Vietnamese Lutheran Church

  • 0 TẠ ƠN CHÚA VÌ TIM CÒN ĐẬP VÀ PHỔI CÒN THỞ

    KINH VĂN: “Khi Chúa truyền sinh khí, chúng được dựng nên. Chúa cất hơi thở chúng đi, chúng chết và trở về bụi đất” (Thi Thiên 104:30, 29b BTTHĐ). “Vua cũng đã tôn vinh thần bằng bạc, bằng vàng, bằng đồng, bằng sắt, bằng gỗ và bằng đá, là những thần không thấy không nghe không biết gì; và vua không thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng cầm trong tay Ngài hơi thở và hết thảy các đường lối của vua” (Đa-ni-ên 5:23).   Lễ Tạ Ơn của Hoa Kỳ là một quốc lễ có nguồn gốc từ những người Tin Lành di cư (The Pilgrims) đầu tiên đến Mỹ. Họ ăn mừng và cảm tạ Đức Chúa Trời đã cho họ đến được Tân Thế giới và sống sót qua những hoàn cảnh đầy thử thách khó khăn.  Đến năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln công bố chọn ngày thứ Năm cuối tháng 11 hằng năm làm ngày toàn quốc “Tạ Ơn và Ngợi Khen Cha Nhân Lành Ở trên Trời.” Ngày nay, nhiều người xem lễ Tạ Ơn như một cơ hội để nghỉ ngơi, thăm gia đình, tỏ lòng biết ơn với những người nào đó đã giúp đỡ họ một cách đặc biệt, hơn là nghĩ đến mục đích của ngày lễ Tạ Ơn là để cảm tạ Đấng ban cho chúng ta sự sống, và mọi phúc lành, nhất là sự kiện nhờ Ngài tim chúng ta còn đập, và phổi chúng ta còn thở. Bạn có dùng ống nghe để nghe tim bạn đập bao giờ chưa? Nếu bạn dùng ống nghe của bác sĩ đặt trên ngực mình, bạn sẽ nghe tim bạn đập những tiếng “bình bịch” đều đặn và liên tục. Trái tim con người lớn bằng nắm tay. Bạn thử làm động tác này để hình dung sự làm việc không ngưng nghỉ của trái tim bạn. Hãy mở bàn tay ra, rồi nắm lại. Mở ra, rồi nắm lại…  Bạn có thể làm động tác nhẹ nhàng này bao nhiêu lần thì tay bạn sẽ mỏi?  Tim chúng ta đập 70 lần một phút, tức khoảng 4,000 lần/giờ. Khi bạn ngủ, trái tim vẫn đập.  Đêm qua, nếu bạn ngủ 8 tiếng, tim bạn đã đập 32,000 lần!  Bạn có thể ra lệnh bàn tay bạn buông ra, rồi nắm lại, nhưng bạn không thể ra lệnh cho tim bạn đập nhanh lên hay chậm lại, hay ngưng đập theo ý của bạn. Trái tim chúng ta được điều khiển bởi Đấng ban cho chúng ta sự sống! Dù bạn không nghĩ đến hay điều khiển nó, tim bạn vẫn cứ đập. Nó co bóp không ngưng nghỉ. Nó làm việc mà bàn tay bạn chỉ làm chục phút đã thấy mỏi!  32,000 nhịp tim đập trong đêm  qua đã giúp bạn nghỉ ngơi, phục hồi sức lực trong một đêm. Và nếu bạn đếm số nhịp đâp của tim bạn từ bây giờ cho đến cuối tuần, nó sẽ lên đến một triệu lần.  Nếu tính một tháng, một năm, hay từ lúc bạn còn là một bào thai trong bụng mẹ cho đến bây giờ, bạn sẽ có một con số không tưởng tượng được. Trái tim hoạt động giống như một cái máy bơm, tạo nên sự chênh lệch về áp suất để khiến máu lưu thông khắp thân thể nuôi sống mọi tế bào. Trái tim hoạt động một cách vô thức, vì chính Đức Chúa Trời là Đấng làm cho trái tim chúng ta đập. Nhịp tim là món quà sự sống Đức Chúa Trời ban cho chúng ta, nó bày tỏ sự thành tín, lòng nhân từ, và sự rộng rãi của Đức Chúa Trời đối với chúng ta; một sự rộng rãi vượt trên suy nghĩ của con người về lòng rộng rãi. Hệ tuần hoàn của thân thể chúng ta hoạt động điều hòa nhờ trái tim chúng co bóp đều đặn và không ngưng nghỉ.  Liên hệ với sự tuần hoàn máu là sự hô hấp.  Hít thở là hoạt động cung cấp dưỡng khí và loại bỏ thán khí thông qua phổi là cơ quan hô hấp. Trung bình mỗi phút tim chúng ta đập 70 lần và thở 15 hơi. Như vậy, mỗi giờ tim chúng ta đập khoảng 4,000 lần và thở 900 hơi. Website có tên Máy Tính Nhịp Tim và Hơi Thở  - Beats and Breaths Calculator - có thể tính trái tim của chúng ta đập bao nhiêu lần, và thở bao nhiêu hơi từ khi chúng ta sinh ra đến ngày hôm nay. Bạn vào trang này, đánh ngày tháng năm sinh của mình, máy tính sẽ cho bạn biết số nhịp tim và hơi thở của bạn: http://www.calculatorpro. com/calculator/beats-and-breaths-calculator/. Khi viết bài này, trang mạng tính nhịp tim và hơi thở cho biết tim tôi đã đập 2,656,458,864 lần, và tôi đã thở 553,428,930 hơi từ ngày tôi sinh ra, và đây là con số quá lớn để tôi có thể đọc một cách dễ dàng!  Sách Đa-ni-ên chương 5 trong Kinh Thánh Cựu Ước ghi lại câu chuyện cái chết của ông Bên-xát-sa, vua nước Ba-by-lôn trong thời cổ đại. Ở thời điểm Ba-by-lôn bị quân Mê-đi bao vây, Vua Bên-xát-sa lại mở tiệc vui chơi trong hoàng cung. Vua cao hứng sai đem ly tách dùng cho việc tế lễ trong đền thờ Đức Chúa Trời mà vua cha đã chiếm đoạt khi đánh chiếm Giê-ru-sa-lem ra để vua uống rượu với các quan đại thần, hoàng hậu, và cung phi.  Họ vừa uống rượu vừa chúc tụng các thần tượng bằng vàng, bạc, đồng, sắt, gỗ, và đá. Ngay lúc đó, những ngón tay của một bàn tay người xuất hiện trên tường, và viết những chữ lạ lùng khiến vua và quần thần kinh hãi.   Vua triệu tập ngay những nhà thông thái trong nước đến, bảo họ giải thích ý nghĩa những chữ trên tường, nhưng không ai hiểu được ý nghĩa chữ đó. Cuối cùng, mẹ vua nói với vua rằng, “Mẹ biết trong thời kỳ ông nội con trị vì, có một người Do Thái có sự hiểu biết lạ lùng, đã giải thích được những giấc mộng của ông con.”  