Vietnamese Lutheran Church

  • 0 When Was Jesus Really Born? By Lesli White

    When Was Jesus Really Born?   The Christmas story has become synonymous with the date, December 25. Whether you’re listening to carols or looking at nativity scene imagery, the idea that Christmas is His birthday is everywhere. But what has become popular belief isn’t exactly true to history. The Gospel of Matthew and the Gospel of Luke are the only two accounts of Jesus’ birth in the New Testament, and both gospels show different angles of the story. Luke begins in Nazareth and Matthew focuses solely on events in Bethlehem. Both aren’t particularly detailed in terms of a calendar date, which makes determining Jesus’ birthday quite tough. The writers of the gospels rarely tell you when things happened and the time of year. "The Bible does not specify a date or a month when Jesus was born." The Bible does not specify a date or a month when Jesus was born. There are many different theories as to why Christmas is celebrated on December 25. A very early Christian tradition said that the day when Mary was told that she would have a very special baby, Jesus (called the Annunciation) was on March 25 – and it’s still celebrated on the day. Nine months after that date is December 25. Others believe Christmas is celebrated on this day because it was already popular in ancient religious celebrations as the birthday of the sun. The Winter Solstice and the ancient festival day celebrating the return of the sun ‘Saturnalia’ and ‘Dies Natalis Solis Invicti’ took place in December around this date. While December 25 was popularized as the date for Christmas, it was not because Jesus was born on that day. If you take a close look at Scripture, it indicates that this is an unlikely date for Christ’s birth. Although it’s not impossible, it seems unlikely that Jesus was really born on December 25. Here are several key reasons. We Know That Shepherds Were in the Fields Watching Their Flocks at the Time of Jesus’ Birth Scripture tells us that, “[Mary] gave birth to her firstborn, a son. She wrapped Him in cloths and placed Him in a manger, because there was no guest room available for them. And there were shepherds living out in the fields nearby, keeping watch over their flocks at night” (Luke 2:7-8). But shepherds were not in the fields during December. Luke’s account suggests that Jesus may have been born in summer or early fall. In December, Judea is cold and rainy, so it is likely the shepherds would have sought shelter for their flocks at night. The weather would not have permitted shepherds watching over their flocks in the field at night. Jesus’ Parents Came to Bethlehem to Register in a Roman Census The census or enrollment which according to Luke 2:1 was the occasion of the journey of Joseph and Mary to Bethlehem where Jesus was born, is connected with a decree of Augustus, embracing the Greek-Roman world. Luke carefully distinguishes the census at the time of Jesus’ birth as “first,” in a series of enrollments connected wither with Quirinius or with the imperial policy inaugurated by the decree of Augustus. Because temperatures often dropped below freezing and roads were in poor conditions, the census was not taken in winter. This time of year didn’t permit it. Winter Would Be a Difficult Time for Mary to Travel Mary was traveling the long distance from Nazareth to Bethlehem which was about 70 miles. Winter would likely be an especially difficult time for a pregnant Mary to travel such a long distance. The world of Mary and Joseph was a difficult and dangerous place, one whose harsh conditions were not fully chronicled in the Gospel accounts of their travails. Writers of the gospels of Matthew and Luke “are so laconic about the [Nativity] event because they assume the reader would know what it was like,” said James F. Strange, a New Testament and biblical archaeology professor at the University of South Florida in Tampa. “We have no idea how difficult it was.” Strange estimates that Joseph and Mary likely would have traveled only 10 miles a day because of Mary’s impending delivery. The time of year that Jesus was born continues to be a huge subject of debate, particularly the month of Jesus’ birth. Many biblical scholars believe Scripture points to the fall of the year as the most likely time of Jesus’ birth. In 2008, astronomer Dave Reneke argued that Jesus was born in the summer. Reneke told New Scientist the Star of Bethlehem may have been Venus and Jupiter coming together to form a bright light in the sky. Using computer models, Reneke determined that this rare event occurred on June 17, in the year 2 B.C. Other researchers have claimed that a similar conjunction, one between Saturn and Jupiter occurred in October of 7 B.B., making Jesus an autumn baby. Theologians have also suggested that Jesus was born in the spring, based on the biblical narrative that shepherds were watching over their flocks in the fields on the night of Jesus’ birth – something they would have done in the spring, not the winter. The Bible nowhere points to Jesus being born in mid-winter. Unfortunately, nobody really knows exactly when Jesus was born. The main focus of the New Testament writers is not the date of Jesus’ birth, but that God the Father has sent His son at just the right time in all of history to accomplish His saving purposes and thus fulfill His promise. The apostle Paul proclaimed, “When the set time had dully come, God sent His son, born of a woman, born under the law to redeem those under the law, that we might receive adoption to sonship” (Galatians 4:4-5). And we read in the Gospel of Mark, “Jesus went into Galilee, proclaiming the news of God. ‘The time has come,’ He said. ‘The kingdom of God has come near. Repent and believe the good news!” (Matthew 1:14-15). While it is interesting to know Jesus’ birth from a historical perspective, it is theologically irrelevant and holds very little importance when looking at the bigger picture. It is less important that we know when it happened and more important that we know that it happened and why it happened. The Bible is clear on this. Read more at https://www.beliefnet.com/faiths/christianity/articles/when-was-jesus-really-born.aspx#1kZYqAJwD17pkAMo.99

