáo hội La-mã Công giáo đã phản ứng mạnh mẽ, kết án ông là ‘dị giáo’ ‘tà đạo’ và ra lệnh ‘dứt phép thông công’ vào đầu năm 1521. Hoàng đế Charles V vâng lệnh giáo hội và ra lệnh truy nã Luther. Nếu bị bắt, Luther sẽ bị kết án tử hình. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã dùng các thân hữu của Luther, và họ đã tổ chức cuộc phục kích và ‘bắt cóc’ Martin Luther mang về một lâu đài ở Wartburg. Thánh Kinh Đức ngữ do Martin Luther dịch Tại đây, trong nhiều năm, Luther đã được an toàn để dịch Thánh Kinh sang Đức ngữ để rồi sau này, giáo dân đã được đọc Thánh Kinh bằng ngôn ngữ tiếng mẹ. Chúng ta vừa nói đến nguyên nhân của Phong trào Cải chánh Giáo hội, thoạt đầu, Tiến sĩ Martin Luther chỉ muốn gióng lên tiếng nói để giáo hội Công giáo La-mã quay trở về với nền tảng của đức tin dựa trên Thánh Kinh chứ không có ý muốn lập một giáo hội khác. Tuy nhiên, Giáo hội La-mã Công giáo đã lên án tử hình và nếu Thiên Chúa không gìn giữ thì ông phải mất mạng sống rồi. Từ đó, phong trào cải chánh trở về với Phúc âm của thế kỷ thứ nhất đã lan rộng và tạo nên một hậu quả là giáo dân được hiểu biết lời chân lý từ trong Thánh Kinh. Những tín hữu theo giáo lý và sự giảng dạy của Martin Luther được gọi là ‘Lutherans.’ Đến cuối thế kỷ 15, Giáo Hội Tin lành Lutheran tại Đức là cái nôi của Phong trào Cải Chánh Giáo hội nhanh chóng lan rộng đến các quốc gia thuộc vùng SCANDINAVI , tạo ảnh hưởng sâu rộng cho cả Âu châu. Các quốc gia Bắc Âu nhận Lutheran là quốc giáo như Na-uy, Thụy Điển, Đan-mạch, Phần lan, các quốc gia vùng Baltic như Estonia, Latvia, Lithuania, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo gia Lợi, Thụy sĩ. Phong trào cải chánh phát triển càng ngày càng lớn mạnh, nhiều Giáo đoàn  tại Âu châu đã hân hoan đón nhận giáo lý thuần chánh của Tiến sĩ Martin Luther, đồng thời các nhà cải cách khác như John Calvin tại Pháp, Zwingli tại Thụy sĩ rời Giáo Hội Công giáo La-mã, gia nhập phong trào cải chánh và đồng tuyên bố trở về với Tin Lành nguyên thủy trong Thế kỷ thứ nhất. Tại Đức có Giáo hội Evangelical Lutheran. Ngoài việc phiên dịch Kinh Thánh từ ngôn ngữ Hê-bơ-rơ, Hi-lạp, La-tinh sang Đức ngữ, Tiến sĩ Martin Luther đã xuất bản khoảng 400 tác phẩm, gồm những bài giải nghĩa Kinh Thánh, Giáo lý Căn bản, nhiều sách thần học làm nền tảng cho sự tổ chức giáo hội. Tiến sĩ Luther sáng tác nhiều thánh ca nổi tiếng. Ông về an nghỉ nơi Nước Chúa năm 1546, hưởng thọ 63 tuổi. Giáo hội Lutheran lan rộng sang các quốc gia Âu châu, Đan mạch, Thụy Điển, Na-uy có ảnh hưởng sâu rộng tại Anh, Tô-cách-lan. Có những nhà truyền giáo Lutheran đến Scandianavia, Phi châu, thế giới thứ ba, và Hoa kỳ. Đầu thế kỷ 16, những đoàn người thuộc Giáo Hội Tin Lành Lutheran từ Đức di dân đến Mỹ Quốc. Tiếp theo sau là những tín hữu Lutheran từ Đan-mạch và Bắc Âu đến Hoa Kỳ qua những đợt di dân. Hiện nay có khoảng 9 triệu tín hữu Tin Lành Lutheran tại Hoa Kỳ. A stained glass portrayal of Luther

  • 0 Anh Hùng Đức Tin Martin Luther (1483-1546) Tác giả: Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Như chúng ta đã biết, Hội thánh Chúa trước thế kỷ XV thỉnh thoảng có một vài cuộc phục hưng, có vài ba ngọn đuốc được thắp lên chiếu sáng cảnh trạng âm u của giáo hội. Thế nhưng, vài ba ngọn đuốc ấy chỉ lóe sáng rồi tắt đi để lại bóng tối tăm bao trùm Hội thánh Chúa. Execution of Jan Hus, an important Reformation precursor, in 1415 Và rồi đến 100 năm sau, khi thời điểm đến, Thiên Chúa đã chuẩn bị một anh hùng đức tin để đứng lên