• 0 CON TÀU ĐỊNH MỆNH TITANIC- Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    Đầu thế kỷ XX,  một sự việc đã xảy ra chấn động trên thế giới, đặc biệt có liên quan đến hai quốc gia Anh và Hoa Kỳ.  Trên toàn cầu có bảy kỳ quan và con tàu vĩ đại mang tên Titanic đã được xem là kỳ quan thứ tám cách đây 100 năm.  Để hình dung con tàu khổng lồ Titanic này, quí vị nhìn chiều cao của tàu như một building cao 10 tầng,  175 feet hay 53.3 m.  Chiều rộng của tàu 240 feet, chiều dài 883 feet hay 269 m tương đương với 4 blocks đường tại downtown.  Tàu có sức chuyên chở 2,435 hành khách cộng thêm 392 thủy thủ đoàn và nhân viên.  Trọng tải của tàu 52,310 tấn.  Thời gian đóng tàu kéo dài suốt 3 năm với tổng số nhân công là 14,000  thuộc công ty Hartland & Wolf, Belfast do nhà thiết kế Thomas Andrews đảm trách.  Tổn phí hoàn thành với một kinh phí kếch xù là 7,500,00 Anh kim vào thời kỳ hơn 100 năm trước đây. Ngày 31-3-1911, trước số lượng 100,000 người hân hoan chứng kiến tận mắt kỳ quan thứ 8 của thế giới, Tập đoàn White Star Line đã hoàn thành con tầu RMS Titanic và chủ nhân công ty đã hãnh diện tuyên bố trước giới truyền thông Luân đôn như sau:  “Tàu Titanic không thể nào bị chìm!” Tàu Titanic đã được thiết kế 7 tầng.  Tầng thượng hạng dành cho giới thượng lưu, quí phái, triệu phú.  Tại tầng này có sân chơi quần vợt, phòng tập thể dục, phòng tiếp tân dạ vũ lộng lẫy, có thư viện và nhà hàng thượng hạng.  Cho đến năm 1911, tàu Titanic đã được xem là một kỳ công của con người. Buổi trưa ngày  10-4-1911, tàu Titanic với 2,223 người gồm các hành khách, thủy thủ đoàn và các nhân viên phục vụ trên tàu Titanic đã rời Hải cảng  Southhampton, Anh quốc khởi đầu cuộc hải hành đầu tiên để đến Hải cảng New York City, Hoa Kỳ.   Tại tầng thượng hạng, các du khách là những khuôn mặt của giới quí tộc, thượng lưu, giầu có của Anh và Mỹ quốc.  Họ là những vương tôn, bá tước, công tử, chủ nhân ngân hàng Philadelphia, các kịch sĩ của sân khấu Broadway, New York, là điêu khắc gia, họa sư nổi danh, bác sĩ y khoa. Thuyền trưởng Edward J. Smith, 59 tuổi đã có bề dày 38 kinh nghiệm hải hành.  Tổng số kim cương, hiện kim, vàng bạc nữ trang cộng lại trên 250,000 Mỹ kim thời bấy giờ.  Tàu Titanic chạy suốt ba ngày đầu trên Bắc Đại Tây dương thì không có vấn đề gì xảy ra.  Khoảng 11:40 đêm 14-4-1911 thì tàu va chạm phải khối băng giá khổng lồ.  Trước đây, Công ty White Star Line đã hãnh diện tuyên bố rằng “Tàu Titanic sẽ không bao giờ chìm!”  Giờ đây, con tàu vĩ đại này trở thành một khối sắt vĩ đại đắm mình trong lòng đại dương, hơn hai nghìn hành khách với nỗi kinh hoàng, hãi hùng  kề cận với tử thần.  Chỉ không đầy nửa giờ ngắn ngủi, nước biển tràn vào thân tàu, vì tảng băng giá đã chọc thủng vỏ tàu bằng kim loại. 12:45am, những chiếc thuyền nhỏ cứu sinh (live boat) được thả xuống, những phụ nữ, trẻ em được thuyền trưởng ra lệnh cho xuống trước. 1:30am, tín hiệu SOS từ tàu Titanic đã được gửi đi trong đêm khuya: “Tàu chúng tôi đang bị đắm nhanh!”   Lúc 2:30 sáng, tàu Titanic bị vỡ làm hai, một phân nửa tàu với 1,500 hành khách dần dần chìm xuống lòng đại dương.  