  • 0 Nơi Con Trời Giáng Hạ - Ngy. Uyên

    Inn – Nhà Trọ Theo tài liệu của nhà khảo cổ phong tục  môn Tân Kinh học Kenneth E. Bailey thuộc Viện Tantur Ecuminecal Institute, Jerusalem cho biết: Phúc âm Lu-ca 2: 1-7 -  Đức Giê-xu không sinh hạ nơi chuồng chiên  nhưng tại một căn phòng  trệt của Inn –  Heb. “Katalúmati” có nghĩa là “nhà khách”.  Theo kiến trúc thời thượng cổ đây là một loại khách sạn hai tầng,  gian phòng phía dưới là nơi bán hàng tạp hóa, có một không gian  dành cho súc vật như chiên, lừa với một diện tích khoảng 18 sqft.  Tại đó, chủ nhân của Inn để máng cỏ với rơm, để các súc vật này ăn.  Buổi sáng, chúng được dẫn ra cánh đồng cỏ.  Khi đêm xuống, chúng được dẫn về lại nơi ấy... Vào thời xa xưa ấy, những đoàn thương buôn qua lại trên các trục đường di chuyển từ thành phố này đến thành phố khác, họ đi bằng lừa, lạc đà. Ngày đi đêm nghỉ và họ dừng chân tại  Inn có kiến trúc hình vuông xây lên bằng các tảng đá.  Tầng trên thì dành cho đoàn lữ khách, thương buôn. Tầng dưới cũng là căn phòng bán các loại hàng tạp hóa, ngoài sân có giếng nước. Phúc âm Mat. 2:11  -  Các nhà thông thái từ Đông phương đi tìm và thờ phụng Đức Giê-xu sau đó một thời gian so với thời điểm các mục tử gặp Hài nhi Thánh Giê-xu. Bấy giờ, Giô-sép và Ma-ri trong còn ở nơi Đức Giê-xu hạ sinh nơi máng cỏ nữa, và các nhà thông thái bước vào “nhà” Heb. “Oikían” .  