khởi xướng một cuộc cách mạng tâm linh vĩ đại. Khi Martin Luther mở mắt chào đời vào ngày 10 November năm 1483 tại Đức quốc, giáo hội La mã Công giáo đã và đang trong thời kỳ suy đồi thuộc linh trầm trọng, giới tăng lữ tu sĩ với những tệ đoan mê tín, đa số giáo dân không được đọc Thánh Kinh, chỉ có hàng giáo phẩm đọc đến với ngôn ngữ La-tinh trong giờ hành lễ. Giáo hội đã quên lãng và không hề nói đến Phúc âm của Thiên Chúa. Giáo hội không giảng dạy về sự tha thứ tội như là món quà biếu tặng, không phải mất tiền mua, nhưng chỉ do nơi đức tin ta đặt nơi Đấng Christ. Giới lãnh đạo tôn giáo không bao giờ rao giảng Tin mừng này cho giáo dân, thay vào đó, hàng giáo dân chỉ được nghe rằng họ phải làm điều này, vâng giữ điều kia để được Thiên Chúa xưng nghĩa. Đối với Martin Luther, ông đã có kinh nghiệm và tự thuật: Trong sự giáo huấn của giáo hội, ông cảm thấy một Thiên Chúa thịnh nộ chỉ có trừng phạt về tội lỗi. Từ thuở niên thiếu. Luther vốn là một trẻ sùng đạo và ước ao rằng về sau khi lớn lên mình sẽ là một linh mục. Ông nghĩ rằng nếu mình làm những điều thiện hão, nhiệt thành với tín ngưỡng và hành đạo trong giáo hội chắc chắn Thiên Chúa sẽ tiếp nhận mình. Dù ông đã cố gắng thực hành một nếp sống hành đạo như thế, ông vẫn có kinh nghiệm trong đời sống mình rằng tội lỗi vẫn tiếp tục khống chế dày vò, tâm hồn ông chưa hề có sự an bình thật. Thuở thiếu thời, khi còn ngồi ở ghế của bậc tiểu học, Luther đã được học giáo lý của giáo hội. Năm lên 13 tuổi, Luther đã được học ngôn ngữ La-tinh. Martin Luther thời kỳ tu học Năm 17 tuổi, Luther vào viện Đại học Erfurt. Là một sinh viên thông minh, thân phụ của Luther đã mong muốn con mình trở thành luật sư để có tiền bạc và danh vọng trong xã hội. Năm 1501, Luther được huấn luyện trong ngôi trường danh tiếng nhất tại Đức. Sinh viên theo học chương trình Cử nhân, trên một cấp là Master of Art (M.A.) với ba phân khoa: Luật, Y khoa và Thần học đã được xem là hoàng hậu của các bộ môn khoa học vào thời ấy. Các giáo sư dạy cấp này đều có Ph. D. Trường đòi hỏi sinh viên phải theo học các môn bắt buộc TRIVIUM: gồm có Grammar, Rhetoric, Dialectic (Biện chứng học) và Liberal Arts. QUADRIVIUM: Toán học, hình học, thiên văn học, âm nhạc. - Môn Grammar nhấn mạnh về văn chương cổ điển của các tác giả thời La mã cổ. - Môn Rhetoric nhấn mạnh mạnh đến nghệ thuật nói trước quần chúng, viết luận văn, thơ, luận dề Văn chương. - Môn học Dialectic rất quan trọng. Triết gia Aristotle cha của môn học này. Lúc ấy, Luther đã được để ý đến về tài năng tranh luận. Tháng January 1505, Luther tốt nghiệp M.A. Khi Luther tiếp tục theo học ngành Luật, có nghĩa là một tương lai huy hoàng, giàu sang, quyền quí với một cánh cửa mở rộng về sau. Sáu tháng sau trong năm ấy, một buổi chiều kia, ông đi bộ từ Mansfeld về Erfurt , thình lình một trận cuồng phong nổi lên, một luồng sét đánh ngang qua, làm cho Luther ngả sấp xuống, trong nỗi kinh hoàng ấy, Luther buột miệng kêu lên: ‘Xin cứu giúp tôi, thánh An-ne, tôi sẽ trở nên một tu sĩ.’ Sau biến cố này, Luther thay đổi phân khoa. Ông bỏ ngành Luật khoa và muốn vào một tu viện. Lúc ấy, có nhiều dòng tu như : Benedictine, Dominican, Franciscan, nhưng ông đã chọn dòng Observant Augustinians. Vào nhà dòng này, các tu sinh sống rất khắc khổ dưới một kỷ luật hãm xác. Trước tiên, Martin Luther phải trải qua một giai đoạn 30 ngày để được khảo sát về phần tâm linh, ông được khảo hạch tại sao lại muốn đi tu. Khi được nhà dòng chấp nhận lời hứa nguyện để trở nên một tu sinh, lúc hai giờ sáng, Luther và các đồng môn phải thức dậy để dự lễ nhất trong ngày, rồi tiếp theo có đến sáu lễ liên tiếp trong ngày, nhà dòng bắt buộc làm thế nhằm mục đích để phần hồn của các tu sinh không còn có khoảng trống nào xao lãng việc tu hành. Dòng tu Augustinians buộc các tu sinh phải đi ra ngoài để làm một hành khất đi xin thực phẩm. Luther có một ngưòi giám sát để hướng dẫn, khích lệ trong đời sống tu hành. Về sau, Luther đã kể lại từng trải: ‘Nếu có bất cứ ai muốn lên thiên đàng như là tu sĩ thì tôi là người trong số ấy.’ Các tu sinh thuộc dòng tu này cạo tóc trên đầu. Đời sống trong tu viện rất khắc khổ: tu sinh kiêng ăn suốt một thời gian dài, về đêm dù bên ngoài thời tiết rét buốt nhưng họ không có áo ấm, mền. Trong suốt những năm khổ tu, Luther mong mõi đi tìm tình yêu của Thiên Chúa với cả tấm lòng, cố công ra sức với một ý chí cương quyết, và muốn được thế, Luther quên đi những gì về trần tục, gia đình và chính con người mình. Tháng 5, 1507, Luther cử hành lễ Mi-sa đầu tiên. Năm 27 tuổi, ông đã được tuyển chọn đi Rome, đây là chuyến hành hương để đi gặp Pope. Khi đặt chân đến Vatican, Luther sấp mình xuống kêu lên: ‘Thành thánh La-mã, ôi thật phước hạnh biết bao!’ Cũng có nhiều linh mục khác từ bốn phương cùng đi hành hương tại La-mã và ai cũng muốn được vào giáo đường dâng lễ Mi-sa. Trải qua nhiều thứ Bảy, dù Luther muốn nhưng vẫn chưa có cơ hội, vì số linh mục đông quá! Luther đã viết lại: ‘Tôi chạy đến khắp nơi trong Nhà Nguyện, các bậc thang, khắp mọi nơi như một ông ‘thánh mad dây’, tôi chìm đắm trong giáo lý của Pope rằng tôi có thể giết người . . . để vâng phục Pope.’ Lutherhaus, Luther's residence in WittenbergLutherhaus, Luther's residence in WittenbergLutherhaus, Luther's residence in WittenbergLutherhaus, Luther's residence in WittenbergLutherhaus, Luther's residence in Wittenberg Lutherhaus, Luther's residence in Wittenberg Năm 1512, lúc 29 tuổi, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Thần học tại Đại Chủng viện Wittenberg. Về sau, ông dạy các môn Sáng-thế-ký, Thi-Thiên, Rô-ma, Ga-la-ti, Hê-bơ-rơ (1512-1 517) tại viện Thần học này. 95 Luận Đề Ngày 31-10-1517 Thời Trung cổ, trong Giáo hội La-mã Công giáo, sự giảng dạy mua bán bùa xá tội là phần chính yếu. Vatican dạy rằng thánh lễ Báp-têm (lễ rửa tội) là tẩy rửa tội tổ tông, giáo dân cần phải làm nhiều nhiều điều để được cứu rỗi ... Khi giáo dân qua đời thì linh hồn họ phải vào Ngục Luyện tội (Purgatory) tội Iỗi họ được lưu giữ trong hồ sơ của họ, linh hồn họ phải ở trong ngục luyện tội trước khi linh hồn họ được mang đến thánh Phê-rô và Đấng Christ tại cửa thiên đàng. Muốn được xá miển tội, trước khi chết,họ phải được giáo hội tha thứ hình phạt và giải thoát họ ra khỏi ngục luyện tội, bằng không họ cứ phải ở trong nơi đó đế sám hối. Trong ngục này, linh hồn giáo dân bị đau đớn khổ sở vô cùng và cách xa với thân nhân. Vì thế, bùa xá miển tội thật vô cùng đặc biệt để tẩy rửa tội của họ. Sự thực hành giáo lý này được truyền bá rộng rãi trong giáo hội vào cuối thời đại Trung co. Linh mục Johann Tetzel, người Đức, đi khắp nơi với đoàn quân lính hộ tống, ông có trang phục và huy hiệu của Giáo hoàng Leo X cấp phát . Các kỵ binh đi trước, có trống, kèn báo tin cho giáo dân biết. Trên một thập tự giá có ghi bảng giá tiền của bùa xá miển tội để mọi người nhìn thấy. Linh mục Tetzel bước lên bục cao của giảng đài và nói: ‘Quí vị có nghe tiếng van xin của thân nhân và cầu khẩn, ‘hãy thương xót chúng tôi, chúng tôi bị trừng phạt đau đớn, xin cứu giúp tôi ra khỏi nơi này.’ Quí vị có thể bỏ ra những đồng tiền để nhận các chứng chỉ xá miển tội hầu mang linh hồn chúng tôi lên thiên đàng sớm.’ Linh mục Tetzel nói tiếp: ’Khi nào đồng tiền rơi xuống đáy thùng, linh hồn của thân nhân quí vị sẽ siêu thoát, từ ngục luyện tội bay thằng lên thiên đàng.’ 95 Luận đề (Theses) nay được đúc bằng chữ đồng tại cửa giáo đường Ngày 31-10-1517, Martin Luther đóng vào cửa giáo đường Wittenberg 95 Luận đề (Theses) chống lại việc buôn bán bùa xá miển tội. Những luận để này đã được viết bằng La-tinh ngữ, về sau đã được dịch sang Đức ngữ. Martin Luther là một linh mục, giáo sư tiến sĩ dạy tại trường đại học, ông thông thạo các ngôn ngữ Hi-lạp, La-tinh, Hebrew. Martin Luther tuyên bố: ‘Bất cứ ai nghĩ và muốn rằng mình được cứu rỗi là do bùa xá tội thì sẽ bị hư mất cũng như các giáo sư của họ. Bất cứ ai là tín hữu thật, dù sống hay qua đời họ đều được dự phần trong ơn cứu rỗi bởi Thiên Chúa, chứ không do bất cứ một chữ nào của bùa xá tội.’ Khi học và nghiên cứu về các thư tín Ga-la-ti, Hê-bơ-rơ, Rô-ma, Martin Luther nhận thấy rằng địa vị của con người trước Thiên Chúa được cứu rỗi không do nơi việc làm tốt, thiện mà được xưng nghĩa, dù cố công ra sức làm việc lành. Duy chỉ có sự nhân từ, tình yêu, ân phúc của Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Chúa Jesus Christ, và bởi đức tin nơi Ngài. Martin Luther bắt đầu giảng dạy rằng con người được cứu rỗi không bởi việc làm tốt nhưng bởi ân phúc của Thiên Chúa hay phải dùng tiền mà mua. Vì sự giảng dạy của Martin Luther, việc bán bùa xá miển tội của hàng tăng lữ đã bị mất đi mối lợi, khi giáo dân đã được nghe đến lời chân lý trong Thánh Kinh. Vatican cáo buộc Luther đã rao giảng điều sai lạc, họ đòi Luther phải đối chất tranh biện với hàng giáo phẩm La-mã Công giáo, họ ép buộc Luther phải từ khước tất cả những lời ông đã giảng dạy. Tuy nhiên, Luther vẫn can đảm giữ nguyên và ông cứ tiếp tục truyền giảng lời chân lý, giáo hội đã phản ứng mạnh mẽ và ban hành lệnh ‘dứt phép thông công’ vào đầu năm 1521. Hoàng đế Charles V vâng lệnh giáo hội và ra lệnh truy nã Luther. Nếu bị bắt, Luther sẽ bị kết án tử. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã dùng các thân hữu của Luther, và họ đã tổ chức cuộc phục kích và ‘bắt cóc’ Martin Luther mang về một lâu đài ở Wartburg.  Wartburg Castle, EisenachWartburg Castle, EisenachWartburg Castle, Eisenach Wartburg Castle, EisenachWartburg Castle, Tại đây, trong nhiều năm, Luther đã được an toàn để dịch Thánh Kinh sang Đức ngữ để rồi sau này, giáo dân đã được đọc Thánh Kinh bằng ngôn ngữ tiếng mẹ. The Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. An original first edition is kept in the case on the deskThe Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. An original first edition is kept in the case on the desk The Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. An original first edition is kept in the case on the deskThe Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. An original first edition is kept in the case on the deskThe Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. Năm 1546, Martin Luther an nghỉ trong Nước Chúa. Những tín hữu theo giáo lý và sự giảng dạy của Martin Luther đưọc gọi là ‘Lutherans.’ Giáo hội Lutheran lan rộng sang các quốc gia Âu châu, có ảnh hưởng sâu rộng tại Anh, Tô-cách-lan. Có những nhà truyền giáo Lutheran đến Scandianavia, Phi châu, thế giới thứ ba, và Hoa kỳ.

