Vietnamese Lutheran Church

  • 0 Phong Trào Cải Chánh Thế Kỷ XVI - Ngy. Uyên

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Phong Trào Cải Chánh Thế Kỷ XVI Là một sinh viên thần học rất xuất sắc: - Trở thành tu sĩ và được thụ phong Linh mục năm 1507 - Nhanh chóng đỗ bằng Tiến sĩ Thần khoa - Được bổ nhiem làm Giáo sư tại Đại học Wittenberg. Martin Luther sinh ngày 10-11-1483. Lớn lên theo học trường đại học danh tiếng Erfurt tại Đức quốc, năm 1501, sau khi tốt nghiệp cử nhân. Năm 1505, ông tốt nghiệp Cao học nhưng sau đó ông vào tu viện Augustinians. Năm 1507, ông được thụ phong linh mục. Năm 1512, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Thần học và được mời dạy tại Đại Chủng viện Wittenberg. Trong thời đại Trung cổ, giáo hội đang trên đà suy đồi tâm linh trầm trọng, giới tăng lữ với nhiều mê tín dị đoan như bán bùa xá tội, giáo dân thì không đượcc đọc Thánh Kinh, chỉ có hàng giáo phẩm đọc Thánh Kinh với tiếng La-tinh trong giờ hành lễ. Khi Martin Luther đọc và nghiên cứu trong Thánh Kinh thì ông nhận thấy rằng địa vị của con người trước Thiên Chúa được cứu rỗi không do nơi việc làm tốt, thiện mà được xưng nghĩa, dù cố công ra sức làm việc lành. Duy chỉ có lòng nhân từ, tình yêu, ân phúc của Thiên Chúa ban cho qua Chúa Jêsus Christ, và bởi đức tin của chúng ta đặt nơi Ngài. Ngày 31-10-1517, Martin Luther đóng vào cửa giáo đường Wittenberg 95 Luận đề (Theses) chống lại việc buôn bán bùa xá miển tội. Những luận đề này đã được viết bằng La-tinh ngữ, về sau đã được dịch sang Đức ngữ. Martin Luther bắt đầu giảng dạy rằng con người được cứu rỗi không bởi việc làm tốt nhưng bởi ân phúc của Thiên Chúa, chứ không phải dùng tiền mà mua. Vì sự giảng dạy của Martin Luther, việc bán bùa xá miển tội của hàng tăng lữ đã bị mất đi mối lợi, khi giáo dân đã được nghe đến lời chân lý trong Thánh Kinh. Vatican cáo buộc Luther đã rao giảng điều sai lạc, và đòi Luther phải đối chất tranh biện với hàng giáo phẩm La-mã Công giáo, họ ép buộc Luther phải rút lại tất cả những lời ông đã giảng dạy. Tuy nhiên, Luther vẫn can đảm tiếp tục truyền giảng lời chân lý. Giáo hội La-mã Công giáo đã phản ứng mạnh mẽ, kết án ông là ‘dị giáo’ ‘tà đạo’ và ra lệnh ‘dứt phép thông công’ vào đầu năm 1521. Hoàng đế Charles V vâng lệnh giáo hội và ra lệnh truy nã Luther. Nếu bị bắt, Luther sẽ bị kết án tử hình. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã dùng các thân hữu của Luther, và họ đã tổ chức cuộc phục kích và ‘bắt cóc’ Martin Luther mang về một lâu đài ở Wartburg. Thánh Kinh Đức ngữ do Martin Luther dịch Tại đây, trong nhiều năm, Luther đã được an toàn để dịch Thánh Kinh sang Đức ngữ để rồi sau này, giáo dân đã được đọc Thánh Kinh bằng ngôn ngữ tiếng mẹ. Chúng ta vừa nói đến nguyên nhân của Phong trào Cải chánh Giáo hội, thoạt đầu, Tiến sĩ Martin Luther chỉ muốn gióng lên tiếng nói để giáo hội Công giáo La-mã quay trở về với nền tảng của đức tin dựa trên Thánh Kinh chứ không có ý muốn lập một giáo hội khác. Tuy nhiên, Giáo hội La-mã Công giáo đã lên án tử hình và nếu Thiên Chúa không gìn giữ thì ông phải mất mạng sống rồi. Từ đó, phong trào cải chánh trở về với Phúc âm của thế kỷ thứ nhất đã lan rộng và tạo nên một hậu quả là giáo dân được hiểu biết lời chân lý từ trong Thánh Kinh. Những tín hữu theo giáo lý và sự giảng dạy của Martin Luther được gọi là ‘Lutherans.’ Đến cuối thế kỷ 15, Giáo Hội Tin lành Lutheran tại Đức là cái nôi của Phong trào Cải Chánh Giáo hội nhanh chóng lan rộng đến các quốc gia thuộc vùng SCANDINAVI , tạo ảnh hưởng sâu rộng cho cả Âu châu. Các quốc gia Bắc Âu nhận Lutheran là quốc giáo như Na-uy, Thụy Điển, Đan-mạch, Phần lan, các quốc gia vùng Baltic như Estonia, Latvia, Lithuania, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo gia Lợi, Thụy sĩ. Phong trào cải chánh phát triển càng ngày càng lớn mạnh, nhiều Giáo đoàn  tại Âu châu đã hân hoan đón nhận giáo lý thuần chánh của Tiến sĩ Martin Luther, đồng thời các nhà cải cách khác như John Calvin tại Pháp, Zwingli tại Thụy sĩ rời Giáo Hội