  • 0 Câu Chuyện Về Jingle Bells Ca khúc Noel Nổi Tiếng

    • by Administrator
    • 16-12-2019

    Bing Crosby and The Andrews Sisters: "Jingle Bells" Trường hợp sáng tác của Jingle Bell được kể lại chi tiết như sau: Ông James S. Pierpont được sinh trưởng tại Medford tiểu bang Massachusetts, ông có năng khiếu về âm nhạc. Ngay từ lúc còn nhỏ, ông đã không chỉ trình diễn trong ca đoàn nhà thờ mà lại còn đánh đàn phong cầm nữa. Khi lớn lên, ông phụ giúp cha là một mục sư thuộc giáo phái Unitarian tại Medford, làm việc với ca đoàn, nhạc sĩ. Vào năm 1840, chàng Pierpont được giao nhiệm vụ sáng tác một nhạc phẩm đặc biệt để hát trong dịp lễ Tạ Ơn.  Nhìn qua khung cửa ngôi nhà của cha tại số 87 đường Mystic, ông thấy mấy các thanh niên đang lái những chiếc xe trượt tuyết từ trên đồi cao đổ xuống. Nai nịt thật ấm để ngăn ngừa cái lạnh thấu da bên ngoài trời lúc đó, ông bước ra khỏi nhà. Ông nhìn họ và nhớ lại nhiều lần mình cũng đã từng đua xe trượt tuyết như một môn chơi thể thao vui nhộn với những tiếng chuông kêu lanh canh. Không chỉ đứng nhìn, ông  liền nhảy vào tham dự cuộc chơi với họ. Trò chơi chấm dứt khoảng một tiếng đồng hồ sau và ông là người thắng cuộc. Khi bước trở về nhà, trong đầu ông đã loáng thoáng nghĩ ra một khúc nhạc, và khi ngồi cạnh lò sưởi cho ấm, ông đã ngân nga được một vài đoạn ngắn. Cảm thấy như đã có cái sườn làm nền cho bản nhạc mà nhà thờ của thân phụ cần đến, ông khoác áo lạnh vào người rồi băng qua những con đường ngập tuyết đến nhà bà Otis Waterman, người đàn bà duy nhất ở Thị trấn Medford có chiếc đàn dương cầm. Lúc gặp bà ra mở cửa, ông nói: “Tôi vừa nghĩ ra một đoạn nhạc trong đầu đây”. James là chỗ quen biết với bà từ lâu, bà biết James muốn gì nên vội nhường lối cho anh bước vào nhà. Ngồi xuống cạnh chiếc đàn cũ, James đánh lên từng nốt nhạc của bài ca. Buổi tối hôm ấy, ông đem những nốt nhạc leng keng ghép lại với những gì quan sát được khi đua xe trượt tuyết lúc ban ngày và nhớ lại cả những chiếc xe trượt băng do ngựa kéo nữa. Vậy là bài hát “One Horse Open Sleigh (Chiếc xe một ngựa trượt băng)” ra đời. James tập bài hát đó cho ca đoàn nhà thờ Medford. Đến ngày lễ Thanksgiving thì toàn bài nhạc có phần hoà âm được đem ra trình diễn. Tại vùng New England lúc ấy, Thanksgiving là ngày lễ quan trọng nhất nên có rất nhiều người tham dự. Họ nhiệt liệt hoan nghênh bài hát đó, nhiều người yêu cầu James và ca đoàn trình bày một lần nữa vào dịp lễ Giáng sinh. Mặc dầu bài hát đề cập đến cảnh ngựa đua xe trượt băng, lối hẹn hò trai gái và cá cược, chẳng có vẻ gì thích hợp với không khí nhà thờ chút nào, nhưng lần trình diễn này lại là một thành công lớn đến nỗi một số khách tới thánh đường dự lễ đã xin bản nhạc đem về địa phương của mình. Vì bài ca được hát vào ngày 25 tháng 12 là ngày lễ Giáng sinh, nên họ dạy cho anh em bè bạn hát như một bài nhạc mừng Chúa Giáng sinh thực thụ. Pierpont có ngờ đâu bản nhạc của mình lại có sức truyền lan đến thế. Ông chỉ biết một điều là người ta thích bản nhạc “mùa đông” của ông, nên khi di chuyển tới Savanah tiểu bang Georgia, ông mang theo bản nhạc này. Ông tìm được người chịu xuất bản bài hát đó năm 1857, nhưng mãi đến năm 1864 khi nhật báo Salem Evening News đăng bài tường thuật câu chuyện về bản nhạc đó thì James mới biết được là mình đã viết được một tác phẩm đặc biệt.  Đến thời điểm ấy, bài ca đã nhanh chóng phổ biến thành bản nhạc phổ thông nhất vùng New England rồi lan  xuống phía nam.  Khoảng 20 năm sau đó, “Jingle Bells” có lẽ là bản nhạc hát dạo mùa Chúa Giáng sinh được phổ biến nhất trong nước. Là một trong những bản nhạc xưa nước Mỹ, bài ca mừng lễ Thanksgiving này là một tưởng tượng rất phong phú về khung cảnh miền thôn dã có tuyết phủ mùa đông, có xe di chuyển trên tuyết, và những tiếng lục lạc kêu leng keng trên cổ ngựa, hơn một thế kỷ qua đã ghi đậm ảnh hưởng vào những hình ảnh mùa Chúa Giáng sinh trên các thiệp chúc mừng, sách báo, phim ảnh và cả những nhạc bản Giáng sinh khác nữa. Bài ca mùa Chúa Giáng sinh có vẻ như “kỳ cục” này của Pierpont đã được thu thanh cả trăm lần.  Benny Goodman, Glenn Miller, Les Paul, ai cũng đã leo lên đỉnh cao với “Jingle Bells”.  Nhưng người thành công nhất là Bing Crosby và các chị em nhà Andrew Sisters. Bản nhạc leng keng vui tai này còn xuất hiện trong nhiều cuốn phim của Hollywood, trong các shows trên đài truyền hình, và một phần của bản nhạc có khi lại được đưa vào trong một bài ca Giáng sinh khác. Bản nhạc rất thành công của Bobby Helm chẳng hạn có nhan đề “Jingle Bells Rock” phần lớn là cảm hứng từ Jingle Bells, và như vậy lại một lần nữa lại chứng tỏ sự thành công của một bài ca thế tục đã đóng góp cho ngày lễ Giáng sinh. Ngày nay, nơi nào cũng nghe hát Jingle Bells. Ít có người đã được thấy cái xe trượt băng do ngựa kéo, nhưng cả triệu người đã treo những chiếc chuông leng keng ở cửa vào dịp lễ Giáng sinh.  Hình ảnh ông già Noel thường gặp nhất là cảnh ông ngồi trên chiếc xe trượt băng kéo bởi những con nai, cổ đeo một vòng lục lạc.  Rất nhiều bản nhạc mừng Giáng sinh hoặc các quảng cáo thương mại trên TV mở đầu bằng những tiếng chuông vui. Nhờ có anh chàng James Pierpont và lời yêu cầu soạn ra một nhạc bản cho ngày Thanksgiving mà ta có được Jingle Bells, và mỗi lần nhìn thấy hình ảnh tuyết và chiếc xe trượt băng người ta lại nghĩ ngay đến ngày lễ kỷ niệm Chúa Giáng sinh.    

