• 0 CHỨNG MỠ CAO TRONG MÁU: NỖI ÁM ẢNH THỜI ĐẠI Bác Sĩ Lê Văn Thu - Kỳ 1

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Mỡ trong máu là một nỗi ám ảnh khiến một số người ăn mất cả ngon. Ngoại trừ giới trẻ khi mà nguy cơ các bệnh tim mạch chưa lấp ló ngoài ngưỡng cửa cuộc đời, và một số bà con thuộc họ hàng nhậu chết bỏ, ai nấy trong chúng ta một khi đã được thử nghiệm và phát hiện có mỡ trong máu thì đều lo lắng, và cố tìm cách giã từ những thức ăn có chất tạo mỡ nhiều trong máu. Khổ một nỗi, thức ăn mà không có mỡ thì lại không được thơm, chẳng được ngon. Cái món thịt nướng mà không có lẫn tí mỡ thì làm sao thơm? Cái món thịt luộc cuốn rau diếp chấm nước mắm mà không phải là thịt ba chỉ thì làm sao ngọt ngào trong miệng? Cái món phở mà thiếu nước béo, gầu giòn, thì làm sao đậm đà hương vị quê hương? Nhưng ăn lắm vào thì có ngày chầu ông bà sớm vì hai nguy cơ chính do nhiều mỡ trong máu gây ra: tai biến mạch máu não(cerebro-vascular accident) và trụy tim (heart attack). Gần đây, qua nhiều nghiên cứu rất đáng tin cậy trên hàng chục ngàn người, những món có tinh bột (carbohydrates) cũng góp phần không nhỏ vào vụ tạo mỡ nhiều trong máu và gây ra bệnh tiểu đường. Thế là cái món ăn đơn giản thường ngày của phe ta như cơm, phở, bánh mì cũng lại phải cắt giảm nếu muốn trường thọ. Với một số người ít lưu tâm, kể cả một vài vị đông y sĩ tự phong tước bác sĩ, thì mỡ chỉ giản dị là cholesterol, và con số 200 mg/dL là mức để họ nhắc nhở phải giữ để “an tâm hồ hởi” mà sống. Thế nhưng, vấn đề không phải chỉ đơn giản có thế! Vậy, thực chất của cholesterol là gì, nguyên nhân và hậu quả của chứng cao mỡ trong máu ra sao, làm thế nào để phòng ngừa và điều trị hầu kéo dài tuổi thọ? Cholesterol là gì? Cholesterol là một chất nhờn (waxy) được tìm thấy trong mỡ (fat) của máu. Cơ thể con người rất cần mỡ để chế tạo các tế bào lành mạnh, nhưng nếu nhiều cholesterol quá thì lại bị nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Khi cholesterol bị dư thừa, mỡ sẽ đóng dày trong mạch máu khiến cho sự lưu thông trong động mạch bị trở ngại. Từ đó, máu không giao đủ số lượng oxy cho các vùng trách nhiệm: Khi lượng oxy vào tim bị giảm đột ngột thì gây ra chứng trụy tim, lượng oxy vào não bị thiếu thì gây ra chứng tai biến mạch máu não. Chứng cao cholesterol có khi là do di truyền, nhưng hầu hết thường là do lối sống không lành mạnh. Vì thế, chứng cao cholesterol có thể ngừa được bằng cách thay đổi lối sống không tốt đó: ăn thực phẩm lành mạnh, tập thể dục, ngăn ngừa béo phì, bỏ hút thuốc lá, tránh căng thẳng thần kinh (stress), và nếu cần thì phải uống thuốc hạ cholesterol đều đặn. Chứng cao cholesterol là chứng không gây triệu chứng lộ liễu ra ngoài, mà chỉ biết được khi thử máu. Nó được ví như tên sát nhân dấu mặt, đợi đến khi người ta bị trụy tim hay tai biến mạch não mà nó là đích danh thủ phạm thì đã quá trễ. Các loại cholesterol: Cholesterol được gắn với protein (gọi chung là lipoprotein) và lưu thông cùng với máu trong huyết quản. Có nhiều loại cholesterol: -        Low density lipoprotein (LDL). LDL, còn gọi là mỡ xấu, là loại kết tụ trên thành động mạch làm cho động mạch cứng và hẹp. Ta có thế ví nó như đồ đạc vất ngổn ngang trên lộ, lâu ngày bám chặt vào lề đường. -        Very-low-density lipoprotein (VLDL). Là một loại mỡ (fat) lưu thông trong mạch máu, đa số là triglycerides, và cũng kết hợp với protein trong máu. Đó là những hạt mỡ di chuyển tự do trong lòng động mạch, nhưng khi số lượng nhiều lên thì cũng khiến việc lưu thông máu khó khăn hơn. Ta có thể ví nó như xe cộ trên đường phố, càng nhiều xe thì việc lưu thông càng khó khăn, có khi đưa đến tắc nghẽn. -        High-density lipoprotein (HDL). HDL còn được gọi là mỡ tốt. Ta có thể ví nó như chiếc xe “chở hàng”, chuyên đi hốt các đồ đạc vất ngổn ngang trên lộ (tức các hạt mỡ xấu dư thừa) mang về gan để chuyển hóa. Lượng cholesterol có thể gia tăng trong máu, đưa đến bệnh tim mạch, nếu bạn mang những thói quen xấu hoặc có những yếu tố tác hại sau: -        Hút thuốc lá. Nicotin trong khói thuốc có khuynh hướng làm tích tụ mỡ trên thành mạch máu khiến động mạch vành nuôi tim (coronary arteries) dầy cứng lên, đồng thời tăng huyết áp và nhịp tim. Hút thuốc cũng có thể làm giảm lượng mỡ tốt HDL. -        Béo phì. Người nào có tỉ lệ BMI (body mass index - tỉ số trọng/khối thân thể) trên 30 kg/m² thì có thể dễ bị cao mỡ trong máu. -        Cách ăn uống tệ. Thực phẩm có nhiều mỡ, như thịt bò, thịt heo, hoặc phó sản từ mỡ nguyên chất, sẽ làm gia tăng lượng cholesterol. Ăn mỡ bão hòa (saturated fat), là loại mỡ có trong thịt thú vật hai và bốn chân, và mỡ biến chế (trans fats) có trong các loại bánh bột nướng (baked cookies and crackers), cũng làm gia tăng lượng cholesterol trong máu. Ngoài ra, tinh bột (trong gạo, bột mì) cũng làm gia tăng lượng mỡ xấu (small LDL-P). -        Không vận động. Tập thể dục sẽ giúp gia tăng lượng mỡ tốt (HDL) đồng thời làm giảm lượng mỡ xấu (LDL). Nó còn giúp tim làm việc hiệu quả hơn và việc tuần hoàn máu tốt hơn. Thiếu vận động thì cơ thể không được các lợi điểm trên. -        Huyết áp cao. Gia tăng áp lực lên thành mạch máu sẽ làm hư hỏng động mạch, đồng thời gia tốc việc kết tụ mỡ trên thành mạch máu. -        Bệnh tiểu đường. Cao đường trong máu sẽ góp phần vào việc làm tăng LDL và giảm HDL, đồng thời làm hư hỏng lớp nội mạc trên động mạch. -        Căng thẳng thần kinh (stress). Sự căng thẳng trong cuộc sống cũng có thể làm gia tăng lượng mỡ xấu. -        Tiền căn gia đình có bệnh tim. Nếu cha mẹ hoặc anh chị em của người nào bị bệnh tim trước tuổi 55 thì người đó cũng dễ mắc bệnh tim hơn người khác. -        Đàn ông trên 45 tuổi, đàn bà trên 55 tuổi. Biến chứng do mỡ cao trong máu: Cao lượng cholesterol trong máu có thể gây ra chứng xơ cứng động mạch (atherosclerosis). Hiện tượng tích tụ cholesterol trên thành động mạch sẽ tạo nên các vẩy dầy (plaques) khiến việc lưu thông máu khó hơn, đưa đến các biến chứng sau: -        Tức ngực (angina = chest pain). Nếu các động mạch vành, là động mạch đưa máu nuôi tim, bị tắc nghẽn thì người ta sẽ có thể bị tức ngực và các triệu chứng khác của bệnh động mạch vành (coronary artery disease). -        Trụy tim (heart attack). Nếu các vẩy dày bị rách hay tróc ra khỏi thành động mạch, nó sẽ trôi theo dòng máu, và làm tắc nghẽn mạch máu khi gặp chỗ hẹp. Một cục máu đông (blood clot) được tạo ra ngay tại chỗ nghẹt, ngăn không cho máu lưu thông xuống vùng dưới. Nếu máu ngưng cung cấp oxy cho tim do các động mạch vành bị nghẹt thì người ta bị trụy tim, là chứng làm người ở Mỹ chết rất nhiều, hơn cả ung thư các loại hợp lại. Mỗi năm, theo thống kê năm 2013 của Centers for Disease Control (CDC), ước lượng 600 ngàn người ở Mỹ chết vì trụy tim. -        Tai biến mạch máu não (stroke). Tương tự như chứng trụy tim, nếu lưu thông máu bị nghẽn, oxy không được cung cấp cho một vùng não, thì vùng não ấy bị chết, và người ta bị tai biến mạch não với những hậu quả khốc liệt lâu dài của nó, hoặc chết ngay tức thì nếu việc chảy máu hoặc tụ máu trong não quá trầm trọng. Mỗi năm, có khoảng 800 ngàn người ở Mỹ chết vì chứng này (thống kê của CDC). Khi nào nên đi thăm bác sĩ? Ngay từ 20 tuổi, bạn đã nên được thử cholesterol trong máu, nhưng ở dạng thử nghiệm đơn giản. Nếu kết quả thử nghiệm xấu thì bác sĩ sẽ có thể cho làm các thử nghiệm khác, chi tiết hơn. Nếu như gia đình có người bị cao cholesterol, bệnh tim hay các yếu tố tác hại khác, như hút thuốc lá, tiểu đường, cao huyết áp, thì bạn lại càng phải được khám kỹ hơn. (Còn Tiếp)

  • 0 CHỨNG MỠ CAO TRONG MÁU: NỖI ÁM ẢNH THỜI ĐẠI Bác Sĩ Lê Văn Thu - Kỳ 2

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    CHỨNG MỠ CAO TRONG MÁU: NỖI ÁM ẢNH THỜI ĐẠI   Bác Sĩ Lê Văn Thu - Kỳ 2 Trẻ con có cần thử máu tìm mỡ không? Ngay từ 2 tuổi, trẻ con cũng có thể bị cao mỡ trong máu, nhưng không phải tất cả trẻ con đều cần thử mỡ trong máu. Hiệp Hội Nhi Khoa Hoa Kỳ khuyến khích thử máu tìm mỡ cho trẻ em từ 9 đến 11 tuổi. Nếu gia đình có tiền căn mắc chứng cao mỡ trong máu hay bệnh động mạch vành thì trẻ em cũng cần được làm thử nghiệm này ngay từ lúc mới được 1 tuổi. Nếu thử nghiệm lần đầu âm tính (tức bình thường) thì cũng cần làm lại lần thứ hai cho chắc. Hiệp Hội cũng khuyến khích làm thử nghiệm này cho trẻ con bị béo phì, có huyết áp cao hay tiểu đường, dù không rõ tiền căn gia đình. Thử máu tìm mỡ như thế nào? Khi thử máu tìm mỡ, bác sĩ thường ra lệnh thử các loại: Total cholesterol, LDL-C(LDL-Concentration), HDL-C (HDL-Concentration) và Triglycerides. Để kết quả chính xác, người được thử phải cữ ăn hay uống (ngoại trừ nước) trước khoảng 9 đến 12 giờ. Ở Hoa Kỳ, được coi là bình thường khi số lượng các chất nói trên ở mức: -        Total cholesterol phải dưới 200 mg/dL. -        LDL-C phải dưới 70 mg/dL cho người đã từng bị bệnh tim mạch hay tiểu đường, dưới 100 mg/dL cho người có cơ nguy (chứ chưa bị) mắc các bệnh trên, dưới 130 mg/dL cho người bình thường. -        HDL-C tốt nhất phải trên 60 mg/dL, hay ít nhất phải trên 40 mg/dL cho đàn ông và trên 50 mg/dL cho đàn bà. -        Triglycerides: Triglycerides là một loại mỡ trong máu, được cơ thể dùng để tạo năng lượng. Được coi là bình thường khi nó chỉ chiếm dưới 150 mg/dL trong máu. Khi vượt quá số 150mg/dL, nó có thể tạo nguy cơ bệnh tim, bệnh tiểu đường và tai biến mạch máu não, và là một trong những thành tố của hội chứng biến dưỡng [metabolic syndrome = cao huyết áp, nhiều đường trong máu, nhiều mỡ tích tụ quanh hông (tức mập bụng), ít HDL, và nhiều triglycerides]. Những nguyên nhân làm triglycerides nhiều trong máu là béo phì, tiểu đường, nhược giáp trạng (hypothyroidism), bệnh thận, ăn quá nhiều, và uống quá nhiều rượu. Có khi các loại thuốc như tamoxifen, steroids, beta-blockers, thuốc lợi tiểu, thuốc estrogen và thuốc viên ngừa thai cũng có thể nâng lượng triglycerides lên cao. Nếu do di truyền, lượng triglycerides dư thừa trong máu thường tụ tập dưới da tạo nên chứng mỡ tụ dưới da (xanthomas). Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ khuyến khích người ta phải đưa lượng triglycerides xuống dưới 100 mg/dL, nhưng thay vì uống thuốc để đạt con số 100 mg đó, Hội khuyên người ta nên tập thể dục, ăn thực phẩm lành mạnh, và giảm cân, vì chính 3 phương pháp này sẽ làm giảm đáng kể lượng triglycerides trong máu. Trong mấy năm gần đây, người ta đã tìm ra một phương pháp thử mỡ máu mới, được gọi là NMR LipoProfile . NMR LipoProfile (Nuclear Magnetic Resonance LipoProfile, còn gọi là Particle Test) là một phương pháp thử nghiệm đơn giản tìm các hạt (particles) LDL (LDL-P) và HDL (HDL-P) trong máu. Nó cũng cho biết kích thước và số lượng của các hạt này. Nhờ cách thử nghiệm mới đó, bác sĩ sớm tìm ra được hướng điều trị thích hợp. Vì sao NMR LipoProfile quan trọng? LDL vốn đã được gọi là “mỡ xấu”. Muốn biết nó xấu như thế nào thì phải nghiên cứu các hạt LDL, là những hạt mang và cài đặt cholesterol lên vách động mạch, tạo nên các vẩy dầy (plaques). Càng nhiều hạt LDL, càng nhiều vẩy dày được tạo lập. Hậu quả của việc thành hình các vẩy dày này là chứng xơ cứng động mạch (atherosclerosis), khiến cho việc lưu thông máu bị cản trở và suy giảm, đưa đến các chứng trụy tim và tai biến mạch máu não. Với phương pháp thử mỡ trong máu thông thường, người ta chỉ biết được nồng độ (concentration) LDL (gọi tắt là LDL-C) trong máu, mà nồng độ này lại không chỉ ra được số lượng hạt LDL (LDL-P). Hiện nay, rất nhiều bác sĩ hành nghề ở Hoa Kỳ, đặc biệt là các bác sĩ chuyên khoa tim mạch, đã thấy tầm quan trọng của thử nghiệm này và thường lệ ra lệnh thử nó. Khi đi khám tổng quát hằng năm, hoặc trong một cuộc khám để theo dõi một bệnh nào đó, với tư cách bệnh nhân, bạn hãy yêu cầu bác sĩ của bạn làm thử nghiệm này, nếu bạn rơi vào các trường hợp sau đây: -        Đang phải kiêng khem trong việc ăn uống và tập thể dục để làm giảm mỡ trong máu -        Đang phải uống thuốc hạ mỡ -        Đã từng bị trụy tim hay tai biến mạch máu não trong quá khứ -        Gia đình có người đã từng bị hai chứng bệnh trên -        Đang bị chứng huyết áp cao Giải thích trên kết quả thử nghiệm NMR LipoProfile: LDL-P: Thử LDL-P sẽ cho biết hệ quả giữa số lượng hạt LDL và các biến cố về tim mạch mà không cần biết nồng độ LDL-C nhiều hay ít (có nghĩa là bệnh nhân dù có LDL-C thật thấp vẫn có thể bị trụy tim nếu LDL-P cao). LDL-P dưới 1000 nmol/L được coi là bình thường (Low); từ 1000 tới 1299: hơi cao (Moderate); từ 1300-1599: khá cao (Moderate-High), từ 1600-2000: cao (High); trên 2000: quá cao (Very High). Với người có nhiều nguy cơ bệnh tim mạch nên tìm cách cho giảm dưới 800. Với người có nguy cơ bị bệnh tim mạch thấp thì con số từ 1300 nmol/L trở xuống vẫn có thể chấp nhận được. LDL có liên hệ rất nhiều với việc cấu tạo nên chứng xơ cứng động mạch. Hạt LDL có kích thước khác nhau. Có hạt thì to xốp như bông và mịn màng, có hạt thì nhỏ và đặc cứng. Các nghiên cứu mới đây cho biết người nào trong máu có nhiều hạt LDL nhỏ và đặc thì dễ bị bệnh động mạch tim gấp 3 lần. Còn hạt lớn thì lại có tác dụng tốt giúp tránh được bệnh tim. Có điều, khi so sánh giữa số lượng hạt với kích thước hạt về nguy cơ gây bệnh tim, thì thấy số lượng (number of particles) có tầm ảnh hưởng hơn là kích thước (size). Cũng có sự liên hệ chặt chẽ giữa mức triglycerides trong máu với kích thước hạt LDL: số lượng triglycerides càng nhiều thì số hạt LDL nhỏ (small LDL-P) càng cao; số lượng triglycerides càng ít thì số lượng hạt LDL lớn (large LDL-P) càng nhiều. HDL-P: Thử HDL-P sẽ cho biết số lượng hạt HDL; số lượng hạt HDL-P càng thấp thì nguy cơ xơ cứng động mạch (đưa đến trụy tim) càng cao. HDL-P cho biết sự liên hệ ấy rõ và chính xác hơn là HDL-C. Người có lượng HDL-P thấp (< 1.03 mmol/L) thì sẽ có cơ nguy bị trụy tim cao. Người có lượng HDL-P cao (> 1.55 mmol/L) thì ít bị bệnh tim. Xem kết quả thử nghiệm NMR LipoProfile, đặc biệt là LDL-P, bác sĩ có thể quyết định chính xác kế hoạch điều trị cá biệt cho từng bệnh nhân. LP-IR. Phương pháp thử NMR LipoProfile cũng giúp người ta tiên đoán được nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 trong tương lai của bệnh nhân qua chỉ số LP-IR (Insulin Resistance). Khi thấy chỉ số này tăng thì bác sĩ sẽ hướng dẫn bạn cải thiện lối sống và đặt kế hoạch điều trị để cố gắng trì hoãn hoặc ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh tiểu đường đó. Điều Trị và Thuốc Men Phương thức đầu tiên để chống lại chứng mỡ cao trong máu là thay đổi lối sống và tập thể dục. Nhưng nếu hai phương cách trên không giúp giảm cholesterol thì bác sĩ phải cho bạn dùng thuốc. Cũng có nghiên cứu cho thấy là nếu tập thể dục đi đôi với uống thuốc thì sẽ giúp kéo dài được tuổi thọ do ngăn chặn được một cách rất hiệu quả các hậu quả của chứng mỡ cao trong máu. Để điều trị bằng thuốc, bác sĩ của bạn sẽ lựa chọn loại thuốc tùy theo các nguy cơ (risks) mà bạn phải đương đầu, tuổi của bạn, tình trạng sức khỏe hiện tại của bạn, và phản ứng phụ của thuốc. Các thuốc hiện được sử dụng trên thị trường Hoa Kỳ là Statins. Statins là loại thông dụng nhất để làm giảm lượng cholesterol trong máu bằng cách ngăn cản cái chất mà gan cần để chế tạo cholesterol. Có nghĩa là gan giảm thiểu khả năng chế tạo cholesterol nếu ta dùng thuốc statins. Statins cũng giúp tẩy xóa đi các vẩy đóng trên thành động mạch, giúp động mạch vành thông thương lại dễ dàng. Có rất nhiều loại statins trên thị trường hiện nay. Đó là atorvastatin (Lipitor), fluvastatin (Lescol), lovastatin (Mevacor), pravastatin (Pravachol), rosuvastatin (Crestor), simvastatin (Zocor) và pitavastatin (Livalo). Khi người bị bệnh tim mạch (huyết áp cao, mỡ cao) phối hợp việc xử dụng statins với tập thể dục, nguy cơ chết vì bệnh tim mạch của họ đã giảm đáng kể (75%) so sánh với người chỉ dùng một thứ (hoặc là statin, hoặc là tập thể dục) không thôi. Đối với người già trên 75 tuổi, việc xử dụng statins cũng vẫn rất an toàn, và chúng là phương cách hiệu nghiệm kéo dài tuổi thọ của các cụ qua việc ngăn ngừa được các chứng trụy tim và tai biến mạch máu não, là những chứng mà càng già càng bị nhiều. Một ngạc nhiên thích thú là một nghiên cứu mới đây cho biết bệnh nhân bị ung thư phổi loại non-small cell (NSCLC) đã được cắt bỏ khối u nếu uống thuốc statins có thể thọ lâu hơn những người không uống thuốc, và nguy cơ bị tái phát cũng ít hơn. Chất ngăn chặn sự hấp thụ cholesterol(cholesterol absorption inhibitors). Ruột non hấp thụ cholesterol từ thức ăn rồi đưa vào dòng máu. Thuốc ezetimibe (Zetia) giúp hạn chế sự hấp thụ này, khiến lượng cholesterol vào máu do thực phẩm cung cấp sẽ bị giảm thiểu. Thuốc hạ triglycerides. Nếu máu có nhiều triglycerides, bác sĩ sẽ cho dùng thuốc: o   Fibrates. Các thuốc fenofibrate (Tricor, Lipofen, Lofibra) và gembibrozil (Lopid) giúp hạ mức triglycerides bằng cách bắt gan bớt sản xuất cholesterol loại VLDL (đa số là triglycerides) và gia tốc việc lấy triglycerides ra khỏi máu. o   Niacin. Niacin (Niaspan) giúp hạ triglycerides bằng cách hạn chế khả năng của gan trong việc sản xuất cholesterol loại LDL và VLDL. Omega-3 fatty acid supplements. Chất acid béo Omega-3 có thể giúp hạ cholesterol trong máu. Thuốc được bán tự do trên kệ. Dù vậy, bạn cũng nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng thuốc này, vì nó có thể ảnh hưởng đến các thuốc khác mà bạn đang dung. Đối với trẻ em từ 2 tuổi trở lên mà bị cao cholesterol hay béo phì thì biện pháp tốt nhất là tiết giảm khẩu phần và tập thể dục. Hiệp Hội Nhi Khoa Hoa Kỳ cũng đề nghị điều trị bằng thuốc cho trẻ em từ 8 tuổi trở lên nếu các em này có lượng LDL cao. Thế nhưng khuyến cáo này không được tất cả giới y khoa nhất trí tán đồng vì các phản ứng phụ của thuốc. Điều trị chứng cao cholesterol ở trẻ em Phản ứng phụ của thuốc thay đổi tùy người. Thông thường, người ta có thể bị ngứa, đau bắp thịt, xáo trộn tiêu hóa, chóng mặt, nhức đầu và gia tăng diếu tố gan (liver enzymes) khi xử dụng các loại thuốc hạ mỡ. Có người bị chứng nhão bắp thịt (rhabdomyolysis), tuy hiếm, nhưng khi phát hiện thì phải ngưng thuốc statin ngay. Khi dùng thuốc hạ mỡ, cơ năng gan của người dùng phải được theo dõi thường xuyên (3- 6 tháng) qua thử nghiệm diếu tố gan. Nếu diếu tố gan tăng cao bất ngờ hoặc nhiều quá thì phải ngưng thuốc. Bác sĩ của bạn sẽ giải thích rõ hơn về các biến chứng/phản ứng phụ mỗi khi cho toa. Phản ứng phụPhản ứng phụ của thuốc thay đổi tùy người. Thông thường, người ta có thể bị ngứa, đau bắp thịt, xáo trộn tiêu hóa, chóng mặt, nhức đầu và gia tăng diếu tố gan (liver enzymes) khi xử dụng các loại thuốc hạ mỡ. Có người bị chứng nhão bắp thịt (rhabdomyolysis), tuy hiếm, nhưng khi phát hiện thì phải ngưng thuốc statin ngay. Khi dùng thuốc hạ mỡ, cơ năng gan của người dùng phải được theo dõi thường xuyên (3- 6 tháng) qua thử nghiệm diếu tố gan. Nếu diếu tố gan tăng cao bất ngờ hoặc nhiều quá thì phải ngưng thuốc. Bác sĩ của bạn sẽ giải thích rõ hơn về các biến chứng/phản ứng phụ mỗi khi cho toa. Điều trị chứng cao cholesterol ở trẻ em Đối với trẻ em từ 2 tuổi trở lên mà bị cao cholesterol hay béo phì thì biện pháp tốt nhất là tiết giảm khẩu phần và tập thể dục. Hiệp Hội Nhi Khoa Hoa Kỳ cũng đề nghị điều trị bằng thuốc cho trẻ em từ 8 tuổi trở lên nếu các em này có lượng LDL cao. Thế nhưng khuyến cáo này không được tất cả giới y khoa nhất trí tán đồng vì các phản ứng phụ của thuốc. (Còn Tiếp)  