  • 0 Cô Bé Bán Diêm (The Little Match Girl) - Hans Christian Anderson

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Cô Bé Bán Diêm (The Little Match Girl) - Hans Christian Anderson Lạnh chưa từng thấy. Tuyết lại rơi, bầu trời u ám, và màn chiều đã buông xuống, buổi chiều cuối cùng của năm. Trong bóng tối và gió lạnh tê tái, cô bé nghèo nàn thất thểu đi dọc theo ven đường, đầu để trần, chân đi đất. Lúc em rời nhà sáng nay, em cũng có đôi guốc đấy chứ. Thật thế, nhưng đôi guốc thì có giúp ích gì đâu! Đôi guốc rộng quá khổ, mẹ em vẫn còn đi, rộng đến nỗi, cô bé khốn khổ đánh rớt mất khi cô phải nhảy sang lề đường để tránh hai chiếc xe ngựa lộng lẫy đang phóng như bay trên đường phố. Một chiếc guốc mất tõng đâu rồi, còn chiếc kia thì một tên ranh con nhặt lấy, rồi chạy biến mất. Thằng ranh ấy có lẽ nghĩ rằng chiếc guốc to đủ để dùng làm nôi cho con của nó sau này. Thế là cô bé phải lết đi với đôi chân trần nhỏ bé, đôi chân đỏ lên và tím bầm vì lạnh. Cô bé mang theo một lô diêm quẹt, một số để ở trong túi yếm, một số cầm trên tay. Không ai mua diêm cuả cô cả, cả một ngày dài; Và cũng chẳng có ai cho cô một đồng xu. Cô gái đi rón rén, run rẩy vì lạnh và đói - một hình ảnh đau lòng, cô bé thật đáng thương! Nhiều cụm tuyết bám vào mái tóc dài của cô, những lọn tóc quăn và đẹp lượn quanh cổ nhỏ bé. Nhưng ngay cả hình ảnh của làn tóc, cô bé cũng chưa bao giờ được biết tới. Lúc ấy, bên trong các cửa sổ đã thắp nến lên, lấp lánh, và mùi vị ngỗng rô-ti bay ra thơm phức. Bạn phải biết rằng đây là đêm giao thừa và sắp bước qua năm mới. Đúng vậy, cô gái cũng nghĩ thế! Tới một cái góc do hai căn nhà tạo ra, vì căn nhà xây lấn ra đường nhiều hơn căn nhà nọ, cô bé ngồi xuống và co rúm người. Đôi chân gầy guộc của cô áp thật chặt vào người, nhưng cô vẫn thấy lạnh, càng lúc càng lạnh thêm, mà cô lại không dám trở về nhà, vì cô chưa bán được một cái que diêm nào, và một xu ăn xin cô cũng chẳng có: Cha cô chắc chắn sẽ cho cô một trận đòn, mà ở nhà thì cũng lạnh, nhà chỉ có cái mái che, gió rít từng hồi, dù cho các khe hở lớn đã có rơm và giẻ rách chẹn vào. Hai bàn tay nhỏ bé của cô bé gần như tê cóng lại. Ô! một cái diêm cháy có thể sẽ mang đến một chút ấm áp, nếu cô dám lấy một que diêm ra, trong cả một bó diêm, thì cô sẽ quẹt vào tường, và sưởi ấm những ngón tay. Thế rồi cô bé lấy một que diêm ra. “Xoạt!” que diêm sáng rực, cháy bùng! Một ngọn lửa sáng lên, ấm áp, giống như một ngọn nến, cô hơ tay lên trên: thật là một ánh sáng tuyệt vời. Giống như cô đang được ngồi trước một lò sưởi lớn, một cái lò có chân bằng đồng thau sáng chói và nắp củng bằng đồng thau trạm trổ. Ngọn lửa cháy mang lại một nguồn hạnh phúc lớn lao, mang lại một hơi ấm diệu kỳ. Cô bé duỗi chân ra để sưởi, nhưng ngọn lửa tắt phụt, lò sưởi biến mất: chỉ còn lại một chút than tàn lụi dần trong tay. Cô quẹt một que diêm khác vào tường: que diêm cháy sáng rạng rỡi, và nơi mà ánh sáng chiếu lên tường, nơi đó của bức tường trở nên trong suốt như thể người ta nhìn qua một tấm màn che, và cô có thể nhìn vào căn phòng. Đã có một cái bàn trải khăn trắng như tuyết, trên bàn chén bát lộng lẫy bằng sứ đã dọn sẵn, và một món ngỗng rô-ti có nhồi táo và mận khô hấp dẫn đang bốc khói. Nhưng điều bất ngờ xảy đến là, con ngỗng đã nhảy xuống bàn, lăn trên sàn sàn nhà với cả con dao và cái nĩa cắm sẵn trên ngực, lăn cho đến khi tới gần cô bé nghèo thì que diêm lại tắt và chẳng còn thấy gì nữa ngoài tường dày, lạnh lẽo, ẩm ướt. Cô bé quẹt một que diêm khác. Bây giờ, cô ngồi ngay dưới một cây giáng sinh lộng lẫy, một cây giáng sinh còn lớn hơn, và được trang hoàng nhiều hơn là cây giáng sinh mà cô nhìn thấy qua cửa kính của một nhà thương gia giàu có. Có hàng ngàn ngọn đèn sáng rực trên cành cây xanh, và có nhiều bức hình màu sắc, giống như là cô đã thấy trên cửa sổ của các gian hàng. Cô bé giơ tay với lên cây giáng sinh thì que diêm lại tắt. Ánh sáng cây giáng sinh bay bổng lên cao và cao hơn, cho đến khi trông giống như những vì sao trên trời; một vì sao rớt xuống và xẹt đi thành một vệt sáng dài. “Một người nào đó vừa mới qua đời!” Cô bé nói một mình. Đấy là điều mà bà ngoại già nua của cô, người duy nhất yêu thương cô, nhưng nay thì không còn nữa, bà đã nói với cháu gái rằng khi có một ngôi sao rơi, đấy là có một linh hồn bay lên với Chúa. Cô quẹt thêm một que diêm nữa: Lại một lần nữa có ánh sáng, và trong vầng hào quang