• 0 Ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ 4th of July

                                                    Đây là đại lễ quan trọng của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã được long trọng cử hành sau cuộc chiến dành nền độc lập vào năm 1812. Vào năm 1620, một nhóm ngưòi Anh Pilgrims từ Hoà lan vưọt biển trên chiếc tầu Matflower và cặp bến Cape Code, New York City.  Một năm trưóc đó, có một nhóm ngưòi Anh Puritans đã cặp bến Jamestown, Virginia.  Về sau, số ngưòi Anh di dân càng gia tăng, họ lập thành 13 thuộc địa dặt dưói quyền cai trị của các thống đốc Anh quốc. Năm 1765 có khoảng 1,850,00 dân cư, trong số này có 400,000 ngưòi da đen sống kiếp nô lệ.  Tất cả mọi ngưòi phải ủng hộ mẫu quốc Anh về lĩnh vực kinh tế.  Khi ngưòi Anh gửi quân để bảo vệ thuộc địa thì ngưòi dân bị trị phải trả chi phí, các nền nông nghiệp, kỷ nghệ đều bị lệ thuộc mẫu quốc Anh, nhân dân thuộc địa phục vụ cho thị trưòng công và kỷ nghệ Anh quốc.  Nhân dân thuộc địa không có dân biểu tại quốc hội Anh.  Các cuộc xung khắc bùng nổ tạo nên cuộc chiến vào tháng 4 năm 1775.   Tướng lãnh đạo là George Washington.  Tháng 6 năm 1776, Thomas Jefferson ký tên trên bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập tại toà nhà bằng gạch ở Philadelphia.  Ðiểm chánh yếu của bản văn này nói rằng “các thuộc địa nay đưọc giải phóng và độc lập với Anh quốc.” 4-7-1776 là ngày khai sinh của quốc gia Hoa Kỳ, cũng là ngày Tuyên bố Ðộc lập bởi Quốc hội Hoa Kỳ.  Ðây là một ngày lễ trọng  đại của quốc gia để cử hành một đại lễ quan trọng.      Ngày 4-7-1776, ngày tuyên bố độc lập khỏi quyền cai trị của Anh quốc và  một nền Dân chủ được khai sinh.  Mỗi ngày có hằng nghìn người rời quê hương mình đến một vùng “đất của tự do và quê hương của dũng cảm” và rồi họ sẽ bắt đầu cho giấc mơ Hoa Kỳ. Hiệp Chủng quốc xứng danh là một quốc gia bao gồm các ngưòi có năng động tính.  Mỗi năm vào ngày 4-7, ngưòi Hoa Kỳ cử hành sự tự do và độc lập với các buổi đi chơi ngoài trời (picnic) nưóng thịt (barbecues) và gia đình xum họp với nhau.  Qua hệ thống liên mạng lưói, chúng ta học biết và tưong giao với mọi ngưòi thuộc các quốc gia khác nhau, với các ngôn ngữ khác nhau, chủng tộc khác nhau trên toàn cầu.  Mang thế giới gần lại hơn với mối cảm thông và hiểu biết …              Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ Được viết tháng 6-tháng 7, 1776 Thông qua Ngày 4 tháng 7, 1776 Nơi lưu giữ Engrossed copy: National Archives Rough draft: Thư viện Quốc hội Mỹ Tác giả Thomas Jefferson et al. Signers 56 delegates to the Đệ nhị Quốc hội Lục địa Mục đích To announce and explain separation from Great Britain[1] Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ là bản văn  chính trị tuyên bố ly khai khỏi Anh quốc ủa 13 thuộc địa Bắc Mỹ. Được tuyên bố vào ngày 4 tháng 7 năm 1776.  Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ ghi dấu ảnh hưởng của triết học Khai sáng và cả kết quả của Cách mạng Anh năm 1688. Nội dung chính của bản tuyên ngôn được dựa trên tư tưởng của một Triết gia người Anh ở thế kỷ 16, John Locke. Theo lý thuyết của John Locke, ba quyền căn bản không thể bị tước đoạt của con người là quyền được sống, được tự do và được sở hữu. Quyền sở hữu được Thomas Jefferson đề cập tới trong bản tuyên ngôn là "quyền được mưu cầu hạnh phúc". Những ý tưởng khác của John Locke cũng được Jefferson đưa vào bản tuyên ngôn như sự bình đẳng, Nhà nước hạn chế, quyền được lật đổ Chính quyền khi Chính quyền không còn phù hợp. Bản tuyên ngôn cũng vạch tội nhà cầm quyền Anh, đại diện là Vua George III, bởi chính sách thuế khóa nặng nề và tàn bạo. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập đã được thông qua trong đại hội các đại biểu của 13 Tiểu bang của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ - ngày 4 tháng 7, 1776 Trong tiến trình phát triển của nhân loại, khi một dân tộc nào đó cần thiết phải xóa bỏ những mối liên kết chính trị giữa họ với một dân tộc khác và khẳng định trước các lực lượng trên toàn cầu vị thế độc lập và bình đẳng mà các qui luật của tự nhiên và Thượng đế đã ban cho họ, thì sự tôn trọng đầy đủ đối với các quan điểm của nhân loại đòi hỏi họ phải tuyên bố những nguyên do dẫn họ đến sự biệt lập đó. Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Rằng để bảo đảm cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự thống nhất của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ. Thật vậy, sự thận trọng sẽ buộc người ta hiểu rõ rằng một chính quyền đã được thiết lập qua một thời gian dài thì không nên thay đổi chỉ vì những lý do đơn giản, nhất thời. Mọi kinh nghiệm đều đã chứng tỏ điều đó, rằng khi cái xấu còn trong chừng mực chịu đựng nổi, thì nhân loại dễ cam chịu nó, hơn là dám tự trao cho mình quyền loại bỏ những thể chế mà họ đã quen thuộc. Nhưng khi hàng loạt các hành vi lạm quyền và chiếm đoạt theo đuổi những mục tiêu giống nhau, lộ rõ ý đồ áp chế họ dưới ách chuyên quyền độc đoán, thì họ có quyền và có bổn phận phải lật đổ chính quyền đó và bổ nhiệm những chiến sĩ mới để bảo vệ nền an ninh của họ trong tương lai. Những thuộc địa này đã từng phải cắn răng chịu đựng, nhưng bây giờ đã đến lúc buộc họ phải xóa bỏ thể chế chính quyền cũ.   