  • 0 ĐÃ XONG CUỘC CHẠY, CHARIOTS OF FIRE - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    ĐỌC KINH VĂN PHI-LÍP 3: 12-14 12 Ấy không phải tôi đã giựt giải rồi, hay là đã đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đang chạy hầu cho giựt được, vì chính tôi đã được Đức Chúa Jêsus Christ giựt lấy rồi. 13 Hỡi Anh em, về phần tôi, tôi không tưởng rằng đã đạt đến mục đích, 14 nhưng tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ Vào đầu thập niên tám mươi, Phim “Chariots of Fire” đã được thực hiện tại London, Anh quốc  (1981).  Nội dung mô tả về cuộc đời, và một phần đời sống của hai lực sĩ điền kinh đại diện cho quốc gia Anh-cát-lợi  tham dự Thế vận hội tại Anh quốc năm 1924: Harold Abrams, người Anh gốc Do-thái; Eric Liddell một tín hữu của Chúa Jêsus Christ nhiệt thành gốc người Tô-cách-lan. Đây là chuyện thật đã được David Puttnam sản xuất, phim do Đạo diễn Hugh Hudson thực hiện, và mô tả trung thực về những nỗi giằng co, sự xung đột nội tâm của lực sĩ Cơ-đốc Eric Liddell khi anh phải trực diện trước nhiều áp lực, anh phải chọn lựa giữa niềm tin và danh tiếng cá nhân.  Trong niềm suy tư của Eric, một lực sĩ Cơ-đốc, những giờ phút dài đăng đẵng tập luyện trên sân, phải đổ nhiều mồ hôi  dưới ánh nắng chói chang của ban trưa chiều, những cố gắng tối đa trong khị chạy cho nhanh hơn, tất cả đó là ơn do Chúa ban cho...  Và về sau này, tấm lòng và đời sống của anh dâng hiến cho Chúa Giê-xu Christ trên cánh đồng truyền giáo tại Châu Á thì đấy cũng chính là do Ơn-Kêu-Gọi-Thiên-Thượng  trên cuộc đời mình. Nội dung truyện phim phản ảnh chiều kích sâu thẳm nội tâm của hai nhân vật: Eric và Harold.  Cả hai đều là sinh viên của Viện Đại học Oxford.  Chàng Harold người Anh gốc Do-thái thì cho rằng mọi cố gắng thao dượt trên trường đua, tập luyện cam khổ dưới bất cứ thời tiết nào để đoạt giải huy chương vàng là một kiêu hãnh cho gia tộc quí phái  của mình, là một hãnh diện đáng nể giữa vòng giới sinh viên Đại học Oxford. Và Eric Liddell, sống trong sự giằng co, có cuộc tranh chiến trong đời sống nội tâm: Là một người-Christ (Christian), Eric phải lựa chọn hoặc là đi thờ phượng sáng Chúa nhật hay là phải  nghe theo lời các huấn luyện viên để ra sân tập luyện cuộc chạy thi. Phim “Chariots of Fire” đã được trình chiếu vào ngày 30-3-1981, và được đông đão khán giả tán thưởng.  Phim này đã được đề nghị bảy giải thưởng trong kỳ đại hội điện ảnh (Academy Awards) và đoạt được 4 giải thưởng, vì có nội dung xây dựng tốt (Eric đã từ chối không chịu ra sân tập luyện chạy trong buổi sáng Chúa nhật) Nhan đề của phim “Chariots of Fire” đã được trích ra từ một câu thơ của Thi sĩ Wiliam Blake "Bring me my chariot of fire," được phỏng theo một Thánh ca quen thuộc Anh-cát-lợi “Jerusalem” và bài thánh ca này được nghe vào phần cuối  của phim.  Tưởng cũng nên nói thêm, nhóm chữ “chariot(s) of fire” được trích từ sách 2 Các Vua 2:11 và  6: 17 trong Cựu Kinh. Câu chuyện cho biết trong cuộc thi điền kinh tại Thế Vận hội năm 1924, Eric đã vượt lên khỏi lực sĩ Hoa-kỳ Jackson Scholz và đoạt giải vô địch cuộc chạy 400m.  Dù vậy, đối với Eric thì chẳng có gì để kiêu hãnh, vì ngay từ khởi đầu, khi anh chấp nhận việc tham dự cuộc chạy thì Eric đã nghĩ rằng mọi sự đều nhằm mang lại sự vinh hiển cho Danh Chúa Cứu-thế Giê-xu Christ.  Và về sau, Eric đã từ bỏ mọi danh vọng dâng đời sống mình phục vụ Chúa như một nhà truyền  giáo tại Trung Hoa.  Và cũng từ đó trở về sau, luôn luôn Eric cùng có suy tư này cho đến tận cùng trong những chuỗi ngày khổ đau vì quân Nhật đã giam ông trong ngục tù tại Trung hoa lục địa.  Năm 1945, khi người Tô-cách-lan nghe tin Eric Liddell từ giả cõi đời này trong ngục tù Nhật họ đã thương tiếc một anh-hùng-đức-tin đã chạy xong cuộc đua trên trần thế ... KINH VĂN: 2 Ti-mô-thê 4:6-8 7 Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. 8 Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài.” HÊ-BƠ-RƠ 12 1-2 1 Thế thì, vì chúng ta được nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn, chúng ta cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta, 2 nhìn xem Đức Chúa Jêsus, là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Đấng vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời.

  • 0 Reformation Day Tại Đức Quốc - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Hằng năm, ngày 31 tháng 10,  Reformation Day là ngày lễ chính thức tại Đức quốc để nhớ lại Phong trào Cải chánh tại Âu châu.  Khởi đầu của phong trào này khi một tu sĩ người Đức tên Martin Luther dóng 95 luận đề tại cửa vào Đại giáo đường Wittenberg năm 1517.   Sự kiện này đã đánh dấu cho sự thay đổi về tôn giáo và xã hội tại Âu châu trong thế kỷ 16. Có rất nhiều tín hữu thuộc Giáo hội Lutheran và Cải cách tham dự những buổi thờ phượng đặc biệt kỷ niệm ngày quan trọng ngày.  Những người khác thì có một ngày nghỉ làm việc và họ có thì giờ với gia đình hay thân hữu. Những người khác thì đi mua sắm hoặc viếng thăm những quốc gia lân cận như Austria, Poland, Switzeland.  Họ cũng cử hành Reformation Day vì đây là ngày lễ chính thức của quốc gia. Reformation Day là ngày lễ chính thức của dân Đức tại những lãnh thổ gồm có Brandenburg, Mecklenburg-Vorpommern, Saxony, Saxony-Anhalt và Thuringia.  Tại những nơi này, bưu điện, ngân hàng, các cửa hàng và cơ sở kinh doanh đều đóng cửa. Tuy nhiên, tại những vùng đất du lịch thì các cửa hàng này vẫn mở như tại nhà ga tầu hỏa, phi cảng, những nơi dọc trên xa lộ. Lịch trình của sự vận chuyển công cọng thì tùy theo nơi nào dân cư sống và họ muốn đi du lịch. Bối Cảnh Lịch Sử Martin Luther là một tu sĩ La-mã Công giáo, một nhà thần học, một nhà lãnh đạo của Phong trào Cải chánh giáo hội trong thế kỷ 16. Nhiều người đã xem ông như vị “Cha già của Giáo hội Tin Lành” (Father of Protestanism). Trong suốt đời sống của ông, Martin Luther đã chứng kiến quyền uy của La-mã Công giáo  trên giáo dân cũng như ông  đã chứng kiến tệ nạn bán bùa xá tội. Bùa xá tội là những tài liệu được ban hành bởi La-mã Công giáo để tha tội cho giáo dân.  Vào thế kỷ 15 trở đi tệ nạn này đã xuất hiện tại Âu châu nhằm mục đích thu tiền của giáo dân mang về cho giáo hội trung ương tại Rome. Để diễn tả mối quan tâm của mình, Martin Luther đã đóng trên cửa Giáo đường Wittenberg 95 Luận đề vào ngày 31-10-1517.  Làm điều này, Martin Luther đã khởi đầu Phong trào Cải chánh. Phong trào nói trên bắt đầu tại Đức quốc năm 1517, về sau thì lan tràn đến các quốc gia Âu châu và chấm dứt vào khoảng năm 1648.  Đó là giai đoạn xảy ra sự thay đổi về tôn giáo và xã hội quan trọng tại Đức và Âu châu. Khoảng năm 1516-17, Johann Tetzel, một linh mục dòng Dominican và cũng là một sứ giả đặc biệt đã được triều đình  Vatican gửi đến Đức để bán bùa xá tội hầu có tiền xây đại Giáo đường St. Peter tại Rome. Martin Luther phản đối công việc làm của Linh mục Johann Tetzel như sau “Khi nào đồng tiền rơi vào thùng thì linh hồn được giải thoát từ ngục luyện tội nhanh chóng.”  Martin Luther tuyên bố rằng chỉ có sự tha thứ duy nhất từ Thiên Chúa, những ai dạy rằng cần mua bùa xá tội để mong thoát khỏi sự trừng phạt và được cứu rỗi thì là sai trật. Khoảng hai giờ trưa ngày 31-10-1517, Martin Luther  với cây búa trong tay ông tiến đến cánh cửa  Đại Giáo đường Wittenberg.  Tại nơi đấy, ông đóng đinh 95 Luận đề để phản kháng sự lạm dụng bán bùa xá tội theo như chiều hướng dạy dỗ và thực hành giáo lý của La-mã Công giáo thời Trung cổ.  Ngày nay,  để tưởng nhớ sự kiện quan trọng này, hằng triệu tín hữu Đấng Christ  vẫn cử hành Reformation Day này như là một biểu tượng khởi đầu của Phong trào Cải chánh Giáo hội.  Chúng ta cần nhớ rằng ngày 31-10 không phải là ngày của ma quái Halloween bèn là thời điểm để nhớ lại công cuộc Cải chánh, đặc biệt như Martin Luther đã viết trong Luận đề số 62:  “Kho tàng thật của giáo hội là phúc âm thánh của sự vinh quang và hồng ân của Thiên Chúa.” Martin Luther đóng 95 Luận đề tại cửa vào đại Giáo đường Wittenberg, Đức Sau khi Martin Luther đóng 95 Luận đề tại Giáo đường Wittenberg thì bản văn này đã được nhanh chóng dịch từ La-tinh ngữ sang Đức ngữ rồi được ấn hành và lưu hành cách rộng rãi.  Chỉ trong hai tuần lễ đầu, những bản văn của 95 Luận đề được phổ biến khắp cùng lãnh thoể Đức quốc;  và chỉ hai tháng sau đó, cả Âu châu đều  nhận được. Những tác phẩm giải kinh của Martin Luther đồng thời cũng được ấn hành và phổ biến đến Pháp, Anh, Ý vào đầu năm 1519.  Các sinh viên lũ lượt cùng nhau đến Wittenberg để nghe Martin Luther giảng thuyết.  Ông xuất bản quyển Giải kinh thư tín  Ga-la-ti, Thánh Vịnh. Những ấn bản của 95 luận đề này sau đó đã được phổ biến sâu rộng tại Đức và các quốc gia lân bang Âu châu.  Ngày nay tại Đức quốc, những học giả La-mã Công giáo  và Cải chánh giáo hội đã cùng nhau nghiên cứu. Và công trình này  sẽ được bày tỏ trong đại lễ 500 năm kỷ niệm Phong trào Cải chánh sẽ được tổ chức tại Wittenberg năm 2015.