Tàu Titanic chỉ có 65 thuyền cứu sinh nhỏ, tai họa xảy đến đã được xem là một tấn thảm kịch lớn nhất trong ngành hàng hải quốc tế. 8:30am ngày hôm ấy, những người sống sót ngồi trong thuyền cứu sinh trôi lênh đênh trên biển cả.  Sau nhiều giờ dài dằng dặc suốt cả đêm bị lạnh buốt và cho đến giờ phút ấy, số người này đã được thuyền trưởng của Thương thuyền Carpathia đến cứu vớt và tất cả các hành khách lần lượt được cứu mạng.  Tổng số người được cứu sống là 705 người. Đọc về câu chuyện Tàu Titanic, tôi nhận ra rằng các điều sau đây: Con người từ cổ chí kim, trải qua mọi thời đại luôn luôn tự phụ kiêu hãnh về tài năng của mình. Trong Thánh Kinh, sách Sáng.  11: 1-9 đã ghi lại câu chuyện sau đây:  “Bấy giờ cả thế giới chỉ có một ngôn ngữ, và cùng một thứ tiếng.  Khi đi về phương đông, người ta gặp một thung lũng bằng phẳng trong xứ Si-na nên định cư ở đấy.  Họ rủ người lân cận: "Nào, ta hãy làm gạch và lấy lửa nung cho chín!" Lúc đó, người ta dùng gạch thay cho đá và nhựa chai thay vôi hồ. Họ lại nói: "Nào, chúng ta hãy xây một thành và một ngôi tháp ngọn cao tận trời. Chúng ta hãy lưu danh mình kẻo bị tản lạc khắp mặt đất!"  THIÊN CHÚA ngự xuống quan sát thành và ngôi tháp các con cái loài người đang xây cất.  THIÊN CHÚA phán: "Kìa, toàn thể loài người chỉ có một dân tộc, một ngôn ngữ. Kìa chúng đang khởi công làm việc này, nay không còn gì ngăn cản chúng làm mọi điều chúng hoạch định nữa.  Nào, Chúng Ta hãy xuống xáo trộn ngôn ngữ của chúng, làm chúng không thể nào hiểu tiếng nói của nhau được."  THIÊN CHÚA phân tán loài người từ nơi đó ra khắp mặt đất, và họ ngưng xây cất thành này.  Vì thế, thành ấy mang tên là Ba-bên, vì tại đấy THIÊN CHÚA làm xáo trộn ngôn ngữ cả thế giới và Ngài phân tán họ ra khắp mặt đất.” Con người trong thời tối thượng cổ 4,000 năm trước Công nguyên đã họp nhau và hoạch định  xây một tháp cao tầng.  Họ là những kiến trúc sư tài ba, là những tay thiết kế lỗi lạc.  Từ trên cao, Thiên Chúa đã nhìn thấy công trình của họ  Ngài bèn ra tay hành động  bằng cách “làm xáo trộn ngôn ngữ” để họ không thể hiểu nhau.  Thế là công trình kiến trúc phải bỏ dỡ nửa chừng và bất thành. Trở lại câu chuyện Tầu Titanic, đầu thế kỷ XX, con người tài ba đã tự hào về tài năng qua công trình xây Tàu Titanic thật vĩ đại nhưng rồi cũng không qua khỏi bàn tay tể trị của Thiên Chúa Tối cao.  Những khối băng giá giữa biển cả đã đâm thủng vỏ tầu Titanic và cắt đôi con tàu sắt vĩ đại nói trên.   Khi Tàu Titanic đang chìm dần xuống lòng đại dương thì mọi hành khách gồm giới bình dân lẫn thượng lưu đều có tâm trạng giống nhau: họ đều đối mặt với thần chết, tất cả đều kinh hoàng như nhau và ai ai cũng đều mong ước có người ra tay cứu vớt họ thoát cảnh chết trong lòng biển. Thưa quí vị: Đời người được ví sánh sống trong bể khổ trầm luân, chúng sinh trong trần thế thật khổ ải, nước mắt chảy ra đầy tràn như nước bể cả.  Chúng sinh muốn thoát ra khỏi bể khổ ải bằng phương cách tự cứu như tu thân tích đức, làm lành lánh dữ  để mong được sự cứu rỗi qua việc làm thiện lành của mình.  Tuy nhiên, tất cả những cách thức này đều vô vọng, giống như các hành khách trên Tàu Titanic:  có người cậy vào sức khỏe, từ Tàu Titanic, họ phóng mình xuống biển và bơi nhưng chỉ 10, 20 phút sau,  vì nước biển quá lạnh -2 độ Centigrade và cũng vì đuối sức, thân thể anh ta dần dần chìm xuống giữa lòng biển khơi.  