Công giáo La-mã, gia nhập phong trào cải chánh và đồng tuyên bố trở về với Tin Lành nguyên thủy trong Thế kỷ thứ nhất. Tại Đức có Giáo hội Evangelical Lutheran. Ngoài việc phiên dịch Kinh Thánh từ ngôn ngữ Hê-bơ-rơ, Hi-lạp, La-tinh sang Đức ngữ, Tiến sĩ Martin Luther đã xuất bản khoảng 400 tác phẩm, gồm những bài giải nghĩa Kinh Thánh, Giáo lý Căn bản, nhiều sách thần học làm nền tảng cho sự tổ chức giáo hội. Tiến sĩ Luther sáng tác nhiều thánh ca nổi tiếng. Ông về an nghỉ nơi Nước Chúa năm 1546, hưởng thọ 63 tuổi. Giáo hội Lutheran lan rộng sang các quốc gia Âu châu, Đan mạch, Thụy Điển, Na-uy có ảnh hưởng sâu rộng tại Anh, Tô-cách-lan. Có những nhà truyền giáo Lutheran đến Scandianavia, Phi châu, thế giới thứ ba, và Hoa kỳ. Đầu thế kỷ 16, những đoàn người thuộc Giáo Hội Tin Lành Lutheran từ Đức di dân đến Mỹ Quốc. Tiếp theo sau là những tín hữu Lutheran từ Đan-mạch và Bắc Âu đến Hoa Kỳ qua những đợt di dân. Hiện nay có khoảng 9 triệu tín hữu Tin Lành Lutheran tại Hoa Kỳ. A stained glass portrayal of Luther

  • 0 Anh Hùng Đức Tin Martin Luther (1483-1546) Tác giả: Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Như chúng ta đã biết, Hội thánh Chúa trước thế kỷ XV thỉnh thoảng có một vài cuộc phục hưng, có vài ba ngọn đuốc được thắp lên chiếu sáng cảnh trạng âm u của giáo hội. Thế nhưng, vài ba ngọn đuốc ấy chỉ lóe sáng rồi tắt đi để lại bóng tối tăm bao trùm Hội thánh Chúa. Execution of Jan Hus, an important Reformation precursor, in 1415 Và rồi đến 100 năm sau, khi thời điểm đến, Thiên Chúa đã chuẩn bị một anh hùng đức tin để đứng lên khởi xướng một cuộc cách mạng tâm linh vĩ đại. Khi Martin Luther mở mắt chào đời vào ngày 10 November năm 1483 tại Đức quốc, giáo hội La mã Công giáo đã và đang trong thời kỳ suy đồi thuộc linh trầm trọng, giới tăng lữ tu sĩ với những tệ đoan mê tín, đa số giáo dân không được đọc Thánh Kinh, chỉ có hàng giáo phẩm đọc đến với ngôn ngữ La-tinh trong giờ hành lễ. Giáo hội đã quên lãng và không hề nói đến Phúc âm của Thiên Chúa. Giáo hội không giảng dạy về sự tha thứ tội như là món quà biếu tặng, không phải mất tiền mua, nhưng chỉ do nơi đức tin ta đặt nơi Đấng Christ. Giới lãnh đạo tôn giáo không bao giờ rao giảng Tin mừng này cho giáo dân, thay vào đó, hàng giáo dân chỉ được nghe rằng họ phải làm điều này, vâng giữ điều kia để được Thiên Chúa xưng nghĩa. Đối với Martin Luther, ông đã có kinh nghiệm và tự thuật: Trong sự giáo huấn của giáo hội, ông cảm thấy một Thiên Chúa thịnh nộ chỉ có trừng phạt về tội lỗi. Từ thuở niên thiếu. Luther vốn là một trẻ sùng đạo và ước ao rằng về sau khi lớn lên mình sẽ là một linh mục. Ông nghĩ rằng nếu mình làm những điều thiện hão, nhiệt thành với tín ngưỡng và hành đạo trong giáo hội chắc chắn Thiên Chúa sẽ tiếp nhận mình. Dù ông đã cố gắng thực hành một nếp sống hành đạo như thế, ông vẫn có kinh nghiệm trong đời sống mình rằng tội lỗi vẫn tiếp tục khống chế dày vò, tâm hồn ông chưa hề có sự an bình thật. Thuở thiếu thời, khi còn ngồi ở ghế của bậc tiểu học, Luther đã được học giáo lý của giáo hội. Năm lên 13 tuổi, Luther đã được học ngôn ngữ La-tinh. Martin Luther thời kỳ tu học Năm 17 tuổi, Luther vào viện Đại học Erfurt. Là một sinh viên thông minh, thân phụ của Luther đã mong muốn con mình trở thành luật sư để có tiền bạc và danh vọng trong xã hội. Năm 1501, Luther được huấn luyện trong ngôi trường danh tiếng nhất tại Đức. Sinh viên theo học chương trình Cử nhân, trên một cấp là Master of Art (M.A.) với ba phân khoa: Luật, Y khoa và Thần học đã được xem là hoàng hậu của các bộ môn khoa học vào thời ấy. Các giáo sư dạy cấp này đều có Ph. D. Trường đòi hỏi sinh viên phải theo học các môn bắt buộc TRIVIUM: gồm có Grammar, Rhetoric, Dialectic (Biện chứng học) và Liberal Arts. QUADRIVIUM: Toán học, hình học, thiên văn học, âm nhạc. - Môn Grammar nhấn mạnh về văn chương cổ điển của các tác giả thời La mã cổ. - Môn Rhetoric nhấn mạnh mạnh đến nghệ thuật nói trước quần chúng, viết luận văn, thơ, luận dề Văn chương. - Môn học Dialectic rất quan trọng. Triết gia Aristotle cha của môn học này. Lúc ấy, Luther đã được để ý đến về tài năng tranh luận. Tháng January 1505, Luther tốt nghiệp M.A. Khi Luther tiếp tục theo học ngành Luật, có nghĩa là một tương lai huy hoàng, giàu sang, quyền quí với một cánh cửa mở rộng về sau. Sáu tháng sau trong năm ấy, một buổi chiều kia, ông đi bộ từ Mansfeld về Erfurt , thình lình một trận cuồng phong nổi lên, một luồng sét đánh ngang qua, làm cho Luther ngả sấp xuống, trong nỗi kinh hoàng ấy, Luther buột miệng kêu lên: ‘Xin cứu giúp tôi, thánh An-ne, tôi sẽ trở nên một tu sĩ.’ Sau biến cố này, Luther thay đổi phân khoa. Ông bỏ ngành Luật khoa và muốn vào một tu viện. Lúc ấy, có nhiều dòng tu như : Benedictine, Dominican, Franciscan, nhưng ông đã chọn dòng Observant Augustinians. Vào nhà dòng này, các tu sinh sống rất khắc khổ dưới một kỷ luật hãm xác. Trước tiên, Martin Luther phải trải qua một giai đoạn 30 ngày để được khảo sát về phần tâm linh, ông được khảo hạch tại sao lại muốn đi tu. Khi được nhà dòng chấp nhận lời hứa nguyện để trở nên một tu sinh, lúc hai giờ sáng, Luther và các đồng môn phải thức dậy để dự lễ nhất trong ngày, rồi tiếp theo có đến sáu lễ liên tiếp trong ngày, nhà dòng bắt buộc làm thế nhằm mục đích để phần hồn của các tu sinh không còn có khoảng trống nào xao lãng việc tu hành. Dòng tu Augustinians buộc các tu sinh phải đi ra ngoài để làm một hành khất đi xin thực phẩm. Luther có một ngưòi giám sát để hướng dẫn, khích lệ trong đời sống tu hành. Về sau, Luther đã kể lại từng trải: ‘Nếu có bất cứ ai muốn lên thiên đàng như là tu sĩ thì tôi là người trong số ấy.’ Các tu sinh thuộc dòng tu này cạo tóc trên đầu. Đời sống trong tu viện rất khắc khổ: tu sinh kiêng ăn suốt một thời gian dài, về đêm dù bên ngoài thời tiết rét buốt nhưng họ không có áo ấm, mền. Trong suốt những năm khổ tu, Luther mong mõi đi tìm tình yêu của Thiên Chúa với cả tấm lòng, cố công ra sức với một ý chí cương quyết, và muốn được thế, Luther quên đi những gì về trần tục, gia đình và chính con người mình. Tháng 5, 1507, Luther cử hành lễ Mi-sa đầu tiên. Năm 27 tuổi, ông đã được tuyển chọn đi Rome, đây là chuyến hành hương để đi gặp Pope. Khi đặt chân đến Vatican, Luther sấp mình xuống kêu lên: ‘Thành thánh La-mã, ôi thật phước hạnh biết bao!’ Cũng có nhiều linh mục khác từ bốn phương cùng đi hành hương tại La-mã và ai cũng muốn được vào giáo đường dâng lễ Mi-sa. Trải qua nhiều thứ Bảy, dù Luther muốn nhưng vẫn chưa có cơ hội, vì số linh mục đông quá! Luther đã viết lại: ‘Tôi chạy đến khắp nơi trong Nhà Nguyện, các bậc thang, khắp mọi nơi như một ông ‘thánh mad dây’, tôi chìm đắm trong giáo lý của Pope rằng tôi có thể giết người . . . để vâng phục Pope.’ Lutherhaus, Luther's residence in WittenbergLutherhaus, Luther's residence in WittenbergLutherhaus, Luther's residence in WittenbergLutherhaus, Luther's residence in WittenbergLutherhaus, Luther's residence in Wittenberg Lutherhaus, Luther's residence in Wittenberg Năm 1512, lúc 29 tuổi, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Thần học tại Đại Chủng viện Wittenberg. Về sau, ông dạy các môn Sáng-thế-ký, Thi-Thiên, Rô-ma, Ga-la-ti, Hê-bơ-rơ (1512-1 517) tại viện Thần học này. 95 Luận Đề Ngày 31-10-1517 Thời Trung cổ, trong Giáo hội La-mã Công giáo, sự giảng dạy mua bán bùa xá tội là phần chính yếu. Vatican dạy rằng thánh lễ Báp-têm (lễ rửa tội) là tẩy rửa tội tổ tông, giáo dân cần phải làm nhiều nhiều điều để được cứu rỗi ... Khi giáo dân qua đời thì linh hồn họ phải vào Ngục Luyện tội (Purgatory) tội Iỗi họ được lưu giữ trong hồ sơ của họ, linh hồn họ phải ở trong ngục luyện tội trước khi linh hồn họ được mang đến thánh Phê-rô và Đấng Christ tại cửa thiên đàng. Muốn được xá miển tội, trước khi chết,họ phải được giáo hội tha thứ hình phạt và giải thoát họ ra khỏi ngục luyện tội, bằng không họ cứ phải ở trong nơi đó đế sám hối. Trong ngục này, linh hồn giáo dân bị đau đớn khổ sở vô cùng và cách xa với thân nhân. Vì thế, bùa xá miển tội thật vô cùng đặc biệt để tẩy rửa tội của họ. Sự thực hành giáo lý này được truyền bá rộng rãi trong giáo hội vào cuối thời đại Trung co. Linh mục Johann Tetzel, người Đức, đi khắp nơi với đoàn quân lính hộ tống, ông có trang phục và huy hiệu của Giáo hoàng Leo X cấp phát . Các kỵ binh đi trước, có trống, kèn báo tin cho giáo dân biết. Trên một thập tự giá có ghi bảng giá tiền của bùa xá miển tội để mọi người nhìn thấy. Linh mục Tetzel bước lên bục cao của giảng đài và nói: ‘Quí vị có nghe tiếng van xin của thân nhân và cầu khẩn, ‘hãy thương xót chúng tôi, chúng tôi bị trừng phạt đau đớn, xin cứu giúp tôi ra khỏi nơi này.’ Quí vị có thể bỏ ra những đồng tiền để nhận các chứng chỉ xá miển tội hầu mang linh hồn chúng tôi lên thiên đàng sớm.’ Linh mục Tetzel nói tiếp: ’Khi nào đồng tiền rơi xuống đáy thùng, linh hồn của thân nhân quí vị sẽ siêu thoát, từ ngục luyện tội bay thằng lên thiên đàng.’ 95 Luận đề (Theses) nay được đúc bằng chữ đồng tại cửa giáo đường Ngày 31-10-1517, Martin Luther đóng vào cửa giáo đường Wittenberg 95 Luận đề (Theses) chống lại việc buôn bán bùa xá miển tội. Những luận để này đã được viết bằng La-tinh ngữ, về sau đã được dịch sang Đức ngữ. Martin Luther là một linh mục, giáo sư tiến sĩ dạy tại trường đại học, ông thông thạo các ngôn ngữ Hi-lạp, La-tinh, Hebrew. Martin Luther tuyên bố: ‘Bất cứ ai nghĩ và muốn rằng mình được cứu rỗi là do bùa xá tội thì sẽ bị hư mất cũng như các giáo sư của họ. Bất cứ ai là tín hữu thật, dù sống hay qua đời họ đều được dự phần trong ơn cứu rỗi bởi Thiên Chúa, chứ không do bất cứ một chữ nào của bùa xá tội.’ Khi học và nghiên cứu về các thư tín Ga-la-ti, Hê-bơ-rơ, Rô-ma, Martin Luther nhận thấy rằng địa vị của con người trước Thiên Chúa được cứu rỗi không do nơi việc làm tốt, thiện mà được xưng nghĩa, dù cố công ra sức làm việc lành. Duy chỉ có sự nhân từ, tình yêu, ân phúc của Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Chúa Jesus Christ, và bởi đức tin nơi Ngài. Martin Luther bắt đầu giảng dạy rằng con người được cứu rỗi không bởi việc làm tốt nhưng bởi ân phúc của Thiên Chúa hay phải dùng tiền mà mua. Vì sự giảng dạy của Martin Luther, việc bán bùa xá miển tội của hàng tăng lữ đã bị mất đi mối lợi, khi giáo dân đã được nghe đến lời chân lý trong Thánh Kinh. Vatican cáo buộc Luther đã rao giảng điều sai lạc, họ đòi Luther phải đối chất tranh biện với hàng giáo phẩm La-mã Công giáo, họ ép buộc Luther phải từ khước tất cả những lời ông đã giảng dạy. Tuy nhiên, Luther vẫn can đảm giữ nguyên và ông cứ tiếp tục truyền giảng lời chân lý, giáo hội đã phản ứng mạnh mẽ và ban hành lệnh ‘dứt phép thông công’ vào đầu năm 1521. Hoàng đế Charles V vâng lệnh giáo hội và ra lệnh truy nã Luther. Nếu bị bắt, Luther sẽ bị kết án tử. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã dùng các thân hữu của Luther, và họ đã tổ chức cuộc phục kích và ‘bắt cóc’ Martin Luther mang về một lâu đài ở Wartburg.  Wartburg Castle, EisenachWartburg Castle, EisenachWartburg Castle, Eisenach Wartburg Castle, EisenachWartburg Castle, Tại đây, trong nhiều năm, Luther đã được an toàn để dịch Thánh Kinh sang Đức ngữ để rồi sau này, giáo dân đã được đọc Thánh Kinh bằng ngôn ngữ tiếng mẹ. The Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. An original first edition is kept in the case on the deskThe Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. An original first edition is kept in the case on the desk The Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. An original first edition is kept in the case on the deskThe Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. An original first edition is kept in the case on the deskThe Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. Năm 1546, Martin Luther an nghỉ trong Nước Chúa. Những tín hữu theo giáo lý và sự giảng dạy của Martin Luther đưọc gọi là ‘Lutherans.’ Giáo hội Lutheran lan rộng sang các quốc gia Âu châu, có ảnh hưởng sâu rộng tại Anh, Tô-cách-lan. Có những nhà truyền giáo Lutheran đến Scandianavia, Phi châu, thế giới thứ ba, và Hoa kỳ.