Vua Bên-xát-sa liền mời Tiên tri Đa-ni-ên đến và bảo: “Trẫm biết khanh có thể giải thích những giấc chiêm bao, và những điều kín nhiệm. Hãy cho trẫm biết những chữ trên tường kia có nghĩa gì?” Tiên tri Đa-ni-ên giải thích cho Vua Bên-xát-sa biết, Đức Chúa Trời là Đấng ban cho vua sự sống và vương quyền, “Đấng cầm trong tay Ngài hơi thở và mọi đường lối của vua.” Đúng ra vua phải biết ơn, tôn vinh, thờ phượng Ngài, nhưng vua đã tự cao tự đại làm điều phạm thượng, chống lại Ngài.  Vì thế, Ngài sẽ chấm dứt sự sống của vua và vương quốc Ba-by-lôn sẽ bị người Mê-đi và người Ba Tư chia cắt. Câu chuyện này ứng nghiệm ngay đêm hôm đó (Đa-ni-ên 5:23–31). “Chúa ban Thần Khí của Ngài, chúng được dựng nên,… Chúa lấy hơi thở chúng lại, chúng chết ngay và trở về bụi đất” (Thi Thiên 104:29–30).  Không ai ngẫu nhiên có mặt trên trái đất này. Đấng Tạo Hóa đã tạo nên chúng ta, ban cho chúng ta sự sống, nắm giữ từng hơi thở, và nhịp tim chúng ta. Mọi người nhận lãnh sự sống và mọi ơn phước từ Đức Chúa Trời ban cho, thế nhưng nhiều người sống đời sống vô ơn như Vua Bên-xát-sa: Họ tôn vinh những thần tượng hư không của thế gian, thay vì tôn vinh và tạ ơn Đấng ban cho họ sự sống và mọi phước lành. Niềm tin nơi Đấng Chí Cao, tạo dựng trời đất, ban sự sống và phúc lành cho con người là niềm tin phổ biến của mọi dân tộc. Người Việt thường nói, “Trời sinh, Trời dưỡng,” “Trời mưa, Trời nắng.”  Người Việt tin Trời và biết “ơn Trời.”  Và một số người làm bàn thờ Ông Thiên để “thờ Trời.”  Có bao giờ bạn thử đếm những ơn phước Trời cho bạn không? Ngoài sự sống và những phước hạnh vật chất, Kinh Thánh cho chúng ta biết vì tình thương lớn lao của Ngài, Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta Chúa Cứu Thế Giê-xu, để bởi đức tin nơi Con Ngài, chúng ta sẽ không bị hư mất mà được sự sống vĩnh hằng (Giăng 3:16).   Sứ đồ Phao-lô chúc tụng Đức Chúa Trời về mọi phước hạnh Ngài ban cho người tin Chúa. Nhờ Chúa, người tin Chúa được trở nên con cái Đức Chúa Trời, được cứu chuộc, được tha thứ tội lỗi, được ban cho sự khôn ngoan và thông sáng để biết sự huyền nhiệm của ý muốn Ngài, được chọn thừa hưởng cơ nghiệp thiên đàng, được kết hiệp với Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu-Thế, được Đức Thánh Linh ngự vào đời sống, bảo đảm cho cơ nghiệp ở Thiên Đàng (Ê-phê-sô 3:3–14). Chết là điều không ai có thể tránh, nhưng điều không thể đoán trước là cái chết có thể đến bất ngờ cho mọi người. Chúng ta nghe về những cái chết bất đắc kỳ tử do thiên tai, tai nạn, bệnh tật ở mọi nơi  hoặc của một người thân quen. Phúc Âm Lu-ca 12:15–21 ghi lại một ẩn dụ của Đức Giê-xu như một cảnh báo về những cái chết như vậy. Ngài kể một người có một đời sống êm ấm và giàu có chỉ nghĩ về cuộc sống sung túc hiện tại của mình. Nhưng cái chết đến với anh không một điều báo trước, và anh không thể đem gia sản đồ sộ theo với mình, và Đức Chúa Trời, Đấng lấy lại hơi thở của anh, gọi anh là một người dại, Ngài phán, “Hỡi kẻ dại! Chính đêm nay linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại; vậy những của cải ngươi đã sắm sẵn sẽ thuộc về ai?” (Lu-ca 12:20 BTT). Và Đức Giê-xu kết luận ngụ ngôn này rằng: “Những kẻ tích lũy tiền của cho mình mà không giàu có nơi Đức Chúa Trời cũng sẽ như thế” (Lu-ca 12:21 BDM). Tất cả tài sản anh tích lủy ở đời này không có giá trị gì khi anh tắt thở. Tệ hại hơn, vì không tin Chúa Cứu-Thế Giê-xu, anh bị phân cách vĩnh viễn với Đức Chúa Trời. Có hai câu hỏi quan trọng mời bạn suy nghĩ về câu chuyện này. Thứ nhất, nếu bạn tắt thở hôm nay, bạn có dám chắc rằng bạn sẽ được lên thiên đàng không?  Kinh Thánh khẳng định sự cứu rỗi là tặng phẩm Đức Chúa Trời ban cho người nào tin Chúa Giê-xu, chấp nhận sự hi sinh của Ngài vì tội lỗi của mình (Công Vụ 4:12), để nhờ niềm tin nơi Ngài, bạn được bảo đảm khi bạn nhắm mắt lìa đời sẽ được vào cõi phước hạnh (Lu-ca 23:43).  Thứ hai, bạn đã đầu tư đời sống Đức Chúa Trời ban cho bạn như thế nào? Bạn có phải là người “tích lũy tiền của cho mình mà không giàu có nơi Đức Chúa Trời” không? Giống người giàu trong ẩn dụ của Chúa Giê-xu, không ai trong chúng ta biết khi nào Đức Chúa Trời lấy lại hơi thở của mình. Dù chết là một đề tài không vui, cõi vĩnh hằng và sự sống vĩnh cửu đáng để mọi người quan tâm.   Lễ Tạ Ơn là cơ hội nhắc nhở mọi người còn thở tạ ơn Đức Chúa Trời về sự sống và mọi phúc lành chúng ta có hôm nay. Mong bạn hãy thể hiện lòng biết ơn đó bằng sự tôn thờ Đấng cầm trong tay Ngài hơi thở và mọi đường lối của bạn. Bạn phải biết Ngài là Đấng yêu thương bạn đến nỗi đã ban Chúa Cứu-Thế Giê-xu cho bạn để nhờ Ngài bạn được sự sống vĩnh hằng.  Một khi bạn đặt niềm tin Chúa, bạn trở nên con cái Đức Chúa Trời, bạn sẽ quan tâm đầu tư vào Nước Trời hơn là cõi trần này. Có Chúa, bạn vững tin về tương lai của mình vì biết rằng khi tắt thở bạn được về nơi ở của Đấng dựng nên bạn để sống mãi mãi với Ngài.    