hiện ra bà ngoại tươi sáng và rạng rỡ, rất dịu dàng, đầy vẻ thương yêu. “Bà ơi!” Cô bé kêu lên. “Ô, dẫn con đến với bà đi! Đừng đi mất khi que diêm tắt; bà đừng đi giống như cái lò sưởi, như con ngỗng thơm ngon, như cây Giáng sinh tuyệt vời!” Và cô vội quẹt hết bó diêm vào tường, cô muốn chắc chắn rằng bà ngoại ở lại với nó. Và bó diêm đã lòe lên một ánh sáng thật rực rỡ, sáng hơn cả buổi trưa ban ngày: bà của cô bé cũng trở nên tươi đẹp và cao lớn hơn bao giờ hết. Bà bế cô bé lên tay bà, và cả hai cùng bay bổng trong ánh sáng và niềm vui, lên cao, lên thật là cao, và rồi thì không còn lạnh nữa, cũng không còn đói nữa, cũng không còn lo lắng nữa - vì họ đi lên nhà của Chúa. Vào buổi sáng bình minh lạnh giá ngày hôm sau, tại cái góc nhà, cô bé vẫn ngồi bất động nơi đấy, với một đôi má hồng và một nụ cười tươi, thân mình vẫn còn dựa vào tường. Cô bé chết vì lạnh trong đêm cuối cùng của năm. Cái xác đông cứng còn ngồi bên cạnh một lô diêm, một bó đã cháy hết. “Nó cố sưởi ấm,” người qua đường thờ ơ nói. Nhưng lại không có ai nghĩ ra về những điều đẹp đẽ mà cô bé đã nhìn thấy. Không có ai đã dám mơ ước đến sự lộng lẫy huy hoàng, mà cô bé cùng bà đã đón mừng một Năm Mới.

  • 0 Cô Bé Bán Diêm (The Little Match Girl) - Hans Christian Anderson

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Hans Christian Andersen sinh ngày 02 tháng Tư năm 1805 và mất ngày 04 tháng 8 năm 1875. Ông là một nhà văn Đan Mạch nổi danh về những câu chuyện trẻ em. Những bài thơ và văn xuôi của ông đã được dịch ra hơn 150 ngôn ngữ, là nguồn cảm hứng cho nhiều bức tranh, vở kịch, vũ điệu ballet, và phim ảnh.Cùng với câu chuyện 'Oliver Twist' cuả Charles Dickens đã viết ra chín năm trước đó, câu chuyện 'The Little Match Girl' đã soi thêm một chút ánh sáng lương tâm vào một ngõ tối u uẩn mà xã hội Âu Châu thời bấy giờ làm ngơ. Đó là tình cảnh của những đứa trẻ con nhà nghèo, phải đi lao động sớm, bị hành hạ ngược đãi nhưng chỉ biết im lặng chiụ đựng.                            Mời quí vị đọc câu chuyện sau đây:Cô Bé Bán Diêm (The Little Match Girl) - Hans Christian Anderson Lạnh chưa từng thấy. Tuyết lại rơi, bầu trời u ám, và màn chiều đã buông xuống, buổi chiều cuối cùng của năm. Trong bóng tối và gió lạnh tê tái, cô bé nghèo nàn thất thểu đi dọc theo ven đường, đầu để trần, chân đi đất. Lúc em rời nhà sáng nay, em cũng có đôi guốc đấy chứ. Thật thế, nhưng đôi guốc thì có giúp ích gì đâu! Đôi guốc rộng quá khổ, mẹ em vẫn còn đi, rộng đến nỗi, cô bé khốn khổ đánh rớt mất khi cô phải nhảy sang lề đường để tránh hai chiếc xe ngựa lộng lẫy đang phóng như bay trên đường phố. Một chiếc guốc mất tõng đâu rồi, còn chiếc kia thì một tên ranh con nhặt lấy, rồi chạy biến mất. Thằng ranh ấy có lẽ nghĩ rằng chiếc guốc to đủ để dùng làm nôi cho con của nó sau này. Thế là cô bé phải lết đi với đôi chân trần nhỏ bé, đôi chân đỏ lên và tím bầm vì lạnh. Cô bé mang theo một lô diêm quẹt, một số để ở trong túi yếm, một số cầm trên tay. Không ai mua diêm cuả cô cả, cả một ngày dài; Và cũng chẳng có ai cho cô một đồng xu. Cô gái đi rón rén, run rẩy vì lạnh và đói - một hình ảnh đau lòng, cô bé thật đáng thương! Nhiều cụm tuyết bám vào mái tóc dài của cô, những lọn tóc quăn và đẹp lượn quanh cổ nhỏ bé. Nhưng ngay cả hình ảnh của làn tóc, cô bé cũng chưa bao giờ được biết tới. Lúc ấy, bên trong các cửa sổ đã thắp nến lên, lấp lánh, và mùi vị ngỗng rô-ti bay ra thơm phức. Bạn phải biết rằng đây là đêm giao thừa và sắp bước qua năm mới. Đúng vậy, cô gái cũng nghĩ thế! Tới một cái góc do hai căn nhà tạo ra, vì căn nhà xây lấn ra đường nhiều hơn căn nhà nọ, cô bé ngồi xuống và co rúm người. Đôi chân gầy guộc của cô áp thật chặt vào người, nhưng cô vẫn thấy lạnh, càng lúc càng lạnh thêm, mà cô lại không dám trở về nhà, vì cô chưa bán được một cái que diêm nào, và một xu ăn xin cô cũng chẳng có: Cha cô chắc chắn sẽ cho cô một trận đòn, mà ở nhà thì cũng lạnh, nhà chỉ có cái mái che, gió rít từng hồi, dù cho các khe hở lớn đã có rơm và giẻ rách chẹn vào. Hai bàn tay nhỏ bé của cô bé gần như tê cóng lại. Ô! một cái diêm cháy có thể sẽ mang đến một chút ấm áp, nếu cô dám lấy một que diêm ra, trong cả một bó diêm, thì cô sẽ quẹt vào tường, và sưởi ấm những ngón tay. Thế rồi cô bé lấy một que diêm ra. “Xoạt!” que diêm sáng rực, cháy bùng! Một ngọn lửa sáng lên, ấm áp, giống như một ngọn nến, cô hơ tay lên trên: thật là