  • 0 Cô Bé Bán Diêm (The Little Match Girl) - Hans Christian Anderson

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Cô Bé Bán Diêm (The Little Match Girl) - Hans Christian Anderson Lạnh chưa từng thấy. Tuyết lại rơi, bầu trời u ám, và màn chiều đã buông xuống, buổi chiều cuối cùng của năm. Trong bóng tối và gió lạnh tê tái, cô bé nghèo nàn thất thểu đi dọc theo ven đường, đầu để trần, chân đi đất. Lúc em rời nhà sáng nay, em cũng có đôi guốc đấy chứ. Thật thế, nhưng đôi guốc thì có giúp ích gì đâu! Đôi guốc rộng quá khổ, mẹ em vẫn còn đi, rộng đến nỗi, cô bé khốn khổ đánh rớt mất khi cô phải nhảy sang lề đường để tránh hai chiếc xe ngựa lộng lẫy đang phóng như bay trên đường phố. Một chiếc guốc mất tõng đâu rồi, còn chiếc kia thì một tên ranh con nhặt lấy, rồi chạy biến mất. Thằng ranh ấy có lẽ nghĩ rằng chiếc guốc to đủ để dùng làm nôi cho con của nó sau này. Thế là cô bé phải lết đi với đôi chân trần nhỏ bé, đôi chân đỏ lên và tím bầm vì lạnh. Cô bé mang theo một lô diêm quẹt, một số để ở trong túi yếm, một số cầm trên tay. Không ai mua diêm cuả cô cả, cả một ngày dài; Và cũng chẳng có ai cho cô một đồng xu. Cô gái đi rón rén, run rẩy vì lạnh và đói - một hình ảnh đau lòng, cô bé thật đáng thương! Nhiều cụm tuyết bám vào mái tóc dài của cô, những lọn tóc quăn và đẹp lượn quanh cổ nhỏ bé. Nhưng ngay cả hình ảnh của làn tóc, cô bé cũng chưa bao giờ được biết tới. Lúc ấy, bên trong các cửa sổ đã thắp nến lên, lấp lánh, và mùi vị ngỗng rô-ti bay ra thơm phức. Bạn phải biết rằng đây là đêm giao thừa và sắp bước qua năm mới. Đúng vậy, cô gái cũng nghĩ thế! Tới một cái góc do hai căn nhà tạo ra, vì căn nhà xây lấn ra đường nhiều hơn căn nhà nọ, cô bé ngồi xuống và co rúm người. Đôi chân gầy guộc của cô áp thật chặt vào người, nhưng cô vẫn thấy lạnh, càng lúc càng lạnh thêm, mà cô lại không dám trở về nhà, vì cô chưa bán được một cái que diêm nào, và một xu ăn xin cô cũng chẳng có: Cha cô chắc chắn sẽ cho cô một trận đòn, mà ở nhà thì cũng lạnh, nhà chỉ có cái mái che, gió rít từng hồi, dù cho các khe hở lớn đã có rơm và giẻ rách chẹn vào. Hai bàn tay nhỏ bé của cô bé gần như tê cóng lại. Ô! một cái diêm cháy có thể sẽ mang đến một chút ấm áp, nếu cô dám lấy một que diêm ra, trong cả một bó diêm, thì cô sẽ quẹt vào tường, và sưởi ấm những ngón tay. Thế rồi cô bé lấy một que diêm ra. “Xoạt!” que diêm sáng rực, cháy bùng! Một ngọn lửa sáng lên, ấm áp, giống như một ngọn nến, cô hơ tay lên trên: thật là một ánh sáng tuyệt vời. Giống như cô đang được ngồi trước một lò sưởi lớn, một cái lò có chân bằng đồng thau sáng chói và nắp củng bằng đồng thau trạm trổ. Ngọn lửa cháy mang lại một nguồn hạnh phúc lớn lao, mang lại một hơi ấm diệu kỳ. Cô bé duỗi chân ra để sưởi, nhưng ngọn lửa tắt phụt, lò sưởi biến mất: chỉ còn lại một chút than tàn lụi dần trong tay. Cô quẹt một que diêm khác vào tường: que diêm cháy sáng rạng rỡi, và nơi mà ánh sáng chiếu lên tường, nơi đó của bức tường trở nên trong suốt như thể người ta nhìn qua một tấm màn che, và cô có thể nhìn vào căn phòng. Đã có một cái bàn trải khăn trắng như tuyết, trên bàn chén bát lộng lẫy bằng sứ đã dọn sẵn, và một món ngỗng rô-ti có nhồi táo và mận khô hấp dẫn đang bốc khói. Nhưng điều bất ngờ xảy đến là, con ngỗng đã nhảy xuống bàn, lăn trên sàn sàn nhà với cả con dao và cái nĩa cắm sẵn trên ngực, lăn cho đến khi tới gần cô bé nghèo thì que diêm lại tắt và chẳng còn thấy gì nữa ngoài tường dày, lạnh lẽo, ẩm ướt. Cô bé quẹt một que diêm khác. Bây giờ, cô ngồi ngay dưới một cây giáng sinh lộng lẫy, một cây giáng sinh còn lớn hơn, và được trang hoàng nhiều hơn là cây giáng sinh mà cô nhìn thấy qua cửa kính của một nhà thương gia giàu có. Có hàng ngàn ngọn đèn sáng rực trên cành cây xanh, và có nhiều bức hình màu sắc, giống như là cô đã thấy trên cửa sổ của các gian hàng. Cô bé giơ tay với lên cây giáng sinh thì que diêm lại tắt. Ánh sáng cây giáng sinh bay bổng lên cao và cao hơn, cho đến khi trông giống như những vì sao trên trời; một vì sao rớt xuống và xẹt đi thành một vệt sáng dài. “Một người nào đó vừa mới qua đời!” Cô bé nói một mình. Đấy là điều mà bà ngoại già nua của cô, người duy nhất yêu thương cô, nhưng nay thì không còn nữa, bà đã nói với cháu gái rằng khi có một ngôi sao rơi, đấy là có một linh hồn bay lên với Chúa. Cô quẹt thêm một que diêm nữa: Lại một lần nữa có ánh sáng, và trong vầng hào quang