  • 0 ATHEISM - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

                                    Vô Thần Vô thần không phải là một tôn giáo như Ki-tô giáo, Hồi giáo, Do-thái giáo.  Các tôn giáo vừa kể thì tin vào vị thần linh, trái lại, vô thần  chủ nghĩa thì chủ trương rằng không có sự hiện hữu nào của các thần linh.  Họ tin tưỏng rằng vũ trụ, điạ cầu này, và sự sống là một sự tiến hoá tuyệt hão của cõi thiên nhiên.  Họ cho rằng không có sự can thiệp của một vị thần linh tối cao nào.  Họ chủ trương  rằng  đạo đức và hệ thống luân lý quản cai mọi tánh hạnh của con ngưòi mà không có sự can thiệp nào của vị thần linh.    Phản nghĩa của  Atheism là Theism - niềm tin vào sự hiện hữu của vị thần linh (deity)  và có hằng nghìn dạng thức khác nhau của thần linh (theism), như là hằng nghìn các thần nam và nữ mà ngưòi hữu thần tin .   Vào thời thượng cổ Hi-lạp, từ ngữ đã được dùng để chỉ ngưòi không tin vào một tôn giáo là “Atheism” nguyên ngữ là từ “Atheos” có nghĩa là “tách ra khỏi lòng tin nơi một hay nhiều vị thần”  (Atheism is derived from the Greek, atheos, and means simply 'away from the belief in a god or gods) “Belief in no God, and no belief in God” đó là cái khẩu hiệu của chủ nghĩa vô thần và họ gào thét như thế đấy! Từ ngữ gốc của Hi-lạp văn  là  “Atheos”  (Atheist)-   “A" which means "without" or "not"  -  “Theos" which means "deity."   Có ngưòi không tin vào vào bất cứ thần linh nào.  Có ngưòi hoàn toàn phủ nhận sự hiện hữu của bất cứ thần linh nào.  Có một số ngưòi vô thần thì giữ lấy sự tin tưỏng này, một số ngưòi khác thì công khai xác quyết sự tin tưỏng ấy cho nhiều ngưòi khác. Ða số ngưòi  Hoa kỳ định nghiã một “Atheist” là ngưòi không tin vào sự hiện hữu của thần linh:  không có Thiên Chúa (God), không có các thần linh nam nữ nào cả (god and goddesses)   Tại sao ngưòi vô thần phủ nhận Thiên Chúa (God) ?   Nếu ngưòi vô thần chấp nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, thời tất nhiên họ phải chịu Thiên Chúa phê phán về mọi hành vi vô luân của họ, vì họ phải chấp nhận một luân lý cao hơn quản cai cuộc đời họ.  Tóm lại, họ thờ phụng cái “ngã” của họ,   đời-sống-họ-là trung-tâm-điểm (self-centred lives.) Từ khi Thiên Chúa ban bố Mưòi điều luật (Ten Commandments) thì Satan muốn con ngưòi đi ra khỏi luật lệ của Ngài, nó khống chế con ngưòi để loại bỏ hình ảnh Thiên Chúa ra khỏi đời sống họ và lừa dối đầu óc họ là không có thần linh nào cả, để họ tự do làm bất cứ điều gì họ muốn theo dục vọng và tư kỷ sai khiến mà không e ngại sẽ bị Thiên Chúa trừng phạt...     Tim Gorski, of The North Texas Church of Freethought, anh chàng vô thần thường lập đi lập lại những gì anh ta nghe từ giới Hữu thần:   "But without God there can be no absolute morality. That's the real reason for Atheism. It's nothing more than wanting to be your own god so you can do whatever you want."   Jalandoak, một anh chàng vô thần khác viết:  "...don't believe in the Bible, because they have a problem with authority. God being the ultimate authority, oppresses them, and they can't be 'free thinkers'. This depresses them, and finally they reject God's reality to make themselves feel better. By living their own way, and not following God's laws, they no longer feel guilt."   Ða số các anh vô thần có ý nghĩ rằng nếp sống đạo đức cá nhân của họ đã được Thánh Kinh đề cập đến như “genocide, murder of people for their religious beliefs, mass murder of innocent children, etc.,” thế cho nên họ cố gắng loại trừ God và Thánh Kinh ra khỏi đời sống họ .                                                   Ngưòi Vô Thần Sợ Hãi Những Ðiều Gì ? Ngày 27-6-2002, tay bỉnh bút vô thần  Ken Schram của KOMO 4 News, Seattle, WA  nói rằng anh ta đã chứng kiến cảnh các anh chàng vô thần sợ hãi những gì qua các thái độ và hành động: Họ sợ hãi Thiên Chúa (God) đến độ khi chỉ nghe đến từ “GOD” làm cho họ đau đớn. Các anh chàng vô thần nhắm đôi mắt lại khi họ móc họ móc ví ra và sợ phải nhìn thấy hàng chữ "In God we Trust." Một số khi đi ra ngoài thì cố tránh đi ngang qua các nhà thờ, nhà hội (synagogues) đền (mosques) Một số thì dội ngưọc khi thấy hình ảnh thập tự giá, Chúa  bị đóng đinh, Ngôi sao Vua David. Atheism is a religion all its own. Although they do not believe in God, they still have faith in their religion. They have faith that there is no God, and they have faith that their beliefs are correct. Sounds a lot like religion to me. Mặc dù các ngưòi vô thần không tin nơi Thiên Chúa, chủ nghĩa vô thần là một thứ tôn giáo của chính họ, họ vẫn có niềm tin nơi tôn giáo của riêng họ: Không có Thiên Chúa, và họ có niềm tin tưỏng rằng đó là đúng. Các ngưòi vô thần cũng có một tôn giáo: cái “ngã,” đó là trung tâm điểm của đời sống hay là thượng đế (god) của họ.  