  • 0 CHUYẾN ĐI WITTENBERG, GERMANY - Hồi Ký - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Nhận được ơn kêu gọi của Thiên Chúa, tôi đã đặt chân vào Viện Thần học Thánh Kinh tại Hòn Chồng, Nha Trang từ năm 1962 đến nay là 50 năm dài... Lòng ước mong của tôi là được thăm viếng vùng Đất Thánh Israel.  Năm 2009, Chúa đã cho phép tôi và nhà tôi đến vùng đất Do-thái để nhìn thấy tận mắt của mình quang cảnh của vùng biển Ga-li-lê xưa, địa danh mà Chúa Cứu Thế cùng các môn đệ đã đi qua.  Tôi cũng đã đến tận ngọn núi nơi Chúa Jêsus đã tuyên bố tám Phước lành, đến vùng đất Ca-na, sông Giô-đanh xưa, vườn Ghết-sê-ma-nê, đồi Gô-gô-tha, ngôi mộ trống... thật là những ngày đầy ơn phước ! Thêm nữa,  tôi cũng ao ước được đi đến các vùng đất mà Sứ đồ Giăng đã viết trong các chương đầu của sách Khải thị (Revelation) để viếng thăm bảy hội thánh Ê-phê-sô, Si-miệt-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi,  Lao-đi-xê.  Thành thật mà nói rằng trong những năm mài đũng quần trên ghế của Viện Thần học Thánh Kinh tại Nha Trang, các sinh viên chúng tôi đã có học sách Khải Thị, đọc textbook của Giáo sư John Drange Olsen; tuy nhiên, vào thời điểm ấy tôi không biết bảy hội thánh trong sách Khải Thị nằm ở đâu?   Ngày nay, qua Internet, tôi có thể tìm kiếm các tài liệu và biết rằng bảy hội thánh trong sách  Khải Thị nằm trong Quốc gia Turkey.   Tôi đã cầu xin Chúa mở đường cho tôi và nhà tôi được đến viếng thăm bảy hội thánh ấy, dù những biến động trong suốt hai nghìn năm qua, ngày nay các hội thánh  ấy chỉ còn là dấu tích cũ xưa. Đầu năm Dương lịch 2012,  Mục sư Hồ Xuân Phước từ California đã gặp chúng tôi tại Houston,  và ông cũng cho biết rằng chuyến đi thăm viếng bảy hội thánh trong sách Khải Thị sẽ được tổ chức vào đầu tháng 10 năm 2012.  Từ thời điểm ấy, chúng tôi cầu nguyện để ý Chúa được nên và chuyến đi này sẽ  không gặp trở ngại nào.  Tạ ơn Chúa đã cho phép chúng tôi lên đường sang  Turkey với khoảng năm muơi người gồm các mục sư và tín hữu khắp nơi... Chuyến đi này được mọi sự an lành.  Gần đây, tại Trung đông tình hình chính trị có thay đổi.  Vì thế,  tại Israel và Istanbul, Turkey tình trạng an ninh không giống như năm 2009 và 2012 nữa! Trong chuyến đi Turkey năm ấy,  tôi có nói với Mục sư Hồ Xuân Phước qua hệ thống microphone đang lúc xe  bus phom phom trên xa lộ rằng Chúa đã cho phép chúng tôi đi được hai nơi là Israel và Turkey nhưng vẫn còn một ước ao rằng chúng tôi  sẽ đến viếng thăm các địa danh đã từng nổi sóng trong thế kỷ XVI qua cuộc lãnh đạo của vị anh hùng đức tin Tiến sĩ Martin Luther.  Nếu Mục sư Phước tổ chức chuyến đi Germany, thì hai chúng tôi sẽ là những người đầu tiên hưởng ứng và ủng hộ ngay!   Từ lúc đó, tôi đã cầu xin Chúa bày tỏ ý Ngài để tôi và nhà tôi có dịp thuận tiện đi thăm viếng vùng thánh địa của Phong trào Cải chánh Giáo hội, cũng là cái nôi của Giáo hội Tin Lành (Protestant, Evangelical) ngày nay trên toàn cầu. Tạ ơn Chúa, sau nhiều tháng năm cầu nguyện cho vấn đề trên đây thì Chúa đã cho phép chúng tôi rời Houston để bay sang Âu Châu trong những ngày cuối tháng 8 năm 2013.   Thành thật mà nói từ 38 năm qua (tính năm 2013), tôi chưa hề đặt chân đến vùng Europe (ngoại trừ vùng đất Turkey nằm giữa Âu và Á Châu) trong khi ấy,  tôi đã gặp nhiều mục sư từ vùng Âu châu sang Hoa kỳ để dự nhóm các hội đồng hằng năm... Thế kỷ XVI sôi động với những bài giảng của   Tiến sĩ Martin Luther nảy lửa của Chúa Thánh Linh trên bục giảng của đại Giáo đường Wittenberg.  Từ những nhát búa do Tiến sĩ Luther đóng trên cửa vào của giáo đường này với 95 luận đề (theses) đã làm cho Giáo hội La-mã Công giáo rung rinh.   Các nhà lãnh đạo tôn giáo t ại Vatican  phải tìm mọi phương cách để ngăn chận và đè bẹp phong trào Cải chánh Giáo hội do Tiến sĩ Lurther lãnh đạo... Cuối cùng,  ngày 15-6-1520,  triều đình tôn giáo tại Vatican đã có papal bull (edict) ra phán quyết ban án lệnh excommunication đối với Tiến sĩ Luther: nếu ông không rút lại 45 điều ông đã giảng dạy, và 95 luận đề trong vòng 60 ngày. Vào thời đại Trung cổ, những ai bị án lệnh này thì kể như sống-mà-chết, không một giáo dân nào cả gan liên lạc với người đã bị án lệnh này!   Đó là vòng dây siết vào cổ để người ấy dần dần mà chết đi!  Thế lực ngoại hạng của giáo quyền thời Trung cổ đối với những ai muốn phản kháng quyền cai trị của giáo hội thật khủng khiếp!  Tuy nhiên, Luther đã can đảm thà mất mạng sống chứ không sám hối (recant) trước triều đình tôn giáo Vatican về những gì mình đã long trọng giảng dạy trong những năm qua.   Đồng thời  ông đã gửi đến ông vua tôn giáo (pope) tác phẩm On the Freedom of  a Christian và ngày 10 tháng 12 năm 1520, Luther đã đốt cái án lệnh ra tro tại Wittenberg.  Ông vua tôn giáo Leo X bèn quyết định dứt phép thông công Luther vào ngày 3 tháng Giêng năm 1521. Thiên Chúa đã  có kế hoạch trên người-của-Đức-Chúa-Trời.  Chúa đã dùng một  công tước là thân hữu của Luther để mang ông về lâu đài Warburg.   Trải qua nhiều tháng tại đây, Luther sống an toàn và nhờ ơn Chúa, ông đã dịch Thánh Kinh từ La-tinh ngữ và Hi-bá-lai ngữ sang Đức ngữ.  Thời bấy giờ, giáo dân khi đi lễ tại nhà thờ thị họ chỉ được nghe linh mục xướng lên La-tinh ngữ mà người địa phương không hiểu gì cả!   Suốt năm, giáo dân  đi nhà thờ đọc kinh, xưng tội với linh mục  mà không được nghe Lời Thiên Chúa phán.   Họ sống trong sự mù tối tâm linh và “Lời Chúa phải là ngọn đèn cho chân tôi là ánh sáng cho đường lối tôi.”   Vì nhận thấy sự quan trọng của Lời Chúa đối với giáo dân Đức quốc như thế,  Luther đã hoàn tất công cuộc dịch Thánh Kinh từ bản cổ ngữ La-tinh, Hi-bá-lai sang Đức ngữ mang đến một làn gió mới cho dân tộc Đức.  Và cũng vào thời điểm ấy, một phát minh mới mẻ do  Johannes Gutenberg  sáng chế máy in để ấn hành nhiều quyển Thánh Kinh Đức ngữ.  Do đó,  các tín hữu  được tự do đọc Thánh Kinh và không còn bị cấm đoán như trước đây bởi Giáo hội La-mã Công giáo. Đến Wittenberg Đây là một địa danh dính liền với sự nghiệp và hoạt động của nhà lãnh đạo Phong trào Cải chánh Đức quốc Tiến sĩ Martin Luther (1483-1546), có tên chính thức là   Lutherstadt Wittenberg.  Thành phố này  nằm về phía Đông cách Thủ đô Berlin khoảng 100 km (62 miles) là nơi đã hấp dẫn nhiều người trên thế giới  đi hành hương (the pilgrims).  Cũng tại thành phố này c ó nhà nhân bản Philipp Melanchthon   (1497-1560 ) và ông cũng là một nhà Cải cách đồng thời và bạn hữu với Luther.  Cả hai vị được thành phố này tạc tượng đồng đặt tại Town Hall Rathaus. Trước Thế chiến II, Đức quốc có hai phần ba là tín hữu Lutheran, và phần còn lại là giáo dân La mã Công giáo tại các vùng Bavaria  Baden-Württemberg, the Saarland, và Rhineland.  Các vùng đất khác tại Germany, đặc biệt là vùng bắc, đông bắc thì Giáo hội Lutheran Protestant chiếm đa số. Thứ Ba ngày 17 tháng 9 năm 2013, từ Liège, Belgium hai chúng tôi đáp chuyến tầu hỏa Thalys’  đến Berlin, Germany.   Vì tôi có liên lạc trước với Mục sư Nguyễn Huệ Nhật, vì đã biết giờ đến của chuyến tầu hỏa nên ông bà đến đón chúng tôi nhà ga Berlin Haupthahnhof.   Những năm trước đây, từ Berlin, Mục sư Huệ Nhật cũng thường bay đến Houston và các anh em chúng tôi đã gặp nhau trong các buổi Hiệp nguyện của các mục sư vùng Houston.  Hai năm trước đây, Mục sư Huệ Nhật thành lập gia đình với cô Ngọc Kiều.   Vì công việc Nhà Chúa tại Đức quốc, Mục sư Huệ Nhật phải trở về Berlin để chăm sóc bầy chiên mới tại đấy, họ là những người Việt đã từng đi làm lao động tại các quốc gia Đông Âu, nay tụ tập về Bá-linh là một vùng đất tốt nhất đã hấp dẫn họ rời các quốc gia nghèo nàn thuộc khối Cộng sản để nhập cư, có những người sống bất hợp pháp...   Qua phương tiện tầu điện, tôi được Mục sư Huệ Nhật đưa về chung cư nơi ông đã từng sống rất nhiều năm, ít ra cũng 15 năm rồi!   Tôi nhìn thấy những high rise bldg do Nga-sô xây  hai bên đường thuộc vùng Đông Đức cũ, nay có  những bldg với bộ mặt mới bên ngoài khá đẹp, người dân thuê với giá cũng thấp.  Trước cửa vào nhà  có con đường nhỏ và những hàng ô-tô nhỏ đậu san sát liên tục.  Tầng trệt của bldg.  người Đức mở các hiệu buôn để  bán cà-phê,  sách báo, vé tầu hỏa, tiệm ăn Pizza, bia nước ngọt, nhà hàng nhỏ, phía trên là các chung cư của người dân cư ngụ. Trước khi sang Berlin, Mục sư Huệ Nhật và tôi  đã sắp xếp một lịch trình cho chuyến viếng thăm Wittenberg. Sáng thứ Tư ngày 18 tháng 9, bốn  chúng tôi đi tầu điện từ chung cư nơi  Mục sư Huệ Nhật ở để đến nhà ga chính của Berlin và mua vé tầu hỏa đi Witternberg.  Đường đi khoảng 100 km, tầu hỏa có  dừng lại một số trạm để thả hành khách xuống và đón các hành khách khác lên tầu.  Bên trong tầu hỏa có các hàng ghế ngồi rộng rãi. Tôi nhìn ra bên ngoài, tầu hỏa đi qua các thành phố nhỏ, có các nông trại với những căn nhà nhỏ cũ kỹ.   Tưởng cũng nên nói thêm, Thế chiến II chấm dứt  sau khi Hitler thất trận...   quân đội Nga-sô đã nhanh chân tiến chiếm vùng Đông Đức.  Các địa danh nổi tiếng trong thế kỷ XVI như Erfurt, Warburg, Lipnizt , Wittenberg trong Phong trào Cải Chánh (Protestant Movement) đã bị quân Nga sô thôn tính.  Vì thế, chẳng có gì lấy làm lạ đấy là tại vùng này không có những toà nhà lộng lẫy vĩ đại. Khi đến Wittenberg, chúng tôi từ tầu hỏa  bước xuống thì bên ngoài có mưa phùn làm cho lạnh một tí.   Dù có mưa nhẹ rơi rơi, chúng tôi vẫn thả bộ bước đi trong một  khí hậu mát trong lành.  Tôi nhìn thấy một con đường thẳng rộng, hai bên có các dãy nhà với lối kiến trúc khá đẹp mắt, đó là những nhà hàng, quán cà phê, các gian hàng bán quà kỷ niệm.  Bên trái của đường đi, chúng tôi vào một museum để nhìn thấy các hình ảnh, những tác phẩm  do Tiến sĩ Luther trước tác, đặc biệt, tôi nhìn thấy quyển Thánh Kinh Đức ngữ dày cộm, khổ to.  Đấy là một công trình dịch thuật của Luther làm căn bản cho  Đức ngữ  để khởi đầu cho một Phong trào Phục hưng Văn nghệ  (Renaissance Movement) về sau tại Âu Châu.  Tại đây, họ cũng trưng bày máy in đầu tiên do Johannes Gutenberg  phát minh năm 1450 , người ta thiết lập văn phòng làm việc của Luther tại lâu đài Wartburg, nơi ông dịch Thánh Kinh hoặc soạn bài giảng, viết sách,  Luther’s Large Catechism. Luther’s Small Catechism, On the Freedom of Christian.   Thành thật mà nói sự nghiệp sáng tác của ông thật đáng kính nể với những khối sách đồ sộ. Rời museum này, chúng tôi đi vào đại chủng viện nơi mà hơn 500 năm trước Martin Luther đã học tại đây, trình luận án tiến sĩ Thần học và ông cũng đã được mời làm giáo sư thực thụ tại đại chủng viện này. Từ đó, chúng tôi tiếp tục đi tới, hai bên đường là các gian hàng.  