I pledge allegiance to the flag of the United States of America, and to the Republic for which it stands. One nation under God, indivisible, with liberty and justice for all.” Tôi hứa nguyện trung thành với quốc kỳ của Hiệp Chúng quốc Hoa Kỳ và với chính thể Cộng hòa.  Một quốc gia dưói Thiên Chúa, không chia cắt, với sự tự do và công chính cho mọi ngưòi.”   Nguyên văn bản văn Tuyên Ngôn Ðộc Lập đã được 13 Ðại biểu Quốc hội của 13 tiểu bang ký vào ngày 4-7-17-1776 The Declaration of Independence of the Thirteen Colonies In CONGRESS, July 4, 1776 The unanimous Declaration of the thirteen united States of America, The signers of the Declaration represented the new States as follows: New Hampshire: Josiah Bartlett, William Whipple, Matthew Thornton Massachusetts: John Hancock, Samual Adams, John Adams, Robert Treat Paine, Elbridge Gerry Rhode Island: Stephen Hopkins, William Ellery Connecticut: Roger Sherman, Samuel Huntington, William Williams, Oliver Wolcott New York: William Floyd, Philip Livingston, Francis Lewis, Lewis Morris New Jersey: Richard Stockton, John Witherspoon, Francis Hopkinson, John Hart, Abraham Clark Pennsylvania: Robert Morris, Benjamin Rush, Benjamin Franklin, John Morton, George Clymer, James Smith, George Taylor, James Wilson, George Ross Delaware: Caesar Rodney, George Read, Thomas McKean Maryland: Samuel Chase, William Paca, Thomas Stone, Charles Carroll of Carrollton Virginia: George Wythe, Richard Henry Lee, Thomas Jefferson, Benjamin Harrison, Thomas Nelson, Jr., Francis Lightfoot Lee, Carter Braxton North Carolina: William Hooper, Joseph Hewes, John Penn South Carolina: Edward Rutledge, Thomas Heyward, Jr., Thomas Lynch, Jr., Arthur Middleton Georgia: Button Gwinnett, Lyman Hall, George Walton     Nguyên văn bản văn Tuyên Ngôn Ðộc Lập đã được 13 Ðại biểu Quốc hội của 13 tiểu bang ký vào ngày 4-7-17-1776 The Declaration of Independence of the Thirteen Colonies In CONGRESS, July 4, 1776 The unanimous Declaration of the thirteen united States of America, The signers of the Declaration represented the new States as follows: When in the Course of human events, it becomes necessary for one people to dissolve the political bands which have connected them with another, and to assume among the powers of the earth, the separate and equal station to which the Laws of Nature and of Nature's God entitle them, a decent respect to the opinions of mankind requires that they should declare the causes which impel them to the separation. We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty, and the pursuit of Happiness. That to secure these rights, Governments are instituted among Men, deriving their just powers from the consent of the governed. That whenever any Form of Government becomes destructive of these ends, it is the Right of the People to alter or to abolish it, and to institute new Government, laying its foundation on such principles and organizing its powers in such form, as to them shall seem most likely to effect their Safety and Happiness. Prudence, indeed, will dictate that Governments long established should not be changed for light and transient causes; and accordingly, all experience hath shewn, that mankind is more disposed to suffer, while evils are sufferable than to right themselves by abolishing the forms to which they are accustomed. But when a long train of abuses and usurpations, pursuing invariably the same evinces a design to reduce them under absolute Despotism, it is their right, it is their duty, to throw off such Government, and to provide new Guards for their future security. Such has been the patient sufferance of these Colonies and such is now the necessity which constrains them to alter their former Systems of Government. The history of the present King of Great Britain [George III] is a history of repeated injuries and usurpations, all having in direct object the establishment of an absolute Tyranny over these States. To prove this, let Facts be submitted to a candid world. He has refused his Assent to Laws, the most wholesome and necessary for the public good. He has forbidden his Governors to pass Laws of immediate and pressing importance unless suspended in their operation till his Assent should be obtained, and when so suspended, he has utterly neglected to attend to them. He has refused to pass other Laws for the accommodation of large districts of people unless those people would relinquish the right of Representation in the Legislature, a right is inestimable to them and formidable to tyrants only. He has called together legislative bodies at places unusual, uncomfortable, and distant from the depository of their Records, for the sole purpose of fatiguing them into compliance with his measures. He has dissolved Representative Houses repeatedly, for opposing with manly firmness his invasions on the rights of the people. He has refused for a long