Bởi vì họ đã cố gắng loại trừ GOD ra khỏi đời sống mình, thế cho nên bất cứ mọi lý luận của họ đưa ra đều phủ nhận mọi hiện hữu của GOD, kể cả hơi thở hít vào phổi dưõng khí mỗi giây phút.  Không có sự sống thì mọi “trí tuệ” cũng đều mất đi.  Vậy “trí tuệ” từ đâu mà có? Ngưòi có trí tuệ chân chánhlà ngưòi biết cúi đầu cảm tạ Thiên Chúa (GOD) Ðấng sáng tạo vũ trụ bao la và chính đời sống con ngưòi, một tiểu vũ trụ.  Các bạn vô thần, dù cho các bạn cố gắng phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa thì Ngài vẫn đang đứng bên ngoài cửa tâm của các bạn.  GOD IS LOVE.  Thiên Chúa vẫn thương yêu các bạn.

  • 0 Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ July 4, 1776

    United States Declaration of Independence Thomas Jefferson, the principal author of the Declaration 1823 facsimile of the engrossed copy Created June–July 1776 Ratified July 4, 1776 Location Engrossed copy: National Archives and RecordsAdministration Rough draft: Library of Congress Author(s) Thomas Jefferson et al. Signatories 56 delegates to the Second Continental Congress Purpose To announce and explain separation from Great Britain[1 "Declaration House", the boarding house at Market and S. 7th Street where Jefferson wrote the Declaration  

  • 0 Tìm Hiểu Islam - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    LỊCH SỬ ĐẠO HỒI Islam Trong lịch sử thế giới, chưa từng có một tôn giáo nào bành trướng một cách mạnh mẽ và nhanh chóng cho bằng đạo Hồi. Từ một nhóm người du mục sống trong một ốc đảo heo hút giữa sa mạc Syro-Arabia đã mau chóng biến thành những con người đầy quyền lực tung hoành từ Cận Đông đến Âu Châu và từ Bắc Phi đến tận các nước Châu Á: - Chỉ trong vòng 10 năm kể từ ngày Giáo chủ Muhammad qua đời (632-642) quân Hồi Giáo Ả Rập đã chiếm trọn bán đảo Arabia (rộng gấp 8 lần Việt Nam), chiếm Iraq, Syria, Palestine, Ai Cập và phía Tây nước Iran. - Trong 2 năm (648-649), quân Hồi chiếm Carthage, Tunisia. Một điều làm cho cả thế giới kinh ngạc là lần đầu tiên người Ả Rập chiếm một nước Âu Châu, đó là Hi Lạp. - Thừa thắng xông lên, người Hồi Giáo Ả Rập mở cuộc chiến tranh đánh Tây Ban Nha.  Sau 5 năm, người Hồi chiến thắng đã chiếm trọn nước Âu Châu rộng lớn và nổi tiếng sùng đạo Công Giáo nhất thời bấy giờ. - Năm 712, quân Hồi Giáo chiếm trọn Iran (Ba Tư) và dùng nước này làm bàn đạp tiến quân đánh chiếm các nước Trung Á ở phía nam nước Nga, chiếm vùng Bắc Ấn rộng lớn (nay là Pakistan và Afganistan) và xâm nhập phía Tây Trung Quốc - Quân Hồi bị quân nhà Đường chận lại tại sông Talas nên phải rút về Trung Á. Sự xuất hiện và bành trướng của đạo Hồi trong thế kỷ 7 hung bạo dữ dội như cơn gió xoáy (tornado) khiến cho cả thế giới phải kinh hoàng. Chúng ta thử tìm hiểu những nguyên nhân nào đã khiến cho đạo Hồi có thể bành trướng với tốc độ vũ bão như vậy. Các sử gia đã phân tích 3 nguyên nhân sau đây: Nguyên nhân 1:  Qua nhiều ngàn năm sống trên các cánh đồng cỏ ở sa mạc Syro-Arabia, kiếp sống lang thang của những người Ả Rập càng ngày càng trở nên khó khăn vì đất đai ngày càng trở nên khô cằn. Từ thế kỷ 6, bộ lạc Quraysh (tổ tiên của Muhammad) có sáng kiến bỏ nghề du mục để chuyển hẳn sang nghề thương mại. Họ tổ chức các cuộc đi buôn đường xa với những đoàn lữ hành (caravans) gồm hàng trăm người và rất nhiều ngựa, lạc đà để chở hàng hóa lương thực, lều vải, vũ khí...  