Đặc biệt, phía bên trái, tôi nhìn thấy một cửa hàng bán đủ loại chocolats, có các hộp đẹp với hình ảnh của Tiến sĩ Luther bên ngoài.   Đối diện với cửa hàng này, tôi thấy có tiệm ăn Thăng Long Bistro do người Việt làm chủ.  Có những du khách bước vào gọi các thức ăn, chúng tôi cùng buớc vào trong gọi cà-phê để nhấm nháp cho ấm áp. Rời Thăng Long Bistro, chúng tôi rảo bước về phía trước thì  thấy đại Giáo đường Wittenberg với vòm tháp tròn và tháp  chuông cao vút.   Tôi tiến đến gần cửa vào đại giáo đường thì thấy hai cánh cửa với những hàng chữ bằng đồng khắc 95 luận đề do Tiến sĩ Martin Luther đóng bên ngoài cửa ngày.  Bên ngoài , tôi thấy một banner khổ to  viết đại ý rằng 4 năm sắp đến (n ăm 2003) là đại lễ kỷ niệm 500 năm của giáo hội Lutheran.   Tôi thấy, người ta đã lợp lại những ngói mới, và tháp chuông cũng đang được trùng tu.   Vì còn là trong thời gian tái thiết, những hàng cột kim loại bao quanh chắn lại trước cửa vào của đại giáo đường.   Vì thế, tôi không thể đến gần sát cửa được, và dĩ nhiên, tôi cũng không thể vào được phía trong của đại giáo đường... Sáng hôm nay thời tiết tại Wittenberg mát lạnh, không có ánh nắng mặt trời.   Chúng tôi từ giã Wittenberg để lên tầu hỏa trở về Berlin, lòng bồi hồi tưởng nhớ đến vị anh hùng đức tin Martin Luther đã anh dũng đối diện trước một quyền lực của giáo hội La mã Công giáo.  Ông đã dũng mãnh giảng dạy lời chân lý “Người công nghĩa sống bởi đức tin” (La-mã 1: 17) phản đối sự làm tiền của hàng tăng lữ bán bùa xá tội, chống lại giáo lý sai lạc ngục luyện tội.  Tiến sĩ Martin Luther đã can đảm đóng 95 luận đề tại cửa đại Giáo đường Wittenberg vào ngày  31-10-1517 đánh dấu mốc cho công cuộc Cải chánh Giáo hội nhằm mục đích mang giáo hội La mã Công giáo trở về với nền tảng đức tin đặt niềm tin trên quyển Thánh Kinh với ba khẩu hiệu: Chỉ một Ân Phúc, Chỉ một Thánh Kinh, Chỉ một Đức Tin. Vào thời điểm ấy có vô số giáo dân La mã Công giáo đã từ bỏ giáo hội đi trong sự suy đồi tâm linh  để theo Tiến sĩ Luther.  Do đó, có từ ngữ  “Lutheran” đã xuất hiện trong thời điểm này.  Tuy nhiên, trong những buổi giảng dạy, Tiến sĩ Martin Luther  đã tuyên bố rằng quí vị đừng theo tôi nhưng chúng ta hãy quay về với Tin Lành (Evangelical).   Thế cho nên, danh hiệu Tin Lành tái xuất hiện sau hai nghìn năm, khi Hội thánh đầu tiên đã được Chúa Thánh Linh thành lập (Công. 2)  nhưng 300 năm sau, danh hiệu Tin Lành đã bị xóa đi để được thay thế vào danh hiệu “Catholic” khi đại đế Constantin ra lệnh hợp thức hóa Catholic là một tôn giáo hợp pháp trong đế quốc La mã Sau khi bức tường Bá linh sụp đổ và Đức quốc được thống nhất vào năm 1990 thì có khoảng 30.2 triệu tín hữu Lutherans, La mã Công giáo thì có khoảng 26.7 triệu.   Từ đó, có rất nhiều mục vụ truyền giáo từ các nơi trên thế giới đã đến vùng Đông Đức để phục vụ tại các bệnh viện, nhà dưỡng lão, trường học. Mục sư Nguyễn Hữu Ninh (Trích trong Hồi Ký “Một Chuyến Đi Wittenberg”) Đại học Wittenberg năm 1646  

  • 0 Martin Luther - Người Thay Đổi Thời Đại

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Thời Niên Thiếu  Martin Luther sinh ngày 10 tháng 11 năm 1483 tại Eisleben, Đế quốc La Mã Thần thánh (nay thuộc lãnh thổ nước Đức), con của Hans và Margaretha Luther. Cậu bé được báp-têm (baptized) vào ngày lễ thánh Martin nên được đặt tên theo vị thánh này. Thân phụ của Martin sở hữu một mỏ đồng gần Mansfeld. Xuất thân từ giới nông dân, Hans quyết tâm muốn con trai của mình thành một công chức và gởi chàng Martin trẻ tuổi đến học tại các trường ở Mansfeld, Magdeburg và Eisenach. Năm 1501, vào tuổi 17, Martin Luther đến học tại Đại học Erfurt, tốt nghiệp cử nhân năm 1502, và sau đó là  cao học (M.A.)  năm 1505. Chìu theo ước muốn của cha, Martin theo học luật cũng tại Đại học Erfurt. Song vì Luther khao khát tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống, Luther bị thu hút bởi thần học và triết học, đặc biệt thích Aristotle. Cậu cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm từ hai nhà phụ giáo, Bartholomäus Arnoldi von Usingen và Jodocus Trufetter, từ hai vị thầy này,  Luther học biết cách tra hỏi mọi điều, ngay cả những nhà tư tưởng vĩ đại nhất, và kiểm soát mọi sự qua kinh nghiệm của chính mình. Nhưng mọi sự đã thay đổi khi Martin Luther bị mắc kẹt trong một cơn giông bão với sấm sét vào mùa hè năm 1505. Trong nỗi kinh hoàng ấy, Martin Luther đã cầu Thánh Anne giải cứu và hứa nguyện trở thành tu sĩ. Luther bỏ trường luật, bán hết sách vở, ngày 17 tháng 7 năm 1505, ông vào dòng tu kín Augustine tại Erfurt. Thân phụ, Hans Luther rất giận vì hành động này của con trai mình. Martin Luther cúc cung hiến mình cho cuộc sống khổ hạnh tại tu viện, tận tụy làm mọi việc lành để mong Thiên Chúa vui lòng, ông phục vụ người khác bằng cách cầu nguyện cho sự cứu rỗi linh hồn của họ. Luther thường xuyên kiêng ăn, tự hành xác, dành nhiều thì giờ để cầu nguyện cũng như đi hành hương và thường xuyên xưng tội. Nhưng dù cho Luther nỗ lực càng nhiều thì ông càng cảm thấy mình tội lỗi nhiều hơn. Sau chuyến hành hương đến Rôma năm 1511, khi trở về Đức quốc,  Luther càng chìm sâu trong tuyệt vọng. Ông cảm nhận sâu sắc về tội lỗi và tình trạng bất xứng của mình, nhưng cùng lúc ông thấy mù mịt vì không tìm ra lối thoát. Lòng sùng tín theo kiểu cách thời Trung Cổ trở thành nỗi niềm cay đắng cho Luther, ông bỏ lễ Misa và ngưng đọc kinh. Ông giận Thiên Chúa và oán hận Ngài. Luther mô tả giai đoạn này là tràn đầy sự thất vọng tâm linh. Ông nói, "Tôi không chịu đến với Chúa Ki-tô như là Cứu Chúa và Đấng An ủi, nhưng tôi đã xem Ngài như là cai tù và đao phủ của linh hồn tôi. Linh mục bề trên của Martin Luther, Johann von Staupitz, tin rằng chàng tu sĩ trẻ tuổi cần được giải thoát khỏi trạng thái trầm tư u uất, ông ra lệnh cho Martin chú tâm vào sự nghiên cứu học thuật. Năm 1507, ông được thụ phong linh mục. Năm 1508, ông bắt đầu dạy thần học tại Đại học Wittenberg. Ông tốt nghiệp cử nhân về nghiên cứu Kinh Thánh năm 1508 và cử nhân tu từ học (môn học bắt buộc cho ngành thần học vào thời Trung Cổ) vào năm 1509. Đại học Wittenberg cấp bằng tiến sĩ thần học cho ông năm 1512. Khám phá Ân Sủng của Thiên Chúa Những yêu cầu trong thời gian học tập cũng như khi chuẩn bị giáo trình giảng dạy sau này đã dẫn Martin Luther vào việc nghiên cứu Kinh Thánh. Chịu ảnh hưởng học thuyết nhân văn (humanism) phải đi đến tận gốc rễ của vấn đề đang nghiên cứu, ông đắm mình trong lời dạy của Kinh Thánh và các giáo phụ. Martin Luther kể lại rằng bước đột phá đạc biệt đến với ông vào năm 1513, lúc đang giảng dạy sách Thi thiên (Thánh vịnh). Khi đang chuẩn bị bài giảng cho học kỳ sắp tới, ông gặp trong Thi thiên 31: 1, “Xin hãy lấy sự công chính Ngài mà giải cứu tôi”. Đây là một câu Kinh Văn quen thuộc nhưng vào thời điểm ấy nó đến với Luther như một vết dao cắt. Ông cảm thấy sự công chính của Thiên Chúa thật đáng kinh khiếp: luôn nhắc nhở ông về tội lỗi của mình, khiến ông nghĩ về Chúa như một Đấng nghiêm khắc, ra tay đoán phạt con người dựa trên tiêu chuẩn công chính mà con người không bao giờ với tới. Luther quay sang những luận giải của Phao-lô chép trong thư tín La Mã 3: 23-24 để thấy mình bị cuốn hút vào tình trạng căng thẳng và tuyệt vọng. Đức tin đặt vào Chúa Ki-tô càng nâng cao những chuẩn mực đạo đức của Thiên Chúa, theo cách hiểu của Luther vào lúc ấy, là Đấng sẵn sàng ra tay trừng phạt con người đang đắm chìm trong tội lỗi. Trong nhiều ngày, Luther cố gắng tìm kiếm những câu chữ của Phao-lô hầu có thể tìm thấy ý nghĩa chính xác của Kinh Văn, cho đến khi ánh sáng soi rọi tâm trí ông để nhận ra rằng sự công chính của Thiên Chúa không phải là động lực thúc đẩy Ngài trừng phạt tội nhân, nhưng đấy là sự công chính dẫn đến sự tha thứ tội lỗi, bởi đó chúng ta được xưng công chính trước mặt Thiên Chúa do ơn thương xót của Ngài thể hiện qua sự cứu chuộc trong Chúa Giê-xu Ki-tô. Chỉ bởi đức tin mà chúng ta được xưng công chính. Sự xưng công chính ấy là sự ban cho từ Thiên Chúa, không phải bởi công đức của chúng ta. Ông nhận ra rằng mệnh đề "sự công chính của Thiên Chúa" trong La Mã 1: 17 không có nghĩa là sự công chính chủ động, theo đó con người được xưng công chính bởi Thiên Chúa dựa trên công đức của chính họ, nhưng là sự công chính thụ động, theo đó con người nhận lãnh sự công chính từ Thiên Chúa qua công đức trọn vẹn, sự sống, sự chết và sự phục sinh của Chúa Giê-xu. Chỉ bởi sự công chính này mà con người mới được Thiên Chúa chấp nhận. Những thuật ngữ như sám hối và công chính chỉ nên được hiểu theo nghĩa ấy. Càng nghiên cứu Kinh Thánh, Martin Luther càng tin rằng giáo hội đã đánh mất khả năng nhận biết những chân lý  cốt lõi này. Và đối với Luther, quan trọng hơn hết thảy là tín lý được xưng công chính chỉ bởi đức tin. Ông viết, “Vầng đá nền vững chãi này mà chúng ta gọi là giáo lý xưng công chính, là trọng tâm của toàn bộ nền thần học Cơ Đốc mà mỗi người yêu kính Thiên Chúa cần phải thấu suốt.” Luther hiểu rằng sự xưng công chính hoàn toàn là công việc của Thiên Chúa. Trái với giáo huấn thời đó dạy rằng hành vi công chính của  tín hữu là những hành động cùng thực thi với sự hợp tác của Thiên Chúa, Luther viết rằng tín hữu nhận lãnh sự công chính như một sự ban cho, không phải tự mình cố công ra sức; sự công chính không chỉ đến từ Chúa Ki-tô, nhưng đó chính là sự công chính của Ngài, và Ngài dành cho chúng ta khi chúng ta lấy đức tin để nhận lãnh.