hiện ra bà ngoại tươi sáng và rạng rỡ, rất dịu dàng, đầy vẻ thương yêu. “Bà ơi!” Cô bé kêu lên. “Ô, dẫn con đến với bà đi! Đừng đi mất khi que diêm tắt; bà đừng đi giống như cái lò sưởi, như con ngỗng thơm ngon, như cây Giáng sinh tuyệt vời!” Và cô vội quẹt hết bó diêm vào tường, cô muốn chắc chắn rằng bà ngoại ở lại với nó. Và bó diêm đã lòe lên một ánh sáng thật rực rỡ, sáng hơn cả buổi trưa ban ngày: bà của cô bé cũng trở nên tươi đẹp và cao lớn hơn bao giờ hết. Bà bế cô bé lên tay bà, và cả hai cùng bay bổng trong ánh sáng và niềm vui, lên cao, lên thật là cao, và rồi thì không còn lạnh nữa, cũng không còn đói nữa, cũng không còn lo lắng nữa - vì họ đi lên nhà của Chúa. Vào buổi sáng bình minh lạnh giá ngày hôm sau, tại cái góc nhà, cô bé vẫn ngồi bất động nơi đấy, với một đôi má hồng và một nụ cười tươi, thân mình vẫn còn dựa vào tường. Cô bé chết vì lạnh trong đêm cuối cùng của năm. Cái xác đông cứng còn ngồi bên cạnh một lô diêm, một bó đã cháy hết. “Nó cố sưởi ấm,” người qua đường thờ ơ nói. Nhưng lại không có ai nghĩ ra về những điều đẹp đẽ mà cô bé đã nhìn thấy. Không có ai đã dám mơ ước đến sự lộng lẫy huy hoàng, mà cô bé cùng bà đã đón mừng một Năm Mới.

  • 0 Cô Bé Bán Diêm (The Little Match Girl) - Hans Christian Anderson

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Hans Christian Andersen sinh ngày 02 tháng Tư năm 1805 và mất ngày 04 tháng 8 năm 1875. Ông là một nhà văn Đan Mạch nổi danh về những câu chuyện trẻ em. Những bài thơ và văn xuôi của ông đã được dịch ra hơn 150 ngôn ngữ, là nguồn cảm hứng cho nhiều bức tranh, vở kịch, vũ điệu ballet, và phim ảnh.Cùng với câu chuyện 'Oliver Twist' cuả Charles Dickens đã viết ra chín năm trước đó, câu chuyện 'The Little Match Girl' đã soi thêm một chút ánh sáng lương tâm vào một ngõ tối u uẩn mà xã hội Âu Châu thời bấy giờ làm ngơ. Đó là tình cảnh của những đứa trẻ con nhà nghèo, phải đi lao động sớm, bị hành hạ ngược đãi nhưng chỉ biết im lặng chiụ đựng.                            Mời quí vị đọc câu chuyện sau đây:Cô Bé Bán Diêm (The Little Match Girl) - Hans Christian Anderson Lạnh chưa từng thấy. Tuyết lại rơi, bầu trời u ám, và màn chiều đã buông xuống, buổi chiều cuối cùng của năm. Trong bóng tối và gió lạnh tê tái, cô bé nghèo nàn thất thểu đi dọc theo ven đường, đầu để trần, chân đi đất. Lúc em rời nhà sáng nay, em cũng có đôi guốc đấy chứ. Thật thế, nhưng đôi guốc thì có giúp ích gì đâu! Đôi guốc rộng quá khổ, mẹ em vẫn còn đi, rộng đến nỗi, cô bé khốn khổ đánh rớt mất khi cô phải nhảy sang lề đường để tránh hai chiếc xe ngựa lộng lẫy đang phóng như bay trên đường phố. Một chiếc guốc mất tõng đâu rồi, còn chiếc kia thì một tên ranh con nhặt lấy, rồi chạy biến mất. Thằng ranh ấy có lẽ nghĩ rằng chiếc guốc to đủ để dùng làm nôi cho con của nó sau này. Thế là cô bé phải lết đi với đôi chân trần nhỏ bé, đôi chân đỏ lên và tím bầm vì lạnh. Cô bé mang theo một lô diêm quẹt, một số để ở trong túi yếm, một số cầm trên tay. Không ai mua diêm cuả cô cả, cả một ngày dài; Và cũng chẳng có ai cho cô một đồng xu. Cô gái đi rón rén, run rẩy vì lạnh và đói - một hình ảnh đau lòng, cô bé thật đáng thương! Nhiều cụm tuyết bám vào mái tóc dài của cô, những lọn tóc quăn và đẹp lượn quanh cổ nhỏ bé. Nhưng ngay cả hình ảnh của làn tóc, cô bé cũng chưa bao giờ được biết tới. Lúc ấy, bên trong các cửa sổ đã thắp nến lên, lấp lánh, và mùi vị ngỗng rô-ti bay ra thơm phức. Bạn phải biết rằng đây là đêm giao thừa và sắp bước qua năm mới. Đúng vậy, cô gái cũng nghĩ thế! Tới một cái góc do hai căn nhà tạo ra, vì căn nhà xây lấn ra đường nhiều hơn căn nhà nọ, cô bé ngồi xuống và co rúm người. Đôi chân gầy guộc của cô áp thật chặt vào người, nhưng cô vẫn thấy lạnh, càng lúc càng lạnh thêm, mà cô lại không dám trở về nhà, vì cô chưa bán được một cái que diêm nào, và một xu ăn xin cô cũng chẳng có: Cha cô chắc chắn sẽ cho cô một trận đòn, mà ở nhà thì cũng lạnh, nhà chỉ có cái mái che, gió rít từng hồi, dù cho các khe hở lớn đã có rơm và giẻ rách chẹn vào. Hai bàn tay nhỏ bé của cô bé gần như tê cóng lại. Ô! một cái diêm cháy có thể sẽ mang đến một chút ấm áp, nếu cô dám lấy một que diêm ra, trong cả một bó diêm, thì cô sẽ quẹt vào tường, và sưởi ấm những ngón tay. Thế rồi cô bé lấy một que diêm ra. “Xoạt!” que diêm sáng rực, cháy bùng! Một ngọn lửa sáng lên, ấm áp, giống như một ngọn nến, cô hơ tay lên trên: thật là