Dần dần, thị trường ngày càng được mở rộng, nhu cầu thương mại gia tăng, những đoàn lữ hành có thể gia tăng lên tới nhiều ngàn người. Do nhu cầu tự vệ, mọi người trong đoàn lữ hành đều phải học cưỡi ngựa, cưỡi lạc đà, luyện tập xử dụng các thứ vũ khí như gươm giáo cung tên, kể cả võ thuật và chiến thuật quân sự. Ngoài ra, họ học nói nhiều ngoại ngữ, học cả địa lý và phong tục tập quán của các nước lân cận để gia tăng khả năng giao dịch thương mại. Trải qua nhiều thập niên, những thương gia (traders) Ả Rập trở thành những người đa tài, đa năng và đa hiệu. Họ chẳng những là những thương gia rành nghề mà còn là những quân nhân thiện chiến, kỹ luật và còn là những người lãnh đạo quần chúng. Vào đầu thế kỷ 7, Mecca là thủ phủ của những người Quraysh đã trở nên một trung tâm thương mại lớn nhất tại Trung Đông. Những người Quraysh không còn có dáng dấp quê mùa nghèo khổ của thế kỷ trước nữa trái lại họ đã trở thành những người văn minh giàu có. Điều đó làm cho nhiều bộ lạc Ả Rập khác phải thèm muốn và cố gắng noi theo. Một trong những bộ lạc nổi tiếng hung dữ là bộ lạc Bedouins bắt chước bộ lạc Quraysh đã bỏ nghề du mục và tham gia vào các đoàn caravanscủa Mecca. Vào giữa thế kỷ 7, gặp cơ hội đạo Hồi phát triển, các bộ lạc Ả Rập, nhất là Quraysh và Bedouin, đã nô nức nhập cuộc dùng tôn giáo làm phương tiện bành trướng lãnh thổ để thay đổi môi trường sống tại bán đảo Ả Rập quá cằn cỗi. Nguyên nhân 2:  Từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 7, toàn vùng Trung Đông và Bắc Phi bị hai đế quốc Byzantine và Sassanian thay phiên nhau thống trị. Đế quốc Byzantine là hậu thân của Đế quốc La Mã, được Đại Đế Constantine thành lập năm 330, đặt thủ phủ tại hải cảng Byzantine của Hi Lạp. Từ đời Constantine (thế kỷ 4) đến đời hoàng đế cuối cùng của Đế quốc Byzantine vào giữa thế kỷ 15, tất cả đều là những hoàng đế theo Chính Thống giáo Đông Phương (Orthodox -Eastern Christian Church). Đế Quốc  Sassanian là Đế quốc Ba Tư, tồn tại 427 năm (từ năm 224 đến 651). Các hoàng đế của Đế quốc Sassanian đều theo đạo Hỏa Giáo (Zoroastrianism). Cả hai đế quốc nói trên đánh nhau liên miên suốt 4 thế kỷ, đến đầu thế kỷ 7 thì cả hai đế quốc này đều bị kiệt quệ tạo nên một khoảng trống quyền lực (a power vacuum) tại Trung Đông và Bắc Phi. Do đó, những đoàn kỵ binh của Hồi Giáo Ả Rập đã tiến vào lãnh thổ của cả hai đế quốc này như tiến vào chỗ không người. Nguyên nhân 3:  Giáo lý đạo Hồi là sản phẩm của người Ả Rập nên được người Ả Rập đón nhận một cách dễ dàng và tự nhiên. Từ thời xa xưa, người Ả Rập đã chấp nhận niềm tin của Abraham, nghĩa là tin có Thiên Chúa (tiếng Ả Rập gọi là Allah) tin có Thiên đàng, Hỏa ngục, tin có các thiên thần v.v... Cho nên người Ả Rập không coi Hồi Giáo như một đạo ngoại lai mà là đạo cổ truyền của dân tộc. Văn thơ trong kinh Koran đối với người Ả Rập là những áng thơ văn tuyệt tác. Mỗi khi họ đọc kinh Koran là một dịp họ ngâm thơ, họ cảm thấy những vần thơ đó rất hấp dẫn vì rất hợp với khiếu thẩm mỹ văn chương của họ. Ý niệm thánh chiến (Jihad) và ý niệm tử đạo (martyrdom) hoàn toàn phù hợp với tâm lý vốn hung bạo của người Ả Rập vì họ rất quen thuộc với cuộc sống đầy bất trắc tại sa mạc. Kinh Koran mô tả thiên đàng rất hấp dẫn đối với các chiến binh trẻ tuổi: Sau khi chết trận, được coi như tử đạo, sẽ được Allah cho lên thiên đàng để hưởng đủ lạc thú cho đến muôn đời. Lạc thú độc đáo nhất mà chỉ đạo Hồi mới có, đó là những người chết trận hoặc tử đạo đều được những cô gái trinh tuyệt đẹp đón tiếp và phục vụ lạc thú tình dục cho đến muôn đời vì mọi người ở thiên đàng đều trẻ mãi không già! Niềm tin đặc biệt này đã là một yếu tố tâm lý quan trọng khiến cho những người lính Hồi Giáo trở thành những chiến sĩ rất dũng cảm trong các cuộc thánh chiến. Chỉ vì cuồng tín, những đoàn quân Hồi Giáo đã lập nên những chiến công oanh liệt như những kỳ tích vượt xa sự dự tưởng của mọi người. Những cuộc chiến tranh mở rộng nước Allah của Hồi Giáo (Kingdom of Allah) từ ngày lập đạo tới nay có thể được chia ra làm hai thời kỳ: - Thời kỳ I-  từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 13: Đạo Hồi bành trướng và phát triển tạo thành một số quốc gia theo đạo Hồi, đứng đầu cộng đồng Hồi Giáo là một vị vua được gọi là Caliph, có nghĩa là "người kế vị giáo chủ Muhammad về phương diện thế quyền ". Xin ghi thêm ở đây là đạo Hồi tin giáo chủ Muhammad là thiên sứ cuối cùng của Allah cho nên không một ai có quyền tự xưng là kẻ thừa kế của Ngài về phương diện thần quyền. - Thời kỳ II-  từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20: Do những biến cố đặc biệt của thế giới đã đưa đến sự  thành hình ba đế quốc Hồi Giáo. Trước hết là sự xâm lăng của quân Mông Cổ chiếm các nước Trung Đông