[25] “Đó là lý do tại sao chỉ có đức tin mới có thể khiến chúng ta trở nên công chính và làm trọn luật pháp”, Luther viết. “Đức tin khiến chúng ta nhận lãnh Chúa Thánh Linh qua công đức của Chúa Cơ Đốc.” Đức tin, theo Luther, là món quà đến từ Thiên Chúa. Ông luận giải về sự xưng công chính: "Trước tiên và quan trọng hơn hết: Chúa Giê-xu, Thiên Chúa và Chúa của chúng ta, đã chết vì tội lỗi chúng ta, đã sống lại để chúng ta được xưng công chính (La Mã 3: 24, 25. Chỉ mình Ngài là Chiên con của Thiên Chúa, là Đấng cất bỏ tội lỗi của thế gian (Phúc âm John 1:29), và Thiên Chúa đặt trên Ngài mọi sự vi phạm của chúng ta (Isaiah 53:6). Chúng ta đều đã phạm tội, và được xưng công chính, không phải bởi công đức và việc làm của mình, bèn là bởi ân điển của Chúa, qua sự cứu chuộc trong Chúa Giê-xu, trong huyết Ngài (La Mã 3: 23-25). Đây là điều cần thiết cho đức tin. Không thể đạt được điều này qua việc làm hay công đức. Như vậy, thật rõ ràng và chắc chắn rằng chúng ta được xưng công chính chỉ bởi đức tin…. Chúng ta không được xem nhẹ hay chối bỏ những tín lý này, ngay cả khi trời, đất và mọi sự đều qua đi.” Với niềm vui tìm ra chân lý, Martin Luther khởi sự giảng dạy lẽ thật   rằng cứu rỗi là sự ban cho bởi ân điển của Thiên Chúa, được nhận lãnh bởi đức tin và lòng tin cậy vào lời hứa của Thiên Chúa tha thứ tội lỗi, dựa trên sự chết của Chúa Giê-xu trên thập tự giá. Với niềm vui tìm ra chân lý, Martin Luther khởi sự giảng dạy giáo lý  cứu rỗi là sự ban cho bởi ân phúc của Thiên Chúa, được nhận lãnh bởi đức tin và lòng tin cậy vào lời hứa của Thiên Chúa tha thứ tội lỗi, dựa trên sự chết của Chúa Giê-xu Ki-tô trên thập tự giá. Tranh luận về Phép Giải Tội Lần đầu tiên Martin Luther công khai thách thức quyền lực của giáo hoàng là vào năm 1517, về việc bán bùa xá  tội (indulgence). Câu hỏi được đặt ra là liệu giáo hoàng (hoặc bất kỳ ai khác ngoài Chúa Ki-tô) có quyền lực hoặc thẩm quyền xử dụng công đức của Chúa Giê-xu và các thánh để cứu những người đang bị giam trong ngục luyện tội (purgatory) hay không? Luther không hài lòng việc bán bùa xá tội, ông tin rằng bùa xá tội chẳng có ích lợi gì cho việc cứu rỗi linh hồn ngoài mục đích làm đầy túi các chức sắc giáo hội. Ông cũng tin rằng việc mua bán bùa xá tội sẽ khuyến khích phạm tội vì khiến người ta tin rằng có thể dùng tiền mua được sự xá tội. Ông cũng hành hương đến La Mã vào năm 1510 nhưng chỉ để cảm thấy ghê tởm nơi chốn ấy, theo Luther, đầy dẫy sự tham lam và thối nát. Năm 1517, Tổng Giám mục Magdeburg và Halberstadt, Albert von Hohenzollern, muốn có thêm tước vị tổng giám mục Mainz (tước vị này mang lại nhiều lợi lộc và quyền lực của một vương hầu), nhưng theo luật giáo hội không ai có thể cai quản cùng lúc hai giáo phận. Tuy nhiên, vì cần tiền để xây dựng Đại Giáo đường Thánh Peter, Giáo hoàng Leo X cho phép Tổng Giá mục Albert nhận lãnh tước vị sau khi nộp tiền phạt vì vi phạm giáo luật.  Vì phải vay mượn để nộp phạt nên Albert được phép bán bùa xá tội để có tiền trả nợ. Một tu sĩ Dòng Dominican tên Johann Tetzel được sai đi khắp giáo phận của Albert bán bùa xá tội, và Tetzel đã rất thành công trong công việc được giao phó. Frederick Hiền nhân, Vương hầu xứ Saxony, sở hữu một bộ sưu tập lớn các thánh tích. Bộ sưu tập này thu hút đông người đến chiêm ngưỡng vào ngày lễ Các thánh. Nhân dịp này Tetzel cũng đến Wittenberg để bán phép giải tội. Ngày 31 tháng 10 năm 1517, Luther viết thư cho Albrecht, Tổng Giám mục Mainz và Magdeburg, phản đối việc bán bùa xá tội, đính kèm một bản sao Tiểu luận “Tranh luận của Martin Luther về Quyền năng và Hiệu lực của Phép Giải tội’, được biết đến dưới tên 95 Luận đề. Hans Hillerbrand viết rằng Luther không có ý định đối đầu với giáo hội, nhưng xem cuộc tranh luận là một sự phản biện về học thuật đối với các tập tục của giáo hội, văn phong của ông thể hiện chủ tâm “tra cứu hơn là lập thuyết.” Luther bắt đầu thuyết giảng bác bỏ phép giải tội,  ông treo 95 "Luận đề" tại cửa nhà thờ của lâu đài Wittenberg (nơi treo các thông báo của viện đại học), theo thông lệ vào thời ấy, nhằm mở ra cuộc tranh luận về phép giải tội. Những luận đề của Luther tố cáo sự tham lam và tinh thần thế tục đang phổ biến trong giáo hội (thể hiện qua việc bán bùa xá tội), và yêu cầu mở ra tranh luận về thần học. Ngay tức khắc các luận đề này được dịch từ tiếng Latin sang tiếng Đức, được in ra  và phổ biến. Đây là cuộc tranh luận đầu tiên trong lịch sử có sự hỗ trợ của máy in. Chỉ trong vòng hai tuần lễ chúng đã được phổ biến rộng rãi trên toàn nước Đức, và chỉ trong hai tháng chúng được tìm thấy trên toàn lãnh thổ châu Âu. Trước cửa Giáo đường Wittenberg, nơi đây vị anh hùng đức tin Martin Luther đã đóng 95 Luận đề khởi đầu Phong trào Cải Chánh Giáo hội trong thế kỷ 16 tại Đức quốc. Phản Ứng Của Giáo Hoàng Sau khi tỏ ra xem thường "gã người Đức viết các luận đề khi say rượu, khi tỉnh ra anh ta sẽ đổi ý", Giáo hoàng Leo X vào năm 1518 chỉ thị Silvester Mazzolini, giáo sư thần học Dòng Dominican, xem xét vấn đề này. Nhận thấy Luther là một mối nguy hiểm, Mazzolini công bố Martin Luther là kẻ dị giáo và viết một bài phản bác các luận đề nhằm khẳng định thẩm quyền của giáo hoàng trên giáo hội Công giáo và khuyến cáo bất cứ sự chệch hướng nào cũng bị coi là dị giáo. Khi đang tham dự một hội nghị của Dòng Augustine tại Heidelberg, Martin Luther nhận được lệnh triệu tập đến La Mã. Trong khi vẫn tỏ ý trung thành với giáo hội, ông bắt đầu bác bỏ quyền lực tuyệt đối của giáo hoàng. Vì muốn giữ sự hòa hảo với Vương hầu Frederick, người có khả năng được bầu chọn làm hoàng đế cho Đế quốc La Mã Thần thánh và đang tỏ ra muốn bảo vệ Martin Luther, Giáo hoàng chọn giải pháp ôn hòa nhằm thuyết phục Martin Luther ngưng đả kích giáo hội, hãy viết thư tỏ ý thuận phục giáo hoàng và soạn một luận văn nhằm tôn vinh Giáo hội La Mã. Bức thư được viết nhưng không được gởi đi vì Martin Luther vẫn giữ nguyên chính kiến, sau này ông cũng viết một luận văn nhưng nhằm mục đích bác bỏ mọi linh nghiệm của phép giải tội. Cùng với một người bạn, Carlstadt, Martin Luther tham dự cuộc tranh luận với John Eck tại Leizpig từ 27 tháng 6 – đến 18 tháng 7 năm 1519. Tại đây, ông đã bác bỏ quyền lực tối thượng của ngai giáo hoàng, cho rằng "quyền cầm giữ chìa khoá nước Trời" là được ban cho toàn thể Hội thánh (nghĩa là cho tất cả tín hữu), ông cũng khẳng định rằng Giáo hội La Mã không giữ vai trò ưu việt nào trong sự cứu rỗi. Trong khi đó, các tác phẩm của Martin Luther ngày càng được phổ biến rộng rãi hơn, lan truyền đến Pháp, Anh, và Ý vào đầu năm 1519. Nhiều sinh viên tìm đến Wittenberg để nghe các bài thuyết giảng của Martin Luther và Philipp Melancthon. Năm 1518, Melancthon tìm đến để cộng tác với Luther. Trong thư gửi giới quí tộc Đức, ấn hành vào tháng Tám năm 1520, Luther tin rằng cuộc cải cách đến từ ý muốn của Thiên Chúa nhưng đã bị khước từ bởi giáo hoàng và giới tăng lữ, ông cũng kêu gọi cải cách nhiều lãnh vực từ trong giáo hội ra ngoài xã hội. Trong tác phẩm “Đường dẫn đến sự Lưu đày tại Babylon của Giáo hội”,  ông luận bàn về các thánh lễ, bác bỏ chủ nghĩa hình thức trong cử hành các thánh lễ và, theo ông, chỉ có Tiệc Thánh và Báp têm nên được kể là thánh lễ. Ngày 15 tháng 6 năm 1520, Giáo hoàng Leo X cảnh cáo Luther (chiếu chỉ Exsurge Domine) có thể bị dứt phép thông công nếu trong vòng 60 ngày không chịu rút lại 41 câu, trong đó có 95 luận đề. Sau khi thẳng thừng khước từ vâng phục mệnh lệnh của giáo hoàng, ngày 3 tháng 1 năm 1521, Martin Luther bị khai trừ khỏi giáo hội. Nghị Viện Worms Hoàng đế La Mã Thần thánh là Karl V khai mạc Nghị viện của Đế chế tại Worms ngày 22 tháng 1 năm 1521. Martin Luther được triệu tập để xác định lập trường của mình trước hoàng đế và nghị viện. Ông được hoàng đế cam kết bảo vệ an toàn trong thời gian này. Tại đây, John Eck, trong tư cách là phát ngôn nhân của hoàng đế, đối diện Luther với câu hỏi: "Ông có đồng ý bác bỏ các cuốn sách của ông cùng những điều lầm lạc được chép ở trong?" Câu trả lời của Luther: "Trừ khi được thuyết phục bởi Thánh Kinh – tôi không công nhận thẩm quyền của các giáo hoàng và các công đồng vì họ tự mâu thuẫn với nhau – lương tâm của tôi chỉ thuận phục Lời của Thiên Chúa, bởi vì chống lại lương tâm thì không đúng và cũng không an toàn". Trong năm ngày kế tiếp, các phiên họp kín được triệu tập để quyết định số phận của Luther. Ngày 25 tháng 5 năm 1521, Hoàng đế trình bày bản thảo Chiếu chỉ Worms tuyên bố Luther bị đặt ngoài vòng pháp luật, cấm các tác phẩm của ông, và yêu cầu bắt giữ ông, “Ta muốn bắt giữ và trừng phạt hắn như là một tên dị giáo xấu xa.” Chiếu chỉ kể là tội phạm bất cứ ai chứa chấp hoặc cấp dưỡng cho Luther, và cho phép mọi người giết Luther mà không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ẩn náu tại lâu đài Wartburg Câu chuyện Martin Luther mất tích trên đường về là một phần trong kế hoạch của Vương hầu Frederick nhằm bảo vệ ông. Một nhóm gồm năm kỵ sĩ bịt mặt chận bắt Martin Luther khi ông vừa rời khỏi Nghị viện Worms và đưa ông về lâu đài Wartburg. Tại đây ông phải mặc trang phục hiệp sĩ, để râu dài và được gọi với tên Junker Jorg (Hiệp sĩ George). Trong thời gian sống ẩn dật, Luther vẫn chuyên cần liên tục  làm việc. Tại đây,  ông bắt đầu dịch Thánh Kinh sang tiếng Đức. Bản Tân Ước nổi tiếng được ấn hành năm 1522. Trong khi đó, các thành phần cực đoan bắt đầu gây dựng thanh thế bên trong phong trào cải cách, và đặt phong trào còn non trẻ này vào nguy cơ bị dẫn đi lệch hướng khỏi tôn chỉ ban đầu, đặc biệt là khi những người Anabaptist đến từ Zwickau gia nhập nhóm này để đẩy nhanh tình trạng hỗn loạn vốn đã bộc phát từ khi Luther vắng mặt. Bất đồng với quan điểm cực đoan của nhóm này và rất lo lắng  về những hậu họa do họ gây ra, ngày 6 tháng 3 năm 1522, Luther bí mật trở về Wittenberg. “Trong khi tôi vắng mặt,” ông viết cho Vương hầu Frederick, “Satan đã đột nhập vào bầy chiên, gây biết bao tàn hại mà tôi không thể nào cứu chữa được nếu chỉ bằng thư tín, tình thế đòi hỏi phải có sự hiện diện và tiếng nói của tôi.” Trở Lại Wittenberg Trong vòng tám ngày trong Tuần thánh, khởi đi từ Chúa nhật ngày 9 tháng 3 và kết thúc vào Chúa nhật sau, Luther đã giảng tám lần. Trong tám bài giảng này, ông dẫn dắt thính giả vào tâm điểm của những giá trị căn bản của Cơ Đốc giáo như tình yêu thương, đức nhẫn nại, bác ái, và sự tự do, cũng như nhắc nhở họ cần phải tin cậy Lời Thiên Chúa thay vì dùng bạo lực để tiến hành những cải cách cần thiết. Ông nói, “Các bạn có biết ma quỉ nghĩ gì khi nhìn thấy chúng ta xử dụng bạo lực để truyền bá phúc âm? Đằng sau những đám lửa hỏa ngục, ma quỉ ngồi khoanh tay, đôi mắt hiểm độc và nụ cười ghê rợn, rít lên rằng, “À, những tên điên khùng này đang làm đúng ý ta! Cứ để chúng tiếp tục, rồi ta sẽ hưởng lợi. Thật vui thích biết bao.” Nhưng khi ma quỉ nhìn thấy Lời Thiên Chúa được rao giảng và hiển lộ quyền năng, ma quỉ sẽ co rúm lại và run rẩy vì khiếp sợ.” Kinh Thánh Tiếng Đức Việc Martin Luther dịch Tân Ước ra tiếng Đức giúp người dân thường dễ gần gũi với Kinh Thánh, đồng thời làm suy giảm ảnh hưởng của giới tăng lữ. Ông đã dùng Thánh Kinh Hi Lạp văn  của Erasmus để dịch. Trong thời gian dịch Thánh Kinh, ông thường đến các thị trấn lận cận, và vào các ngôi chợ để lắng nghe người dân nói chuyện với nhau hầu có thể đưa ngôn ngữ đại chúng vào bản dịch của ông. Tận dụng thời gian nhàn rỗi khi đang ẩn náu tại Lâu đài Wartburg, năm 1521 Luther một mình khởi sự dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức. Theo Philip Schaff, nhà thần học thế kỷ 19, chỉ riêng công trình này cũng đủ để Luther được công nhận là một trong số những người đóng góp nhiều nhất cho các dân tộc nói tiếng Đức. Bản dịch Tân Ước của Luther xuất bản vào tháng 9 năm 1522. Đến năm 1534, ông hoàn tất bản dịch Cựu Ước với sự cộng tác của Johannes Bugenhagen, Justus Jonas, Caspar Creuziger, Philipp Melanchthon, Matthäus Aurogallus, và George Rörer. Luther vẫn tiếp tục hiệu đính bản dịch cho đến cuối đời. Bản dịch Kinh Thánh của Luther đã đóng góp vào sự thành hình  ngôn ngữ Đức đương đại, được xem là dấu mốc trong nền văn chương Đức. Bản Kinh Thánh năm 1534 của Luther tạo ảnh hưởng trên bản dịch của William Tyndale, là ấn bản tiền thân cho bản Kinh Thánh King James. Philip Schaff nhận xét về bản dịch này: “Kết quả lớn nhất của Luther trong thời gian ẩn náu tại Wartburg, cũng là thành tựu quan trọng nhất và hữu ích trong suốt cuộc đời ông, là bản dịch Tân Ước, qua đó ông đã mang sự giáo huấn và cuộc đời mẫu mực của Chúa Cơ Đốc và các Sứ đồ vào lòng và tâm trí của người dân Đức, như là một sự tái tạo giống y như thật. Kết quả này có thể được xem như là sự tái ấn hành phúc âm. Ông đã làm Kinh Thánh trở nên quyển sách của nhân dân, có mặt khắp mọi nơi, trong nhà thờ, trường học và gia đình.” Với bản dịch Cựu Ước ấn hành năm 1534, Martin Luther hoàn tất công trình dịch thuật toàn bộ Kinh Thánh. Công trình này giúp chuẩn hóa ngôn ngữ Đức và được xem là dấu mốc quan trọng trong lịch sử văn học Đức.        http:codocnhan.org  Ngy.Uyên Hiệu Đính