một ánh sáng tuyệt vời. Giống như cô đang được ngồi trước một lò sưởi lớn, một cái lò có chân bằng đồng thau sáng chói và nắp củng bằng đồng thau trạm trổ. Ngọn lửa cháy mang lại một nguồn hạnh phúc lớn lao, mang lại một hơi ấm diệu kỳ. Cô bé duỗi chân ra để sưởi, nhưng ngọn lửa tắt phụt, lò sưởi biến mất: chỉ còn lại một chút than tàn lụi dần trong tay. Cô quẹt một que diêm khác vào tường: que diêm cháy sáng rạng rỡi, và nơi mà ánh sáng chiếu lên tường, nơi đó của bức tường trở nên trong suốt như thể người ta nhìn qua một tấm màn che, và cô có thể nhìn vào căn phòng. Đã có một cái bàn trải khăn trắng như tuyết, trên bàn chén bát lộng lẫy bằng sứ đã dọn sẵn, và một món ngỗng rô-ti có nhồi táo và mận khô hấp dẫn đang bốc khói. Nhưng điều bất ngờ xảy đến là, con ngỗng đã nhảy xuống bàn, lăn trên sàn sàn nhà với cả con dao và cái nĩa cắm sẵn trên ngực, lăn cho đến khi tới gần cô bé nghèo thì que diêm lại tắt và chẳng còn thấy gì nữa ngoài tường dày, lạnh lẽo, ẩm ướt. Cô bé quẹt một que diêm khác. Bây giờ, cô ngồi ngay dưới một cây giáng sinh lộng lẫy, một cây giáng sinh còn lớn hơn, và được trang hoàng nhiều hơn là cây giáng sinh mà cô nhìn thấy qua cửa kính của một nhà thương gia giàu có. Có hàng ngàn ngọn đèn sáng rực trên cành cây xanh, và có nhiều bức hình màu sắc, giống như là cô đã thấy trên cửa sổ của các gian hàng. Cô bé giơ tay với lên cây giáng sinh thì que diêm lại tắt. Ánh sáng cây giáng sinh bay bổng lên cao và cao hơn, cho đến khi trông giống như những vì sao trên trời; một vì sao rớt xuống và xẹt đi thành một vệt sáng dài. “Một người nào đó vừa mới qua đời!” Cô bé nói một mình. Đấy là điều mà bà ngoại già nua của cô, người duy nhất yêu thương cô, nhưng nay thì không còn nữa, bà đã nói với cháu gái rằng khi có một ngôi sao rơi, đấy là có một linh hồn bay lên với Chúa. Cô quẹt thêm một que diêm nữa: Lại một lần nữa có ánh sáng, và trong vầng hào quang hiện ra bà ngoại tươi sáng và rạng rỡ, rất dịu dàng, đầy vẻ thương yêu. “Bà ơi!” Cô bé kêu lên. “Ô, dẫn con đến với bà đi! Đừng đi mất khi que diêm tắt; bà đừng đi giống như cái lò sưởi, như con ngỗng thơm ngon, như cây Giáng sinh tuyệt vời!” Và cô vội quẹt hết bó diêm vào tường, cô muốn chắc chắn rằng bà ngoại ở lại với nó. Và bó diêm đã lòe lên một ánh sáng thật rực rỡ, sáng hơn cả buổi trưa ban ngày: bà của cô bé cũng trở nên tươi đẹp và cao lớn hơn bao giờ hết. Bà bế cô bé lên tay bà, và cả hai cùng bay bổng trong ánh sáng và niềm vui, lên cao, lên thật là cao, và rồi thì không còn lạnh nữa, cũng không còn đói nữa, cũng không còn lo lắng nữa - vì họ đi lên nhà của Chúa. Vào buổi sáng bình minh lạnh giá ngày hôm sau, tại cái góc nhà, cô bé vẫn ngồi bất động nơi đấy, với một đôi má hồng và một nụ cười tươi, thân mình vẫn còn dựa vào tường. Cô bé chết vì lạnh trong đêm cuối cùng của năm. Cái xác đông cứng còn ngồi bên cạnh một lô diêm, một bó đã cháy hết. “Nó cố sưởi ấm,” người qua đường thờ ơ nói. Nhưng lại không có ai nghĩ ra về những điều đẹp đẽ mà cô bé đã nhìn thấy. Không có ai đã dám mơ ước đến sự lộng lẫy huy hoàng, mà cô bé cùng bà đã đón mừng một Năm Mới.                                             The Little Match Girl Most terribly cold it was; it snowed, and was nearly quite dark, and evening-- the last evening of the year. In this cold and darkness there went along the street a poor little girl, bareheaded, and with naked feet. When she left home she had slippers on, it is true; but what was the good of that? They were very large slippers, which her mother had hitherto worn; so large were they; and the poor little thing lost them as she scuffled away across the street, because of two carriages that rolled by dreadfully fast. One slipper was nowhere to be found; the other had been laid hold of by an urchin, and off he ran with it; he thought it would do capitally for a cradle when he some day or other should have children himself. So the little maiden walked on with her tiny naked feet, that were quite red and blue from cold. She carried a quantity of matches in an old apron, and she held a bundle of them in her hand. Nobody had bought anything of her the whole livelong day; no one had given her a single farthing. She crept along trembling with cold and hunger--a very picture of sorrow, the poor little thing! The flakes of snow covered her long fair hair, which fell in beautiful curls around