và sau đó chiếm các nước Bắc Ấn và nhiều nước Á Châu khác tạo thành một Đế quốc Mông Cổ rộng lớn. Từ cuối thế kỷ 13, nhiều hoàng đế Mông Cổ theo đạo Hồi đã tạo nên đế quốc Hồi Giáo Mughul (do chữ Mongol mà ra). Trong thế kỷ 15, tại Âu Châu, người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi Giáo chế ra thuốc súng và lập ra binh chủng pháo binh đầu tiên trên thế giới. Dựa vào sức mạnh quân sự, người Thổ Hồi Giáo xua quân đánh chiếm nhiều nước trên cả 3 lục địa Âu, Á, Phi và lập nên đế quốc Ottoman. Cuối cùng, dân tộc Azerbaizan ở tây nam biển Caspian bỗng nhiên trở nên hùng mạnh vào đầu thế kỷ 16, cất quân đánh chiếm nhiều nước Âu Châu và Trung Đông tạo thành đế quốc Safavids theo giáo phái Shiite. Calligraphic representation ofMuhammad's name                                        

  • 0 TÌM HIỂU VỂ LỄ PENTECOST - Tác Giả: Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    Trong nguyên văn Hi-lạp viết là “petekoste”  có nghĩa “fiftieth” là ngày thứ năm mươi.  Trưóc đây, chúng ta quen nghe là “Ngũ tuần,”  đúng ra phải là “thất tuần.”    Ðối với ngưòi Do-thái, đây là lễ lớn thứ nhì trong ba đại lễ:  Lễ Vượt qua, lễ Thất tuần và lễ Lều tạm.  Các lễ nầy đã đưọc Thánh Kinh ghi trong Xuất. 23:16; Lê-vi-ký 23:15-22;  Dân  số ký 28: 26-31; Phục. 16:9-12.   Lễ Thất Tuần (Pentecost) Các Danh Hiệu của Lễ Thất Tuần còn đưọc gọi là Lễ Các Tuần (The Feast of Weeks)  Xem xuất. 34:22; Phục. 16:10, 16; II Các Vua 9:13 nhằm mục đích thờ phượng Chúa và cử hành lễ sau bảy tuần, hay năm mươi ngày, sau lễ Vưọt qua.  (xem Lê vi ký 23:15, 16) Lễ Gặt Hái  (The Feast of Harvest  Xem Xuất 23:16  còn đưọc gọi là lễ Thu Hoạch. Lễ Hoa Qủa Ðầu Mùa (The Day of First Fruits)  Xem Dân số ký 28:26; Lê vi ký 23: 17, vì các ổ bánh đã được làm từ các lúa mì đầu tiên đưọc dâng lên bàn thờ Chúa.   Nguồn Gốc của Lễ Thánh Kinh đã không ghi rõ về lịch sử nguồn gốc của lễ này, chúng ta hiểu rằng lễ Thất tuần có một lịch sử về sự thu hoạch mùa màng vào thời dân Do-thái vào Ðất Hứa, dân sự của Ngài đã dâng lên Thiên Chúa các hoa quả đầu tiên của mùa màng: các lúa mì tốt nhất, ngưòi Do-thái hiểu và nhận thức rằng hoa quả đầu mùa cột chặt với Chúa Hằng Hữu.   Ngưòi Do- thái liên kết với lễ Vượt qua xuyên qua sự hồi tưỏng vào ngày thứ sáu của Sivan, ngày Thiên Chúa ban hành Muời Ðiều Luật vào ngày thứ năm mươi sau lễ Vưọt qua.    Chúng ta có thể hiểu rằng có sự liên quan giữa tình trạng sống nô lệ tại Ai-cập với các kỳ lễ lớn này khi đọc Phục. 16:12.   Lễ Thất tuần có liên quan đến lễ Vượt qua, là lễ lớn và quan trọng nhất trong các kỳ lễ của người Do-thái, họ đã đưọc Thiên Chúa giải phóng khỏi ách thống trị tàn bạo của Pha-ra-ôn, dánh dấu sự chấm dứt đời làm nô lệ của dân Do-thái.   Thời Ðiểm của Lễ Ngày cử hành lễ Thất tuần nhằm ngày thứ năm mươi kể từ “ngày mai sau ngày Sa-bát” của lễ Vưọt qua  (xem Lê vi ký 23:11, 15, 15; Phục. 16:9), sau bảy tuần lễ trọn, sau ngày đặt lưỡi liềm trên lúa.  Ý nghĩa chính xác của từ ngữ “Sa-bát”  trong mối liên quan này để chỉ định ngày cử hành lễ Thất tuần.  Sau ngày Sa-bát (thứ bảy) là ngày thứ nhất trong tuần (Chúa nhật)   đó là ngày cử hành lễ Thất tuần.   Nghi Thức Cử Hành Lễ Luật Môi-se cho biết vào ngày lễ Thất tuần, đó là ngày lễ thánh trọng đại của quốc gia Do-thái, không ai làm việc, mọi thành phần phải tham dự lễ tại đền thờ, và mang theo của lễ đặc biệt (Lê vi ký 23:15-22; Dân số ký 28:26-31)  Các của lễ như: a)     Cuả lễ dâng vào buổi sáng và chiều với thịt và nưóc uống. b)     Của lễ thiêu gồm có bảy chiên, một con bò thiến tơ, hai chiên đực chưa thiến, với thịt và nước uống (Lê vi ký 23:18; Dân số ký 28:26)  c)      Dâng hai ổ bánh với hai phần muời ê-pha bột mì không có men (Lê vi ký 23:17) d)     Cùng với các ổ bánh: có bảy chiên con một tuổi không tì vết, hai chiên đực, một bò tơ đực, dâng lên Thiên Chúa để cảm tạ Ngài về sự thu hoạch mùa màng đã nhận đưọc từ bảy tuần lễ trước. Lê vi ký 23: 17: “Các nguơi phải từ nhà mình đem hai ổ bánh…”   không được hiểu là mỗi gia trưỏng mang hai ổ bánh, nhưng đưọc hiểu là hai ổ bánh đại diện cho cả dân sự.  “Từ nhà mình” ngụ ý ổ bánh đã được sửa soạn cho sự nuôi dưõng phần xác hằng ngày cho cả nhà, chứ không hàm ý  đặc biệt cho một mục đích thánh nào.  