  • 0 Martin Luther - Người Thay Đổi Thời Đại

    • by Administrator
    • 17-01-2018

    Thời Niên Thiếu  Martin Luther sinh ngày 10 tháng 11 năm 1483 tại Eisleben, Đế quốc La Mã Thần thánh (nay thuộc lãnh thổ nước Đức), con của Hans và Margaretha Luther. Cậu bé được báp-têm (baptized) vào ngày lễ thánh Martin nên được đặt tên theo vị thánh này. Thân phụ của Martin sở hữu một mỏ đồng gần Mansfeld. Xuất thân từ giới nông dân, Hans quyết tâm muốn con trai của mình thành một công chức và gởi chàng Martin trẻ tuổi đến học tại các trường ở Mansfeld, Magdeburg và Eisenach. Năm 1501, vào tuổi 17, Martin Luther đến học tại Đại học Erfurt, tốt nghiệp cử nhân năm 1502, và sau đó là  cao học (M.A.)  năm 1505. Chìu theo ước muốn của cha, Martin theo học luật cũng tại Đại học Erfurt. Song vì Luther khao khát tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống, Luther bị thu hút bởi thần học và triết học, đặc biệt thích Aristotle. Cậu cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm từ hai nhà phụ giáo, Bartholomäus Arnoldi von Usingen và Jodocus Trufetter, từ hai vị thầy này,  Luther học biết cách tra hỏi mọi điều, ngay cả những nhà tư tưởng vĩ đại nhất, và kiểm soát mọi sự qua kinh nghiệm của chính mình. Nhưng mọi sự đã thay đổi khi Martin Luther bị mắc kẹt trong một cơn giông bão với sấm sét vào mùa hè năm 1505. Trong nỗi kinh hoàng ấy, Martin Luther đã cầu Thánh Anne giải cứu và hứa nguyện trở thành tu sĩ. Luther bỏ trường luật, bán hết sách vở, ngày 17 tháng 7 năm 1505, ông vào dòng tu kín Augustine tại Erfurt. Thân phụ, Hans Luther rất giận vì hành động này của con trai mình. Martin Luther cúc cung hiến mình cho cuộc sống khổ hạnh tại tu viện, tận tụy làm mọi việc lành để mong Thiên Chúa vui lòng, ông phục vụ người khác bằng cách cầu nguyện cho sự cứu rỗi linh hồn của họ. Luther thường xuyên kiêng ăn, tự hành xác, dành nhiều thì giờ để cầu nguyện cũng như đi hành hương và thường xuyên xưng tội. Nhưng dù cho Luther nỗ lực càng nhiều thì ông càng cảm thấy mình tội lỗi nhiều hơn. Sau chuyến hành hương đến Rôma năm 1511, khi trở về Đức quốc,  Luther càng chìm sâu trong tuyệt vọng. Ông cảm nhận sâu sắc về tội lỗi và tình trạng bất xứng của mình, nhưng cùng lúc ông thấy mù mịt vì không tìm ra lối thoát. Lòng sùng tín theo kiểu cách thời Trung Cổ trở thành nỗi niềm cay đắng cho Luther, ông bỏ lễ Misa và ngưng đọc kinh. Ông giận Thiên Chúa và oán hận Ngài. Luther mô tả giai đoạn này là tràn đầy sự thất vọng tâm linh. Ông nói, "Tôi không chịu đến với Chúa Ki-tô như là Cứu Chúa và Đấng An ủi, nhưng tôi đã xem Ngài như là cai tù và đao phủ của linh hồn tôi. Linh mục bề trên của Martin Luther, Johann von Staupitz, tin rằng chàng tu sĩ trẻ tuổi cần được giải thoát khỏi trạng thái trầm tư u uất, ông ra lệnh cho Martin chú tâm vào sự nghiên cứu học thuật. Năm 1507, ông được thụ phong linh mục. Năm 1508, ông bắt đầu dạy thần học tại Đại học Wittenberg. Ông tốt nghiệp cử nhân về nghiên cứu Kinh Thánh năm 1508 và cử nhân tu từ học (môn học bắt buộc cho ngành thần học vào thời Trung Cổ) vào năm 1509. Đại học Wittenberg cấp bằng tiến sĩ thần học cho ông năm 1512. Khám phá Ân Sủng của Thiên Chúa Những yêu cầu trong thời gian học tập cũng như khi chuẩn bị giáo trình giảng dạy sau này đã dẫn Martin Luther vào việc nghiên cứu Kinh Thánh. Chịu ảnh hưởng học thuyết nhân văn (humanism) phải đi đến tận gốc rễ của vấn đề đang nghiên cứu, ông đắm mình trong lời dạy của Kinh Thánh và các giáo phụ. Martin Luther kể lại rằng bước đột phá đạc biệt đến với ông vào năm 1513, lúc đang giảng dạy sách Thi thiên (Thánh vịnh). Khi đang chuẩn bị bài giảng cho học kỳ sắp tới, ông gặp trong Thi thiên 31: 1, “Xin hãy lấy sự công chính Ngài mà giải cứu tôi”. Đây là một câu Kinh Văn quen thuộc nhưng vào thời điểm ấy nó đến với Luther như một vết dao cắt. Ông cảm thấy sự công chính của Thiên Chúa thật đáng kinh khiếp: luôn nhắc nhở ông về tội lỗi của mình, khiến ông nghĩ về Chúa như một Đấng nghiêm khắc, ra tay đoán phạt con người dựa trên tiêu chuẩn công chính mà con người không bao giờ với tới. Luther quay sang những luận giải của Phao-lô chép trong thư tín La Mã 3: 23-24 để thấy mình bị cuốn hút vào tình trạng căng thẳng và tuyệt vọng. Đức tin đặt vào Chúa Ki-tô càng nâng cao những chuẩn mực đạo đức của Thiên Chúa, theo cách hiểu của Luther vào lúc ấy, là Đấng sẵn sàng ra tay trừng phạt con người đang đắm chìm trong tội lỗi. Trong nhiều ngày, Luther cố gắng tìm kiếm những câu chữ của Phao-lô hầu có thể tìm thấy ý nghĩa chính xác của Kinh Văn, cho đến khi ánh sáng soi rọi tâm trí ông để nhận ra rằng sự công chính của Thiên Chúa không phải là động lực thúc đẩy Ngài trừng phạt tội nhân, nhưng đấy là sự công chính dẫn đến sự tha thứ tội lỗi, bởi đó chúng ta được xưng công chính trước mặt Thiên Chúa do ơn thương xót của Ngài thể hiện qua sự cứu chuộc trong Chúa Giê-xu Ki-tô. Chỉ bởi đức tin mà chúng ta được xưng công chính. Sự xưng công chính ấy là sự ban cho từ Thiên Chúa, không phải bởi công đức của chúng ta. Ông nhận ra rằng mệnh đề "sự công chính của Thiên Chúa" trong La Mã 1: 17 không có nghĩa là sự công chính chủ động, theo đó con người được xưng công chính bởi Thiên Chúa dựa trên công đức của chính họ, nhưng là sự công chính thụ động, theo đó con người nhận lãnh sự công chính từ Thiên Chúa qua công đức trọn vẹn, sự sống, sự chết và sự phục sinh của Chúa Giê-xu. Chỉ bởi sự công chính này mà con người mới được Thiên Chúa chấp nhận. Những thuật ngữ như sám hối và công chính chỉ nên được hiểu theo nghĩa ấy. Càng nghiên cứu Kinh Thánh, Martin Luther càng tin rằng giáo hội đã đánh mất khả năng nhận biết những chân lý  cốt lõi này. Và đối với Luther, quan trọng hơn hết thảy là tín lý được xưng công chính chỉ bởi đức tin. Ông viết, “Vầng đá nền vững chãi này mà chúng ta gọi là giáo lý xưng công chính, là trọng tâm của toàn bộ nền thần học Cơ Đốc mà mỗi người yêu kính Thiên Chúa cần phải thấu suốt.” Luther hiểu rằng sự xưng công chính hoàn toàn là công việc của Thiên Chúa. Trái với giáo huấn thời đó dạy rằng hành vi công chính của  tín hữu là những hành động cùng thực thi với sự hợp tác của Thiên Chúa, Luther viết rằng tín hữu nhận lãnh sự công chính như một sự ban cho, không phải tự mình cố công ra sức; sự công chính không chỉ đến từ Chúa Ki-tô, nhưng đó chính là sự công chính của Ngài, và Ngài dành cho chúng ta khi chúng ta lấy đức tin để nhận lãnh.[25] “Đó là lý do tại sao chỉ có đức tin mới có thể khiến chúng ta trở nên công chính và làm trọn luật pháp”, Luther viết. “Đức tin khiến chúng ta nhận lãnh Chúa Thánh Linh qua công đức của Chúa Cơ Đốc.” Đức tin, theo Luther, là món quà đến từ Thiên Chúa. Ông luận giải về sự xưng công chính: "Trước tiên và quan trọng hơn hết: Chúa Giê-xu, Thiên Chúa và Chúa của chúng ta, đã chết vì tội lỗi chúng ta, đã sống lại để chúng ta được xưng công chính (La Mã 3: 24, 25. Chỉ mình Ngài là Chiên con của Thiên Chúa, là Đấng cất bỏ tội lỗi của thế gian (Phúc âm John 1:29), và Thiên Chúa đặt trên Ngài mọi sự vi phạm của chúng ta (Isaiah 53:6). Chúng ta đều đã phạm tội, và được xưng công chính, không phải bởi công đức và việc làm của mình, bèn là bởi ân điển của Chúa, qua sự cứu chuộc trong Chúa Giê-xu, trong huyết Ngài (La Mã 3: 23-25). Đây là điều cần thiết cho đức tin. Không thể đạt được điều này qua việc làm hay công đức. Như vậy, thật rõ ràng và chắc chắn rằng chúng ta được xưng công chính chỉ bởi đức tin…. Chúng ta không được xem nhẹ hay chối bỏ những tín lý này, ngay cả khi trời, đất và mọi sự đều qua đi.” Với niềm vui tìm ra chân lý, Martin Luther khởi sự giảng dạy lẽ thật   rằng cứu rỗi là sự ban cho bởi ân điển của Thiên Chúa, được nhận lãnh bởi đức tin và lòng tin cậy vào lời hứa của Thiên Chúa tha thứ tội lỗi, dựa trên sự chết của Chúa Giê-xu trên thập tự giá. Với niềm vui tìm ra chân lý, Martin Luther khởi sự giảng dạy giáo lý  cứu rỗi là sự ban cho bởi ân phúc của Thiên Chúa, được nhận lãnh bởi đức tin và lòng tin cậy vào lời hứa của Thiên Chúa tha thứ tội lỗi, dựa trên sự chết của Chúa Giê-xu Ki-tô trên thập tự giá. Tranh luận về Phép Giải Tội Lần đầu tiên Martin Luther công khai thách thức quyền lực của giáo hoàng là vào năm 1517, về việc bán bùa xá  tội (indulgence). Câu hỏi được đặt ra là liệu giáo hoàng (hoặc bất kỳ ai khác ngoài Chúa Ki-tô) có quyền lực hoặc thẩm quyền xử dụng công đức của Chúa Giê-xu và các thánh để cứu những người đang bị giam trong ngục luyện tội (purgatory) hay không? Luther không hài lòng việc bán bùa xá tội, ông tin rằng bùa xá tội chẳng có ích lợi gì cho việc cứu rỗi linh hồn ngoài mục đích làm đầy túi các chức sắc giáo hội. Ông cũng tin rằng việc mua bán bùa xá tội sẽ khuyến khích phạm tội vì khiến người ta tin rằng có thể dùng tiền mua được sự xá tội. Ông cũng hành hương đến La Mã vào năm 1510 nhưng chỉ để cảm thấy ghê tởm nơi chốn ấy, theo Luther, đầy dẫy sự tham lam và thối nát. Năm 1517, Tổng Giám mục Magdeburg và Halberstadt, Albert von Hohenzollern, muốn có thêm tước vị tổng giám mục Mainz (tước vị này mang lại nhiều lợi lộc và quyền lực của một vương hầu), nhưng theo luật giáo hội không ai có thể cai quản cùng lúc hai giáo phận. Tuy nhiên, vì cần tiền để xây dựng Đại Giáo đường Thánh Peter, Giáo hoàng Leo X cho phép Tổng Giá mục Albert nhận lãnh tước vị sau khi nộp tiền phạt vì vi phạm giáo luật.  