  • 0 Lời Cảnh Báo Khẩn Cấp Dành Cho Các Cơ Đốc Nhân Đang Tập Yoga

    Oneway.vn – Một mục sư tại một Hội Thánh lớn ở tiểu bang Missouri, Mỹ, đang mạnh mẽ chống lại môn yoga trong cộng đồng Cơ đốc – điều này cũng gây tranh cãi gay gắt trong vài năm trở lại đây.   John Lindell, mục sư quản nhiệm Hội Thánh Ngũ Tuần với 10.000 tín hữu tại thành phố Ozarks đã lên tiếng chống lại việc tập yoga trong một bài giảng, tựa đề “Theo đuổi sự huyền bí”.  Theo trang The Christian Post, Mục sư Lindell cảnh báo Hội Thánh về “những ảnh hưởng của thế giới ma quỉ” qua các bài tập yoga ám ảnh tâm trí, linh hồn họ. Ông cũng cảnh báo chủ nghĩa thần bí Phương Đông trong yoga liên quan đến ngoại giáo, chiêm tinh, phù thủy và ma thuật.  Mục sư Lindell cũng chỉ ra một phần lý do ông quyết định thảo luận về chủ đề này trước hết bởi nỗi ám ảnh ngày càng gia tăng của xã hội ngày nay về những điều huyền bí thông qua yoga đối với Cơ đốc nhân.  “Sỡ dĩ thế, bởi dường như nền văn hóa của chúng ta ngày càng bị ám ảnh và lôi cuốn vào những điều huyền bí” – Mục sư Lindell cho biết. Theo Viện thăm dò dư luận Gallup, cứ 4 người Mỹ thì có 3 người tin vào sự huyền bí, và theo kết quả thăm dò gần đây của trung tâm Pew, có tới 40% Cơ đốc nhân tin vào tâm linh học, 29% tin vào sự đầu thai; 26% tin vào thuật chiêm tinh… Ngành giải trí đã ghi nhận điều này bằng cách đáp ứng hàng loạt trò chơi điện tử, truyền hình, phim ảnh…”.  “Có vẻ như huyền bí đã trở nên bình thường” – ông tiếp. “Nó không chỉ đơn thuần là ngôi nhà ma ám, những mụ phù thủy trong ngày Halloween, nhưng nó bước vào, tác động đến cuộc sống chúng ta theo cách riêng, thông qua những điều như chủ nghĩa huyền bí Phương Đông, các bài tập, triết lý…” – Mục sư Lindell tranh luận xa hơn rằng những điều đó thuộc về ma quỉ, nhằm nhấn mạnh đó là lý do vì sao Cơ đốc nhân nên tránh xa từ đầu những bài tập yoga.   Ông nhấn mạnh căn nguyên của nó thuộc về ma quỉ, các tư thế, động tác yoga được tạo ra nhằm lôi kéo bạn đến với chúng. “Nếu bạn nói các tư thế yoga chỉ đơn thuần là các bài tập thể dục, thì khác gì bạn nói việc nhận báp-têm cũng như bài tập thể dục nhịp điệu dưới nước!?”.  Ngày nay, yoga không chỉ chiếm ưu thế, được tôn vinh, mà còn được chấp nhận rộng rãi trong phạm vi Cơ đốc. Mục sư cũng chỉ ra rằng việc chấp nhận yoga càng tăng, cho thấy sự thối lui của niềm tin Cơ đốc theo Kinh Thánh.  “Đối với tôi, chỉ riêng điều đó thôi cũng đã là dấu hiệu cho thấy chúng ta đã trôi dạt, suy thoái…” – ông tiếp. “Nên xem yoga là một hình thức của chủ nghĩa huyền bí Phương Đông mà Cơ đốc nhân nên tránh xa hoàn toàn. Yoga nay hiện hữu khắp nơi. Chẳng hạn nếu bạn truy cập vào Hiệp hội thanh niên Cơ đốc địa phương/Young Men’s Christian Association (YMCA) và nhấp vào liên kết “Sống khỏe”, bạn sẽ tìm thấy khoảng 30 tham chiếu liên quan đến yoga.  Nhiều Cơ đốc nhân cho rằng có thể tách yoga khỏi cội nguồn Ấn giáo, nhưng Mục sư Lindell khẳng định không thể. Trang web của Hội Thánh James River  liệt kê nguồn giúp các thành viên có thể hiểu sâu hơn về những điều không ổn của yoga.  