Ðây là của dâng tự nguyện, đưọc mang đến với Chúa bởi từng cá nhân để cảm tạ Chúa về các ân huệ Ngài đã ban cho.  Ðó là các lễ dâng thịt, nưóc uống, của lễ thiêu (Phục. 16:10) Lễ này là mùa hân hoan cho các trẻ em, ngưòi lớn, ngưòi phục dịch, ngưòi Lê-vi, kẻ khách lạ, ngưòi mồ côi và goá phụ (Phục. 16:11)  Ngưòi Do-thái hồi tưỏng giai đoạn họ đã bị làm nô lệ tại Ai-cập và nay được Thiên Chúa giải phóng và gìn giữ điều luật thiên thưọng (Phục. 16:12) Cử Hành Lễ Lễ Thất Tuần Sau Thời Kỳ Bị Lưu Ðày Ðọc Công vụ. 2: 9-11, chúng ta thấy ngưòi Do-thái từ các quốc gia khác trở về Giê-ru-sa-lem trưóc lễ Thất tuần. Vào ngày hôm trưóc lễ Thất tuần, các ngưòi hành hương vào thủ đô, đến buổi chiều có tiếng kèn trổi lên.  Bàn thờ đã được thanh tẩy, vào lúc nửa đêm cửa chánh đền thờ mở ra.  Vào buổi sáng sớm, các của lễ thiêu và thù ân đã được dân sự mang đến  để các vị tế lễ xem xét.  Tiếp theo là các thứ tự để cử hành lễ dâng: a)     Của lễ dâng buổi sáng b)     Các của lễ được dâng theo Dân số ký 28:26-30 c)      Chi phái Lê-vi hát xưóng bài Alleluia và cả dân sự cùng tham dự. Dâng ổ bánh đầu mùa với các món sau đây: ba seahs bột lúa mì mới, hai chiên con. d)     Các của dâng tình nguyện của dân sự để làm nên sự vui vẻ qua các bửa ăn trong gia đình, cho ngưòi Lê-vi, goá phụ, cô nhi, ngưòi nghèo và khách lạ đưọc mời dự.  Cử Hành Lễ Thất Tuần Ngày Nay Lễ này đã được ngưòi Do-thái mỗi năm cử hành vào ngày thứ sáu và thứ bảy của Sivan – ví dụ, khoảng giữa hạ tuần tháng Năm cho đến thượng tuần của tháng Sáu.  Theo Lê vi ký 23: 15, ngưòi Do-t hái thưòng đếm từ ngày thứ hai sau lễ Vượt qua cho đến chiều thứ “ngày năm mươi” thì đó là lễ Thất tuần, và họ cầu nguyện vào ngày ấy.  Ba ngày trước kỳ lễ lớn này, ngưòi Do-thái hồi tưởng đến ngày Thiên Chúa ban bố bảng Luật pháp, còn được gọi là ba ngày của sự tách biệt và thánh hoá (the three days od separation and sanctification), bởi vì Thiên Chúa đã ban lệnh cho Môi-se là phải tách rời và phân định ranh giới cho dân sự không được đến gần núi Si-nai-i, và trong ba ngày đó, họ phải giữ mình thanh sạch để chờ đợi Chúa ban cho luật pháp (Xuất. 19:12, 14, 23) Vào ngày chuẩn bị cho lễ, các nhà hội (the synagogues) và tư gia trang hoàng các loại bông hoa và các lá tỏa hưong thơm; phái nam thanh tẩy đời sống mình bằng sự xưng nhận tội lỗi trưóc Chúa, họ mặc vào các trang phục của ngày lễ hội, và đến tại nhà hội, nơi đó có buổi cầu nguyện lúc đêm, ngưòi điều khiển ca đoàn cất lên lời chúc phưóc trên “cup of wine” để bắt đầu cho ngày lễ thánh.  Cũng thế, các gia trưỏng tại nhà của mình cũng làm như vậy trưóc bửa ăn chiều.  Sau khi ăn, dù tại nhà hội hay tại tư gia, họ đọc Thánh Kinh suốt cả đêm, về lý do Thiên Chúa đã ban bố bảng Luật pháp cho tổ phụ họ, họ thức dậy trong giấc ngủ và cầu nguyện xin Chúa cất khỏi họ mọi tội lỗi.   Vào buổi sáng của ngày lễ chính vào sáng hôm sau, một buổi cầu nguyện đặc biệt với  mục đích dâng lên Thiên Chúa sự vinh quang, Ðấng đã ban cho họ Luật pháp, bài ca Alleluiah đưọc cất lên; bài đọc về luật pháp Xuất. 19:1, 20, 26;  bài đọc “the Maphtir” Dân số ký 18:26-31 và bài đọc về sách tiên tri Ê-xê-chi-ên 1:1-28.  Vào buổi chiều, đọc bài cầu nguyện Musaph, và có lời chúc phưóc cho hội chúng, đầu của họ đưọc bao bởi khăn quàng.  Vào buổi chiều thứ hai của ngày lễ, họ  tụ tập tại nhà hội lần nữa, dùng nghi thức của các ngày lễ với các bài cầu nguyện đặc biệt của lễ Thất Tuần, nhấn mạnh đến Thiên Chúa vĩ đại, Ngài đã ban cho họ luật pháp.  Kế tiếp là tuyên bố giai đoạn thánh hoá của ngày lễ do chủ nhà hội và gia trưỏng nếu là ở tại nhà mình.  Lời cầu nguyện có khác nhau từ ngày thứ nhất, cũng như sự cử hành sự ban cho luật pháp xen lẫn với các lời cầu nguyện; bài ca Alleluiah đưọc cất lên, đọc sách Ru-tơ, đọc Phục. 15:19 – 16:17, hay 3:1-19; cầu nguyện cho các thân quyến đã có người mất đi; họ đọc The Musaph Ritual; các vị tế lễ đọc lời chúc phưóc, lễ kết thúc sau buổi chiều thờ phưọng, cũng như hai ngày trưóc lễ đã khởi đầu vào buổi hoàng hôn. Mục sư Nguyễn Hữu Ninh chuyển ngữ  từ “Unger’s Bible Dictionary”  by Merril F. Unger -  Moody Press – chưong Festivals: Pentecost.   Ngày nay, chúng ta quen thuộc về lễ Pentecost của thời kỳ Tân Kinh đánh dấu một biến cố vô cùng trọng đại của Cơ-đốc giáo, đó là ngày khai sinh của Hội Thánh Ðấng Ki-tô trên trần thế. Ðó ngày Chúa Thánh Linh giáng lâm trên các môn đệ của Giê-xu và các tín hữu đầu tiên.  