time, after such dissolutions, to cause others to be elected; whereby the Legislative powers, incapable of Annihilation, have returned to the People at large for their exercise; the State remaining in the meantime exposed to all the dangers of invasion from without, and convulsions within. He has endeavored to prevent the population of these States; for that purpose obstructing the Laws for Naturalization of Foreigners; refusing to pass others to encourage their migrations hither, and raising the conditions of new Appropriations of Lands. He has obstructed the Administration of Justice, by refusing his Assent to Laws for establishing Judiciary powers. He has made Judges dependent on his Will alone, for the tenure of their offices, and the amount and payment of their salaries. He has erected a multitude of New Offices and sent hither swarms of Officers to harass our people, and eat out their substance. He has kept among us, in times of peace, Standing Armies, without the consent of our legislatures. He has affected to render the Military independent of and superior to the Civil power. He has combined with others to subject us to a jurisdiction foreign to our constitution and unacknowledged by our laws; giving his Assent to their Acts of pretended Legislation: For protecting them by a mock Trial from punishment for any Murders which they should commit on the Inhabitants of these States: For cutting off our Trade with all parts of the world: For imposing Taxes on us without our Consent: For depriving us in many cases of the benefits of Trial by Jury: For transporting us beyond Seas to be tried for pretended offences: For abolishing the free System of English Laws in a neighbouring Province, establishing therein an Arbitrary government, and enlarging its Boundaries so as to render it at once an example and fit instrument for introducing the same absolute rule into these Colonies: For taking away our Charters, abolishing our most valuable Laws and altering fundamentally the Forms of our Governments: For suspending our own Legislatures, and declaring themselves invested with power to legislate for us in all cases whatsoever. He has abdicated Government here by declaring us out of his Protection and waging War against us. He has plundered our seas, ravaged our Coasts, burnt our towns, and destroyed the lives of our people. He is at this time transporting large Armies of foreign Mercenaries to complete the works of death, desolation and tyranny, already begun with circumstances of cruelty and perfidy scarcely paralleled in the most barbarous ages, and totally unworthy the Head of a civilized nation. He has constrained our fellow Citizens taken Captive on the high Seas to bear Arms against their Country, to become the executioners of their friends and Brethren, or to fall themselves by their Hands. He has excited domestic insurrections amongst us, and has endeavored to bring on the inhabitants of our frontiers, the merciless Indian Savages, whose known rule of warfare is an undistinguished destruction of all ages, sexes and conditions. In every stage of these Oppressions, We have Petitioned for Redress in the most humble terms. Our repeated Petitions have been answered only by repeated injury. A Prince, whose character is thus marked by every act which may define a Tyrant, is unfit to be the ruler of a free people. Nor have We been wanting in attentions to our British brethren. We have warned them from time to time of attempts by their legislature to extend an unwarrantable jurisdiction over us. We have reminded them of the circumstances of our emigration and settlement here. We have appealed to their native justice and magnanimity, and we have conjured them by the ties of our common kindred to disavow these usurpations, which would inevitably interrupt our connections and correspondence. They too have been deaf to the voice of justice and of consanguinity. We must, therefore, acquiesce in the necessity, which denounces our Separation, and hold them, as we hold the rest of mankind, Enemies in War, in Peace Friends. We, therefore, the Representatives of the United States of America, in General Congress, Assembled, appealing to the Supreme Judge of the world for the rectitude of our intentions, do, in the Name, and by the authority of the good People of these Colonies, solemnly publish and declare. That these United Colonies are, and of Right ought to be Free and Independent States; that they are Absolved from all Allegiance to the British Crown, and that all political connection between them and the State of Great Britain is and ought to be totally dissolved; and that as Free and Independent States, they have full Power to levy War, conclude Peace, contract Alliances, establish Commerce, and to do all other Acts and Things which the Independent States may of right do. And for the support of this Declaration, with a firm reliance on the protection of Divine Providence, we mutually pledge to each other our Lives, our Fortunes, and our sacred Honor.  