một ánh sáng tuyệt vời. Giống như cô đang được ngồi trước một lò sưởi lớn, một cái lò có chân bằng đồng thau sáng chói và nắp củng bằng đồng thau trạm trổ. Ngọn lửa cháy mang lại một nguồn hạnh phúc lớn lao, mang lại một hơi ấm diệu kỳ. Cô bé duỗi chân ra để sưởi, nhưng ngọn lửa tắt phụt, lò sưởi biến mất: chỉ còn lại một chút than tàn lụi dần trong tay. Cô quẹt một que diêm khác vào tường: que diêm cháy sáng rạng rỡi, và nơi mà ánh sáng chiếu lên tường, nơi đó của bức tường trở nên trong suốt như thể người ta nhìn qua một tấm màn che, và cô có thể nhìn vào căn phòng. Đã có một cái bàn trải khăn trắng như tuyết, trên bàn chén bát lộng lẫy bằng sứ đã dọn sẵn, và một món ngỗng rô-ti có nhồi táo và mận khô hấp dẫn đang bốc khói. Nhưng điều bất ngờ xảy đến là, con ngỗng đã nhảy xuống bàn, lăn trên sàn sàn nhà với cả con dao và cái nĩa cắm sẵn trên ngực, lăn cho đến khi tới gần cô bé nghèo thì que diêm lại tắt và chẳng còn thấy gì nữa ngoài tường dày, lạnh lẽo, ẩm ướt. Cô bé quẹt một que diêm khác. Bây giờ, cô ngồi ngay dưới một cây giáng sinh lộng lẫy, một cây giáng sinh còn lớn hơn, và được trang hoàng nhiều hơn là cây giáng sinh mà cô nhìn thấy qua cửa kính của một nhà thương gia giàu có. Có hàng ngàn ngọn đèn sáng rực trên cành cây xanh, và có nhiều bức hình màu sắc, giống như là cô đã thấy trên cửa sổ của các gian hàng. Cô bé giơ tay với lên cây giáng sinh thì que diêm lại tắt. Ánh sáng cây giáng sinh bay bổng lên cao và cao hơn, cho đến khi trông giống như những vì sao trên trời; một vì sao rớt xuống và xẹt đi thành một vệt sáng dài. “Một người nào đó vừa mới qua đời!” Cô bé nói một mình. Đấy là điều mà bà ngoại già nua của cô, người duy nhất yêu thương cô, nhưng nay thì không còn nữa, bà đã nói với cháu gái rằng khi có một ngôi sao rơi, đấy là có một linh hồn bay lên với Chúa. Cô quẹt thêm một que diêm nữa: Lại một lần nữa có ánh sáng, và trong vầng hào quang hiện ra bà ngoại tươi sáng và rạng rỡ, rất dịu dàng, đầy vẻ thương yêu. “Bà ơi!” Cô bé kêu lên. “Ô, dẫn con đến với bà đi! Đừng đi mất khi que diêm tắt; bà đừng đi giống như cái lò sưởi, như con ngỗng thơm ngon, như cây Giáng sinh tuyệt vời!” Và cô vội quẹt hết bó diêm vào tường, cô muốn chắc chắn rằng bà ngoại ở lại với nó. Và bó diêm đã lòe lên một ánh sáng thật rực rỡ, sáng hơn cả buổi trưa ban ngày: bà của cô bé cũng trở nên tươi đẹp và cao lớn hơn bao giờ hết. Bà bế cô bé lên tay bà, và cả hai cùng bay bổng trong ánh sáng và niềm vui, lên cao, lên thật là cao, và rồi thì không còn lạnh nữa, cũng không còn đói nữa, cũng không còn lo lắng nữa - vì họ đi lên nhà của Chúa. Vào buổi sáng bình minh lạnh giá ngày hôm sau, tại cái góc nhà, cô bé vẫn ngồi bất động nơi đấy, với một đôi má hồng và một nụ cười tươi, thân mình vẫn còn dựa vào tường. Cô bé chết vì lạnh trong đêm cuối cùng của năm. Cái xác đông cứng còn ngồi bên cạnh một lô diêm, một bó đã cháy hết. “Nó cố sưởi ấm,” người qua đường thờ ơ nói. Nhưng lại không có ai nghĩ ra về những điều đẹp đẽ mà cô bé đã nhìn thấy. Không có ai đã dám mơ ước đến sự lộng lẫy huy hoàng, mà cô bé cùng bà đã đón mừng một Năm Mới.                                             The Little Match Girl Most terribly cold it was; it snowed, and was nearly quite dark, and evening-- the last evening of the year. In this cold and darkness there went along the street a poor little girl, bareheaded, and with naked feet. When she left home she had slippers on, it is true; but what was the good of that? They were very large slippers, which her mother had hitherto worn; so large were they; and the poor little thing lost them as she scuffled away across the street, because of two carriages that rolled by dreadfully fast. One slipper was nowhere to be found; the other had been laid hold of by an urchin, and off he ran with it; he thought it would do capitally for a cradle when he some day or other should have children himself. So the little maiden walked on with her tiny naked feet, that were quite red and blue from cold. She carried a quantity of matches in an old apron, and she held a bundle of them in her hand. Nobody had bought anything of her the whole livelong day; no one had given her a single farthing. She crept along trembling with cold and hunger--a very picture of sorrow, the poor little thing! The flakes of snow covered her long fair hair, which fell in beautiful curls around