Tất cả những ngưòi nầy đã được đầy dẫy Thánh Linh như Công Vụ. 2: 1-21 đã trưóc thuật. Biến cố thiên thượng kỳ diệu này đã làm ứng nghiệm lời tiên tri Giô-ên Giô-ên 2: 28-32  thời Cựu Kinh:  “Trong những ngày sau cùng, Ta sẽ đổ Thánh Linh Ta trên tất cả mọi ngưòi, Con trai và con gái các ngưoi sẽ nói tiên tri, Thanh niên sẽ thấy khải tượng Ngưòi già sẽ thấy chiêm bao. Trong những ngày ấy, Ta sẽ đổ Thanh Linh Ta trên các tôi trai, tớ gái Ta, Và họ sẽ nói tiên tri. Ta sẽ ban các phép mầu trên trời Và dấu lạ dưới đất là máu, Lửa và luồng khói. Mặt trời sẽ nên tối tăm, Mặt trăng sẽ đỏ như máu Trưóc ngày vĩ đại và vinh quang  của Chúa đến. Và ai cầu khẩn Danh Chúa đều sẽ đưọc cứu.”   Bản Dịch Mới  -  Arms of Hope 2002 Trưóc khi thăng thiên, Chúa Cứu-thế Giê-xu Ki-tô đã trấn an các môn đệ, vì họ lo âu, buồn bã khi biết Thầy của họ sẽ lìa xa họ.  Trong Giăng chưong, Giê-xu phán rằng “Lòng các con chớ nên lo âu.  Hãy tin Thiên Chúa, cũng hãy tin Ta nữa (c. 1)… Ta sẽ xin Cha, Ngài sẽ cho các con một Ðấng Trợ Giúp khác để ở với các con mãi mãi.  Ngài là Thánh Linh của sự thật.  Thế gian không thể tiếp nhận Ngài vì không thấy cũng không biết Ngài.  Nhưng các con biết Ngài vì Ngài sống trong các con và sẽ ở với các con.”  (c.16,17)  Bản Phổ Thông Niềm Hi Vọng - Tân Ưóc -  Cơ Quan Phiên Dịch Kinh Thánh Thế Giới. Cảm tạ Chúa, tất cả các lời hứa từ thời kỳ tiên tri Giô-ên cho đến thời Giê-xu đã được ứng nghiệm một cách diệu kỳ!  Chúng ta cũng cần nên nhớ, thời kỳ Cựu Kinh, Chúa Thánh Linh đã đến với các các nhã lãnh đạo dân Do-thái, các vị thẩm phán (Judges), tiên tri, Người của Thiên Chúa, Ngài đã đến với họ và đi.  Ðến thời Tân Kinh, lời Giê-xu phán hứa với các môn đệ rằng “Thánh Linh sẽ đến và sống trong các con và sẽ ở với các con.”  Từ biến cố của lễ Thất Tuần trong Công Vụ chương 2, Thánh Linh đã đến với Hội Thánh và ngự trị trong con dân Chúa luôn để ứng nghiệm lời Giê-xu đã hứa. Amen The poet William Blake wrote a poem about Pentecost. Part of the poem says:"Unless the eye catch fire, God will not be seen.Unless the ear catch fire, God will not be heard.Unless the tongue catch fire, God will not be named.Unless the Heart catch fire, God will not be loved.Unless the mind catch fire, God will not be known.  

  • 0 Nguồn Gốc của Father’s Day - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    Nguồn Gốc của Father’s Day       Ngày từ phụ, trái với quan niệm sai, đấy không phải là ngày đưọc thành lập để các công ty in đủ các lại thiệp chúc mừng bán trên thị trưòng.  Bởi vì trong ngày “Father’s Day” thứ nhất đã không có một cánh thiệp nào trên thương trưòng như ngày nay. Thật ra, “ngày từ phụ” từ tiên khởi đã có một ý niệm thật hay. Bà Sonora Smart Dodd tại tiểu bang Washington là ngưòi đầu tiên đã có ý nghĩ về “Father’s day,”  khi bà nghe một bài giảng về đề tài Mother’s Day vào năm 1909.  Bà nảy ra một ý tưởng  là phải có một ngày đặc biệt để vinh danh thân phụ của mình, ông William Jackson Smart,một cựu chiến binh trong cuộc nội chiến, và ông trở thành goá vợ, khi mẹ của Sonora từ trần sau khi sinh ra đứa con thứ sáu.            Ông Smart giờ đây thành “gà trống nuôi con,”  với năm con lớn và một bé sơ sinh tại nông trại vùng phía đông của tiểu bang Washington.  Khi Bà Dodd trưởng thành, bà nhận ra sức mạnh và lòng vị tha của thân phụ đã biểu lộ  khi ông nuôi nấng các con trong cưong vị của một “single parent.” Trong mắt của Sonora, bà nhận thức rằng thân phụ bà đã hi sinh, có lòng can đảm, vị tha và đầy lòng thưong yêu.  Thân phụ bà sinh vào tháng Sáu, vì thế bà chọn tháng Sáu vào Chúa nhật 19 năm 1910 để cử hành  ngày “Father’s Day” đầu tiên tại Spokane, Washington.   Và cũng vào thời điểm này có nhiều thành phố khắp nưóc Hoa kỳ dân chúng cũng bắt đầu cử hành “ngày từ phụ.”   Năm 1924, Tổng thống Calvin Coolidge ủng hộ ý tưỏng  ngày từ phụ của quốc gia.  Sau cùng, mãi đến năm 1966, Tổng thống Lyndon Johnson đã ký đạo luật tuyên bố Chúa nhật  thứ ba trong tháng Sáu là “Father’s Day.” Ngày Từ phụ đã trở nên một ngày không chỉ vinh danh ngưòi cha, nhưng cũng cho tất cả các ông là những ngưòi như bố nuôi, các ông nội ngoại, một ngưòi nam trưỏng thành đều đưọc vinh danh trong ngày Từ phụ.