  • 0 Ngày Hiền Mẫu

                                                                   NGÀY HIỀN MẪU Nguyên thủy của ngày Hiền mẫu khởi từ hoạt động xã hội của Bà Julia Ward Howe trong cuộc nội chiến Hoa kỳ, bà đứng lên kêu gọi các phụ nữ  chống lại chiến tranh.  Bà viết bản tuyên ngôn về ngày của các bà mẹ.    Thời nay, ngày của hiền mẫu chỉ còn đơn giản là tình mẫu tử và biết ơn các bà mẹ.  Các bà mẹ thường nhận được các món quà trong ngày này.   Nhân Ngày Hiền Mẫu 14-5-2006, qua các cuộc thăm dò của Hiệp Hội Bán Lẻ Hoa Kỳ (NRF) và BiGresearch, cho thấy dân chúng Hoa Kỳ sẽ chi tiêu chung đến khoảng 13.8 tỷ đô la, sau khi mỗi người sẽ chi tiêu trung bình là 122.16 đô la cho dịp quan trọng này, tăng từ mức 104.63 đô la so với  năm vừa qua.   Cuộc thăm dò này cũng cho thấy rằng giá xăng tăng cao cũng không hề ảnh hưởng gì đến việc chi tiêu trong Ngày Hiền Mẫu này, chẳng hạn như mua các loại nữ trang, kể cả hột xoàn, tặng mẹ sẽ tăng lên chung đến 2.1 tỷ đô la, so với 1.7 tỉ đô la năm 2005. Ðưa mẹ đi chơi hay ăn tối nhân Ngày Hiền Mẫu sẽ chi tiêu chung đến 2.8 tỉ đô la, tăng từ mức 2.2 tỉ đô la so với năm qua... Các chi tiêu khác cho mẹ trong Ngày Hiền Mẫu này, sẽ là mua hoa (67.6%), mua thiệp (85.4%), mua phiếu đổi quà (31.9%), mua dụng cụ, máy móc điện tử (6.7%), mua sách,CD và DVD (25.8%)... Mặc dù là Ngày Hiền Mẫu, nhưng không chỉ có mẹ được vinh danh trong ngày này, mà người vợ cũng được hưởng... ké (20.7%), con gái (9.1%), bà nội, ngoại (8.5%), chị, em gái (7.0%), bạn gái (7.0%), và các thân nhân khác (12.3%)... chính vì vậy phía nam giới sẽ chi tiêu trung bình đến 148.51 đô la, còn nữ giới chi tiêu trung bình 97.72 đô la trong ngày này mà thôi. (L.T.) Từ rất lâu, người dân Phương Tây có truyền thống mừng ngày hiền mẫu. Theo lịch sử, thời cổ đại Hi Lạp, tục lệ vinh danh người mẹ được xem như là một tục lệ sớm sủa nhất. Vào thời đó, người dân cổ đại Hi Lạp vinh danh nữ thần Rhea, được gọi là mẹ của các vị thần. Người La mã cổ đại thì có tục lệ vinh danh Cybele, người mẹ của tất cả các vị thần. Và trong lễ vinh danh, người ta xưng tụng người mẹ của tất cả chư thần là Hilaria.  Đối với người Hoa Kỳ, Ngày Lễ Mẹ hay ngày Hiền Mẫu (Mother’s Day) là một ngày lễ chính thức của đất nước này từ năm 1914, và người có công trong việc tạo ra ngày lễ này là bà Anna Jarvis. Trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ, mẹ của bà Anna Jarvis là bà Anna Maria Reeves Jarvis từng là một nhà hoạt động xã hội và 8 trong số 12 con yêu quí của bà đã hi sinh trong cuộc chiến này, trước khi họ đến tuổi trưởng thành. Khi