Trang web này cũng trích lời Giáo sư Aseem Shukla, một học giả Hindu giáo nổi tiếng nhằm giải thích những trụ cột tâm linh của yoga: Gần 22.000 người Mỹ tụ họp, chắp tay trước ngực thực hiện động tác chào của người Hindu – với ý nghĩa thánh thần trong tôi cúi chào thánh thần trong bạn. Họ nhắm mắt tập trung tâm trí vào câu thần chú “Om”, biểu tượng của sự rung động đầu tiên và vĩnh cửu trong sự sáng tạo của người Hindu. Các động tác duỗi thẳng, vươn vai, uốn cong, vặn người, kiểm soát hơi thở… và gọi tên các vị thần Hindu liên quan đến các tư thế, như: Natarajaasana (Chúa Shiva), Hanumanasana (Chúa Hanuman)… Họ niệm ‘thần chú của tháng’ từ kinh Vedas (Vệ đà) – kinh linh thiêng nhất của Ấn giáo – theo họ.  Mục sư Lindell trình bày rằng dẫu cá nhân làm gì trong khi luyện tập thì những bài yoga vật lý cũng không thể tách khỏi nguồn cội Hindu. “Tập yoga bất cứ cấp độ nào cũng ẩn chứa nguy cơ mở cửa cuộc đời, gia đình, hoàn cảnh của mình cho ma quỉ bước vào, áp chế bạn” – ông cảnh báo.  Mục sư Lindell đả phá 3 trụ cột chính của yoga: “ý thức về mục đích, năng lượng và sự hiện diện thiêng liêng”.  Theo Mục sư Lindell: “Mỗi vị trí, bộ phận cơ thể đều mang ý nghĩa riêng. Tôi muốn nói rằng các tư thế yoga không được xây dựng bởi huấn luyện viên thể hình, mà được thiết kế và tạo ra với ý định và tâm linh ma quỉ, tiến dần vào cuộc sống bạn, dẫn bạn đến với ma quỉ”.  “Mọi tôn giáo sai trật đều thuộc về ma quỉ, thờ lạy hình tượng” – ông nhất mạnh.  Ông đi vào chi tiết bằng cách trình bày một tư thế yoga đơn giản, có vẻ như vô hại: bài tập chào mặt trời. “Điều mà hầu như nhiều người không biết rằng bài tập này được tạo ra nhằm thờ lạy thần mặt trời Surya. Vì vậy, mỗi lần bạn hoàn thành động tác chào mặt trời, bạn đã bày tỏ sự chào mừng, tôn thờ thần mặt trời” – Mục sư Lindell nói.  Mục sư Lindell cũng giải thích “ý nghĩa tình dục” từ bài tập hoa sen – một tư thế nổi tiếng khác trong yoga.  “Một vài người có thể sẽ nói điều đó không có nghĩa như vậy với tôi” – ông nói. “Vâng, khi bạn tập yoga, các tư thế của nó dĩ nhiên mang bản chất và ý nghĩa của nó, không thể phủ nhận điều này. Nếu bạn nói các tư thế yoga chỉ là bài tập thể dục thì không khác nào bạn cho rằng việc nhận báp-tem bằng nước cũng chỉ như bài tập thể dục dưới nước”.  “Yoga hoàn toàn trái ngược và không phù hợp với Cơ đốc giáo” – Mục sư Lindell cảnh báo. “Ngồi thiền trong yoga mang ý thức rằng không có gì hiện diện quanh mình. Nó làm giảm sự tiếp nhận ý thức về Đức Chúa Trời”.  Đáng chú ý, Mục sư Lindell không phải Cơ đốc nhân duy nhất lên án yoga là loại hình xung khắc với Cơ đốc nhân. Theo báo cáo của trang Faithwire, Blogger Matt Walsh cũng đã đưa ra những luận điểm mạnh mẽ chống lại các bài tập yoga.  Nhà thần học John Piper, người sáng lập trang Desiring God cũng cho rằng yoga “xung khắc với sự hiểu biết của Cơ đốc nhân về Đức Chúa Trời và cách thức Ngài quản trị thế giới này”.  Tiến sĩ Al Mohler, Viện trưởng Đại Chủng viện Thần học Báp-tít Nam Phương (Southern Baptist Theological Seminary) tại Louisville, Kentucky cũng trình bày quan điểm đáng tin cậy chống lại vấn đề này.  “Các Cơ đốc nhân tập luyện yoga đang ôm ấp hoặc ít ra thì đang đùa cợt với việc tập luyện tâm linh ẩn chứa mối đe dọa biến đổi đời sống thuộc linh của mình”. Vậy, Cơ đốc nhân có nên ưng thuận và sẵn lòng đặt mình vào mối hiểm nguy này chăng?   Tố Quyên dịch (Nguồn: faithwire.com)  