her neck; but of that, of course, she never once now thought. From all the windows the candles were gleaming, and it smelt so deliciously of roast goose, for you know it was New Year's Eve; yes, of that she thought. In a corner formed by two houses, of which one advanced more than the other, she seated herself down and cowered together. Her little feet she had drawn close up to her, but she grew colder and colder, and to go home she did not venture, for she had not sold any matches and could not bring a farthing of money: from her father she would certainly get blows, and at home it was cold too, for above her she had only the roof, through which the wind whistled, even though the largest cracks were stopped up with straw and rags. Her little hands were almost numbed with cold. Oh! a match might afford her a world of comfort, if she only dared take a single one out of the bundle, draw it against the wall, and warm her fingers by it. She drew one out. "Rischt!" how it blazed, how it burnt! It was a warm, bright flame, like a candle, as she held her hands over it: it was a wonderful light. It seemed really to the little maiden as though she were sitting before a large iron stove, with burnished brass feet and a brass ornament at top. The fire burned with such blessed influence; it warmed so delightfully. The little girl had already stretched out her feet to warm them too; but--the small flame went out, the stove vanished: she had only the remains of the burnt-out match in her hand. She rubbed another against the wall: it burned brightly, and where the light fell on the wall, there the wall became transparent like a veil, so that she could see into the room. On the table was spread a snow-white tablecloth; upon it was a splendid porcelain service, and the roast goose was steaming famously with its stuffing of apple and dried plums. And what was still more capital to behold was, the goose hopped down from the dish, reeled about on the floor with knife and fork in its breast, till it came up to the poor little girl; when--the match went out and nothing but the thick, cold, damp wall was left behind. She lighted another match. Now there she was sitting under the most magnificent Christmas tree: it was still larger, and more decorated than the one which she had seen through the glass door in the rich merchant's house. Thousands of lights were burning on the green branches, and gaily-colored pictures, such as she had seen in the shop-windows, looked down upon her. The little maiden stretched out her hands towards them when--the match went out. The lights of the Christmas tree rose higher and higher, she saw them now as stars in heaven; one fell down and formed a long trail of fire. "Someone is just dead!" said the little girl; for her old grandmother, the only person who had loved her, and who was now no more, had told her, that when a star falls, a soul ascends to God. She drew another match against the wall: it was again light, and in the lustre there stood the old grandmother, so bright and radiant, so mild, and with such an expression of love. "Grandmother!" cried the little one. "Oh, take me with you! You go away when the match burns out; you vanish like the warm stove, like the delicious roast goose, and like the magnificent Christmas tree!" And she rubbed the whole bundle of matches quickly against the wall, for she wanted to be quite sure of keeping her grandmother near her. And the matches gave such a brilliant light that it was brighter than at noon-day: never formerly had the grandmother been so beautiful and so tall. She took the little maiden, on her arm, and both flew in brightness and in joy so high, so very high, and then above was neither cold, nor hunger, nor anxiety--they were with God. But in the corner, at the cold hour of dawn, sat the poor girl, with rosy cheeks and with a smiling mouth, leaning against the wall--frozen to death on the last evening of the old year. Stiff and stark sat the child there with her matches, of which one bundle had been burnt. "She wanted to warm herself," people said. No one had the slightest suspicion of what beautiful things she had seen; no one even dreamed of the splendor in which, with her grandmother she had entered on the joys of a new year.Literature Network » Hans Christian Andersen » The Little Match Girl