người mẹ của bà Anna Jarvis mất vào năm 1905, bà đã quyết định dùng cuộc đời của mình để tôn vinh mẹ. Sự tận hiến cho công việc vinh danh mẹ của bà Anna Jarvis đã có kết quả cuối cùng: Vào năm 1910, thống đốc của tiểu bang West Virginia đã chính thức công nhận Ngày Vinh Danh Các Người Mẹ (Mother’s Day) là ngày lễ chính thức của tiểu bang vào ngày Chúa nhật thứ hai của tháng 5. Một năm sau, năm 1911, tất cả các tiểu bang Hoa Kỳ theo gương của tiểu bang West Virginia: Đều đồng loạt chọn ngày Chúa nhật tuần thứ hai của tháng 5 là ngày Vinh Danh Mẹ và đến năm 1914, chính Tổng thống Woodrow Wilson đã ký một đạo luật công nhận ngày Mother’s Day là một ngày lễ chính thức của quốc gia Hoa Kỳ. Và từ đó, chúng ta có ngày Mother’s Day cho đến hôm nay. Người Mẹ Hoa Kỳ thích gì trong ngày Mother’s Day? Theo thăm dò dư luận được công bố vào ngày 10 tháng 5, 2006, thì 62% người Mỹ có ý định mời mẹ ra ngoài nhà hàng dùng tiệc vinh danh mẹ. Có 59% sẽ đãi mẹ vào bửa ăn tối, 51% mời mẹ ăn trưa và 22% mời mẹ ăn sáng. Theo thăm dò dư luận, giới trẻ thích mời mẹ ra ngoài ăn tiệc mừng ngày Hiền Mẫu hơn là người lớn tuổi. Gia đình đông người (3 hay nhiều người hơn) thích mời mẹ đi ăn ngoài hơn là gia đình ít người, với tỉ lệ là 67% so với 41%. Ước đoán trung bình, mỗi người Mỹ chi tiêu trung bình 120 Mỹ kim cho ngày hiền mẫu. Người Việt Nam tại Mỹ đã hân hoan đón nhận ngày hiền mẫu vì truyền thống lâu đời của người Việt là lòng hiếu hạnh như câu ca dao: Trai thời trung hiếu làm đầu, Gái thời tiết hạnh là câu trau mình… Các nhà hàng Việt Nam Nam tại Mỹ tổ chức khá rình rang việc đón khách trong ngày hiền mẫu như tặng các người mẹ lọ hoa, bánh hay chè để cùng chung vui với các gia đình trong ngày hiền mẫu mà năm nay nhằm ngày 10 tháng 5.    

  • 0 Ca Khúc "Chúa Nguồn Cậy Trông" Hoàng Long Trình Bày

    Ca khúc "Chúa Nguồn Cậy Trông" Nhạc Hoa Kỳ "The End of the World" được nữ Nhạc sĩ Linh Phương viết Lời Việt do Hoàng Long trình bày với tiếng đàn của Dương cầm thủ Linh Phương tại Đài ABTV 15.2 trong Mùa Lễ Chúa Phục sinh 2020.   

  • 0 Ca Khúc "Con Về Nhà Chúa" - Ca sĩ Kim Phượng Trình Bày

    Ca Khúc "Con VềNhà Chúa” một sáng tác của  nữ Nhạc sĩ Linh Phương được Ca sĩ Kim Phượng trình bày trong Chủ Đề 2 "Đức Jesus Sống Lại Vinh Quang” do Hội Thánh Tin Lành Lutheran thực hiện tại Đài ABTV 15.2 trong Mùa Chúa Phục Sinh 2020                                        

  • 0 Ca Khúc "Khi Chúa Yên Lặng Nhìn" - Võ Bảo và Ngọc Trình Bày

    Ca Khúc “Khi Chúa Yên Lặng Nhìn” một sáng tác của Vũ Đức Nghiêm được Võ Bảo và Ngọc trình bày