her neck; but of that, of course, she never once now thought. From all the windows the candles were gleaming, and it smelt so deliciously of roast goose, for you know it was New Year's Eve; yes, of that she thought. In a corner formed by two houses, of which one advanced more than the other, she seated herself down and cowered together. Her little feet she had drawn close up to her, but she grew colder and colder, and to go home she did not venture, for she had not sold any matches and could not bring a farthing of money: from her father she would certainly get blows, and at home it was cold too, for above her she had only the roof, through which the wind whistled, even though the largest cracks were stopped up with straw and rags. Her little hands were almost numbed with cold. Oh! a match might afford her a world of comfort, if she only dared take a single one out of the bundle, draw it against the wall, and warm her fingers by it. She drew one out. "Rischt!" how it blazed, how it burnt! It was a warm, bright flame, like a candle, as she held her hands over it: it was a wonderful light. It seemed really to the little maiden as though she were sitting before a large iron stove, with burnished brass feet and a brass ornament at top. The fire burned with such blessed influence; it warmed so delightfully. The little girl had already stretched out her feet to warm them too; but--the small flame went out, the stove vanished: she had only the remains of the burnt-out match in her hand. She rubbed another against the wall: it burned brightly, and where the light fell on the wall, there the wall became transparent like a veil, so that she could see into the room. On the table was spread a snow-white tablecloth; upon it was a splendid porcelain service, and the roast goose was steaming famously with its stuffing of apple and dried plums. And what was still more capital to behold was, the goose hopped down from the dish, reeled about on the floor with knife and fork in its breast, till it came up to the poor little girl; when--the match went out and nothing but the thick, cold, damp wall was left behind. She lighted another match. Now there she was sitting under the most magnificent Christmas tree: it was still larger, and more decorated than the one which she had seen through the glass door in the rich merchant's house. Thousands of lights were burning on the green branches, and gaily-colored pictures, such as she had seen in the shop-windows, looked down upon her. The little maiden stretched out her hands towards them when--the match went out. The lights of the Christmas tree rose higher and higher, she saw them now as stars in heaven; one fell down and formed a long trail of fire. "Someone is just dead!" said the little girl; for her old grandmother, the only person who had loved her, and who was now no more, had told her, that when a star falls, a soul ascends to God. She drew another match against the wall: it was again light, and in the lustre there stood the old grandmother, so bright and radiant, so mild, and with such an expression of love. "Grandmother!" cried the little one. "Oh, take me with you! You go away when the match burns out; you vanish like the warm stove, like the delicious roast goose, and like the magnificent Christmas tree!" And she rubbed the whole bundle of matches quickly against the wall, for she wanted to be quite sure of keeping her grandmother near her. And the matches gave such a brilliant light that it was brighter than at noon-day: never formerly had the grandmother been so beautiful and so tall. She took the little maiden, on her arm, and both flew in brightness and in joy so high, so very high, and then above was neither cold, nor hunger, nor anxiety--they were with God. But in the corner, at the cold hour of dawn, sat the poor girl, with rosy cheeks and with a smiling mouth, leaning against the wall--frozen to death on the last evening of the old year. Stiff and stark sat the child there with her matches, of which one bundle had been burnt. "She wanted to warm herself," people said. No one had the slightest suspicion of what beautiful things she had seen; no one even dreamed of the splendor in which, with her grandmother she had entered on the joys of a new year.Literature Network » Hans Christian Andersen » The Little Match Girl