Vì phải vay mượn để nộp phạt nên Albert được phép bán bùa xá tội để có tiền trả nợ. Một tu sĩ Dòng Dominican tên Johann Tetzel được sai đi khắp giáo phận của Albert bán bùa xá tội, và Tetzel đã rất thành công trong công việc được giao phó. Frederick Hiền nhân, Vương hầu xứ Saxony, sở hữu một bộ sưu tập lớn các thánh tích. Bộ sưu tập này thu hút đông người đến chiêm ngưỡng vào ngày lễ Các thánh. Nhân dịp này Tetzel cũng đến Wittenberg để bán phép giải tội. Ngày 31 tháng 10 năm 1517, Luther viết thư cho Albrecht, Tổng Giám mục Mainz và Magdeburg, phản đối việc bán bùa xá tội, đính kèm một bản sao Tiểu luận “Tranh luận của Martin Luther về Quyền năng và Hiệu lực của Phép Giải tội’, được biết đến dưới tên 95 Luận đề. Hans Hillerbrand viết rằng Luther không có ý định đối đầu với giáo hội, nhưng xem cuộc tranh luận là một sự phản biện về học thuật đối với các tập tục của giáo hội, văn phong của ông thể hiện chủ tâm “tra cứu hơn là lập thuyết.” Luther bắt đầu thuyết giảng bác bỏ phép giải tội,  ông treo 95 "Luận đề" tại cửa nhà thờ của lâu đài Wittenberg (nơi treo các thông báo của viện đại học), theo thông lệ vào thời ấy, nhằm mở ra cuộc tranh luận về phép giải tội. Những luận đề của Luther tố cáo sự tham lam và tinh thần thế tục đang phổ biến trong giáo hội (thể hiện qua việc bán bùa xá tội), và yêu cầu mở ra tranh luận về thần học. Ngay tức khắc các luận đề này được dịch từ tiếng Latin sang tiếng Đức, được in ra  và phổ biến. Đây là cuộc tranh luận đầu tiên trong lịch sử có sự hỗ trợ của máy in. Chỉ trong vòng hai tuần lễ chúng đã được phổ biến rộng rãi trên toàn nước Đức, và chỉ trong hai tháng chúng được tìm thấy trên toàn lãnh thổ châu Âu. Trước cửa Giáo đường Wittenberg, nơi đây vị anh hùng đức tin Martin Luther đã đóng 95 Luận đề khởi đầu Phong trào Cải Chánh Giáo hội trong thế kỷ 16 tại Đức quốc. Phản Ứng Của Giáo Hoàng Sau khi tỏ ra xem thường "gã người Đức viết các luận đề khi say rượu, khi tỉnh ra anh ta sẽ đổi ý", Giáo hoàng Leo X vào năm 1518 chỉ thị Silvester Mazzolini, giáo sư thần học Dòng Dominican, xem xét vấn đề này. Nhận thấy Luther là một mối nguy hiểm, Mazzolini công bố Martin Luther là kẻ dị giáo và viết một bài phản bác các luận đề nhằm khẳng định thẩm quyền của giáo hoàng trên giáo hội Công giáo và khuyến cáo bất cứ sự chệch hướng nào cũng bị coi là dị giáo. Khi đang tham dự một hội nghị của Dòng Augustine tại Heidelberg, Martin Luther nhận được lệnh triệu tập đến La Mã. Trong khi vẫn tỏ ý trung thành với giáo hội, ông bắt đầu bác bỏ quyền lực tuyệt đối của giáo hoàng. Vì muốn giữ sự hòa hảo với Vương hầu Frederick, người có khả năng được bầu chọn làm hoàng đế cho Đế quốc La Mã Thần thánh và đang tỏ ra muốn bảo vệ Martin Luther, Giáo hoàng chọn giải pháp ôn hòa nhằm thuyết phục Martin Luther ngưng đả kích giáo hội, hãy viết thư tỏ ý thuận phục giáo hoàng và soạn một luận văn nhằm tôn vinh Giáo hội La Mã. Bức thư được viết nhưng không được gởi đi vì Martin Luther vẫn giữ nguyên chính kiến, sau này ông cũng viết một luận văn nhưng nhằm mục đích bác bỏ mọi linh nghiệm của phép giải tội. Cùng với một người bạn, Carlstadt, Martin Luther tham dự cuộc tranh luận với John Eck tại Leizpig từ 27 tháng 6 – đến 18 tháng 7 năm 1519. Tại đây, ông đã bác bỏ quyền lực tối thượng của ngai giáo hoàng, cho rằng "quyền cầm giữ chìa khoá nước Trời" là được ban cho toàn thể Hội thánh (nghĩa là cho tất cả tín hữu), ông cũng khẳng định rằng Giáo hội La Mã không giữ vai trò ưu việt nào trong sự cứu rỗi. Trong khi đó, các tác phẩm của Martin Luther ngày càng được phổ biến rộng rãi hơn, lan truyền đến Pháp, Anh, và Ý vào đầu năm 1519. Nhiều sinh viên tìm đến Wittenberg để nghe các bài thuyết giảng của Martin Luther và Philipp Melancthon. Năm 1518, Melancthon tìm đến để cộng tác với Luther. Trong thư gửi giới quí tộc Đức, ấn hành vào tháng Tám năm 1520, Luther tin rằng cuộc cải cách đến từ ý muốn của Thiên Chúa nhưng đã bị khước từ bởi giáo hoàng và giới tăng lữ, ông cũng kêu gọi cải cách nhiều lãnh vực từ trong giáo hội ra ngoài xã hội. Trong tác phẩm “Đường dẫn đến sự Lưu đày tại Babylon của Giáo hội”,  ông luận bàn về các thánh lễ, bác bỏ chủ nghĩa hình thức trong cử hành các thánh lễ và, theo ông, chỉ có Tiệc Thánh và Báp têm nên được kể là thánh lễ. Ngày 15 tháng 6 năm 1520, Giáo hoàng Leo X cảnh cáo Luther (chiếu chỉ Exsurge Domine) có thể bị dứt phép thông công nếu trong vòng 60 ngày không chịu rút lại 41 câu, trong đó có 95 luận đề. Sau khi thẳng thừng khước từ vâng phục mệnh lệnh của giáo hoàng, ngày 3 tháng 1 năm 1521, Martin Luther bị khai trừ khỏi giáo hội. Nghị Viện Worms Hoàng đế La Mã Thần thánh là Karl V khai mạc Nghị viện của Đế chế tại Worms ngày 22 tháng 1 năm 1521. Martin Luther được triệu tập để xác định lập trường của mình trước hoàng đế và nghị viện. Ông được hoàng đế cam kết bảo vệ an toàn trong thời gian này. Tại đây, John Eck, trong tư cách là phát ngôn nhân của hoàng đế, đối diện Luther với câu hỏi: "Ông có đồng ý bác bỏ các cuốn sách của ông cùng những điều lầm lạc được chép ở trong?" Câu trả lời của Luther: "Trừ khi được thuyết phục bởi Thánh Kinh – tôi không công nhận thẩm quyền của các giáo hoàng và các công đồng vì họ tự mâu thuẫn với nhau – lương tâm của tôi chỉ thuận phục Lời của Thiên Chúa, bởi vì chống lại lương tâm thì không đúng và cũng không an toàn". Trong năm ngày kế tiếp, các phiên họp kín được triệu tập để quyết định số phận của Luther. Ngày 25 tháng 5 năm 1521, Hoàng đế trình bày bản thảo Chiếu chỉ Worms tuyên bố Luther bị đặt ngoài vòng pháp luật, cấm các tác phẩm của ông, và yêu cầu bắt giữ ông, “Ta muốn bắt giữ và trừng phạt hắn như là một tên dị giáo xấu xa.” Chiếu chỉ kể là tội phạm bất cứ ai chứa chấp hoặc cấp dưỡng cho Luther, và cho phép mọi người giết Luther mà không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ẩn náu tại lâu đài Wartburg Câu chuyện Martin Luther mất tích trên đường về là một phần trong kế hoạch của Vương hầu Frederick nhằm bảo vệ ông. Một nhóm gồm năm kỵ sĩ bịt mặt chận bắt Martin Luther khi ông vừa rời khỏi Nghị viện Worms và đưa ông về lâu đài Wartburg. Tại đây ông phải mặc trang phục hiệp sĩ, để râu dài và được gọi với tên Junker Jorg (Hiệp sĩ George). Trong thời gian sống ẩn dật, Luther vẫn chuyên cần liên tục  làm việc. Tại đây,  ông bắt đầu dịch Thánh Kinh sang tiếng Đức. Bản Tân Ước nổi tiếng được ấn hành năm 1522. Trong khi đó, các thành phần cực đoan bắt đầu gây dựng thanh thế bên trong phong trào cải cách, và đặt phong trào còn non trẻ này vào nguy cơ bị dẫn đi lệch hướng khỏi tôn chỉ ban đầu, đặc biệt là khi những người Anabaptist đến từ Zwickau gia nhập nhóm này để đẩy nhanh tình trạng hỗn loạn vốn đã bộc phát từ khi Luther vắng mặt. Bất đồng với quan điểm cực đoan của nhóm này và rất lo lắng  về những hậu họa do họ gây ra, ngày 6 tháng 3 năm 1522, Luther bí mật trở về Wittenberg. “Trong khi tôi vắng mặt,” ông viết cho Vương hầu Frederick, “Satan đã đột nhập vào bầy chiên, gây biết bao tàn hại mà tôi không thể nào cứu chữa được nếu chỉ bằng thư tín, tình thế đòi hỏi phải có sự hiện diện và tiếng nói của tôi.” Trở Lại Wittenberg Trong vòng tám ngày trong Tuần thánh, khởi đi từ Chúa nhật ngày 9 tháng 3 và kết thúc vào Chúa nhật sau, Luther đã giảng tám lần. Trong tám bài giảng này, ông dẫn dắt thính giả vào tâm điểm của những giá trị căn bản của Cơ Đốc giáo như tình yêu thương, đức nhẫn nại, bác ái, và sự tự do, cũng như nhắc nhở họ cần phải tin cậy Lời Thiên Chúa thay vì dùng bạo lực để tiến hành những cải cách cần thiết. Ông nói, “Các bạn có biết ma quỉ nghĩ gì khi nhìn thấy chúng ta xử dụng bạo lực để truyền bá phúc âm? Đằng sau những đám lửa hỏa ngục, ma quỉ ngồi khoanh tay, đôi mắt hiểm độc và nụ cười ghê rợn, rít lên rằng, “À, những tên điên khùng này đang làm đúng ý ta! Cứ để chúng tiếp tục, rồi ta sẽ hưởng lợi. Thật vui thích biết bao.” Nhưng khi ma quỉ nhìn thấy Lời Thiên Chúa được rao giảng và hiển lộ quyền năng, ma quỉ sẽ co rúm lại và run rẩy vì khiếp sợ.” Kinh Thánh Tiếng Đức Việc Martin Luther dịch Tân Ước ra tiếng Đức giúp người dân thường dễ gần gũi với Kinh Thánh, đồng thời làm suy giảm ảnh hưởng của giới tăng lữ. Ông đã dùng Thánh Kinh Hi Lạp văn  của Erasmus để dịch. Trong thời gian dịch Thánh Kinh, ông thường đến các thị trấn lận cận, và vào các ngôi chợ để lắng nghe người dân nói chuyện với nhau hầu có thể đưa ngôn ngữ đại chúng vào bản dịch của ông. Tận dụng thời gian nhàn rỗi khi đang ẩn náu tại Lâu đài Wartburg, năm 1521 Luther một mình khởi sự dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức. Theo Philip Schaff, nhà thần học thế kỷ 19, chỉ riêng công trình này cũng đủ để Luther được công nhận là một trong số những người đóng góp nhiều nhất cho các dân tộc nói tiếng Đức. Bản dịch Tân Ước của Luther xuất bản vào tháng 9 năm 1522. Đến năm 1534, ông hoàn tất bản dịch Cựu Ước với sự cộng tác của Johannes Bugenhagen, Justus Jonas, Caspar Creuziger, Philipp Melanchthon, Matthäus Aurogallus, và George Rörer. Luther vẫn tiếp tục hiệu đính bản dịch cho đến cuối đời. Bản dịch Kinh Thánh của Luther đã đóng góp vào sự thành hình  ngôn ngữ Đức đương đại, được xem là dấu mốc trong nền văn chương Đức. Bản Kinh Thánh năm 1534 của Luther tạo ảnh hưởng trên bản dịch của William Tyndale, là ấn bản tiền thân cho bản Kinh Thánh King James. Philip Schaff nhận xét về bản dịch này: “Kết quả lớn nhất của Luther trong thời gian ẩn náu tại Wartburg, cũng là thành tựu quan trọng nhất và hữu ích trong suốt cuộc đời ông, là bản dịch Tân Ước, qua đó ông đã mang sự giáo huấn và cuộc đời mẫu mực của Chúa Cơ Đốc và các Sứ đồ vào lòng và tâm trí của người dân Đức, như là một sự tái tạo giống y như thật. Kết quả này có thể được xem như là sự tái ấn hành phúc âm. Ông đã làm Kinh Thánh trở nên quyển sách của nhân dân, có mặt khắp mọi nơi, trong nhà thờ, trường học và gia đình.” Với bản dịch Cựu Ước ấn hành năm 1534, Martin Luther hoàn tất công trình dịch thuật toàn bộ Kinh Thánh. Công trình này giúp chuẩn hóa ngôn ngữ Đức và được xem là dấu mốc quan trọng trong lịch sử văn học Đức.        http:codocnhan.org  Ngy.Uyên Hiệu Đính