  • 0 NIỀM HẠNH PHÚC CỦA NHÀ BÁC HỌC VĨ ĐẠI LOUIS PASTEUR

    Trên chuyến tầu hỏa đi về Paris, có một thanh niên trẻ ngồi cạnh một cụ già. Chỉ ít phút sau khi đoàn tàu chuyển bánh, cụ rút trong túi áo ra một quyển Kinh Thánh để đọc và g cầu nguyện. Cậu sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội. Sau một hồi lâu, xem chừng không thể chịu nỗi, anh ta mạnh dạn lên tiếng: "Thưa ông, ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí thế à?” Cụ già thản nhiên trả lời: “Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao?” Cậu trẻ tuổi xấc xược trả lời: “Lúc nhỏ tôi có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin vào những chuyện nhảm nhí ấy được, bởi vì khoa học đã mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi và hãy học hỏi những khám phá mới của khoa học, rồi ông sẽ thấy rằng những gì ông tin từ trước đến nay đều là những chuyện nhảm nhí hết.” Cụ già nhỏ nhẹ hỏi cậu sinh viên: “Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, liệu cậu có thể giúp tôi hiểu được chúng không?” Cậu sinh viên nhanh nhẩu trả lời: “Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi sách vở đến cho ông, rồi ông sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học cho mà xem.” Cụ già từ từ rút ra trong túi ra một tấm danh thiếp và trao cho người sinh viên. Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bổng xấu hổ đến tái mặt và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi: Louis Pasteur, Viện nghiên cứu khoa học Paris. Đọc xong câu chuyện trên, bạn cảm thấy thú vị hay băn khoăn nhiều hơn? Khoa học liệu có mâu thuẩn với Chúa? Louis Pasteur là một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất trong lịch sử, với những khám phá về vi trùng, tẩy trùng, về tiêm chủng, miễn dịch,... "Người khổng lồ" đã đặt nền tảng cho ngành vi sinh vật học và cứu sống hàng triệu người này từng phát biểu: “Một ít khoa học làm ta xa rời Chúa; nhiều khoa học làm ta quay về với Chúa” Chính Louis Pasteur biết rõ rằng thành công của ông là nhờ có  “Chúa ở bên trong”. Thật vậy, ông nói: “Người Hi-lạp hiểu được sức mạnh bí ẩn nằm bên dưới sự vật. Chính họ đã cho chúng ta một trong những từ ngữ đẹp nhất trong ngôn ngữ của chúng ta, đó là chữ “enthousiasme” (cảm hứng), chữ Hi-lạp là Εν Θεος , có nghĩa là ‘có Chúa ở bên trong’. Tầm vóc hành vi của con người được đo bởi niềm cảm hứng mà từ đó những hành vi ấy hiện ra.  Hạnh phúc thay cho ai có Chúa ở bên trong tấm lòng”!