Có những người khác được có phao cứu sinh thì bơi trong bể cả, nhưng vì nước lạnh quá, trải qua nhiều giờ trong biển rồi lưỡi hái tử thần cũng đến.  Một số người khác ngồi trên các các thuyền cứu sinh trôi lênh đênh trên đại dương, họ hứng  chịu những cơn gió lạnh thổi qua thấu xương, chịu đói chịu khát từ 1 giờ khuya đến 9 giờ sáng ...   Khi tàu Titanic lâm nạn thì  tàu Carpithia cách xa đến 57 hải lý.  Khi tín hiệu cấp cứu Morse SOS vang lên thì Tàu Carpithia phải xả tốc lực 14 hải lý cho mỗi giờ. Khi  Thương thuyền Carpithia cứu mạng đến,  Thuyền trưởng Arthur H. Rostron ra lệnh cho thủy thủ đoàn cứu vớt họ từ các thuyền cứu sinh rồi mang từng người một lên trên chiếc tầu to lớn hơn.  Nơi ấy, họ được cho mặc áo quần ấm, quấn chăn mền, được cho ăn súp nóng, uống cà phê, trà bánh, sữa..    Ngày nay, có nhiều người cố công  tìm mọi phương tiện, có người phải bỏ ra tiền bạc để mua sự cứu rỗi, có người cố công ra sức, bôn ba tự cứu, tự giải thoát bằng những phương cách khổ tu diệt dục để mong đạt cứu ân.  Tuy nhiên, trước mắt Thiên Chúa là Đấng Tối Cao là Đấng Sáng tạo vũ trụ là Đấng tạo sinh con người thì mọi phương cách của con người đều bất lực vô phương tự cứu tương tự như các hành khách của chuyến tàu định mệnh Titanic.  Phải có một vị thuyền trưởng nhân ái, phải có một đoàn thủy thủ hùng hậu ra tay cứu vớt những người đang trôi lênh đênh trên biển cả.  Nếu những hành khách này không gặp được Thương thuyền Carpathia thì số phận họ cũng giống như hằng trăm nghìn thuyền nhân người Việt sau năm 1975 đã mất mạng sống trên biển cả khi họ đi tìm sự tự do tại một quốc gia thứ ba.  Không một ai có thể tự cứu lấy mạng sống mình trên biển cả sau khi bị phong ba bảo tố thổi bay hết thực phẩm, nước uống, họ bị đói khát dưới sức nóng như thiêu nhiều ngày, nhiều tuần lễ  dù  có nhiều thương thuyền đã đi qua  nhưng  không dừng lại. Trong câu chuyện Tàu Titanic, chúng ta thấy hình ảnh của vị Thuyền trưởng nhân ái Arthur H. Rostron của Tàu Carpithia.  Ông sẵn sàng đón tiếp các hành khách sống sót của tàu Titanic lên tàu Carpithia.   Ông không cưỡng bách một ai phải lên tàu Carpithia, và dĩ nhiên nếu có một ai nào đó từ chối lòng tốt của vị thuyền trưởng nói trên thì họ sẽ đón nhận cái chết đến với mình mà thôi.   Tấm lòng vị tha của Thuyền trưởng Arthur H. Rostron rất tỏ tường, các hành khách chỉ cần đưa đôi tay tiếp nhận ơn cứu sinh của thuyền trưởng thì được các thủy thủ cứu thoát khỏi cái chết trên biển cả. Trong các câu chuyện thật kể lại và Hollywood đã thực hiện phim ảnh ghi lại các hình ảnh thật sự cảm động:  những khuôn mặt đầy nét mừng rỡ, hân hoan vì họ nghĩ mình phải chết mất  nay được sống mà không phải mất tiền bạc nữ trang  để mua. Trước cảnh trạng nhân loại đang trổi nổi trên bể khơi của trần gian để rồi cuối cùng lâm cảnh hư vong.   Thiên Chúa từ trời cao đã thương yêu nhân loại đến độ  ban cho Con Duy Nhất làm  phương cách cứu sinh:  Giê-xu từ trời giáng thế và Ngài nhập thể trở thành người để thi hành kế hoạch cứu ân cho nhân loại.  Để “ai tin đến Danh Giê-xu thì được sự sống vĩnh phúc.”  Phúc âm Giăng 3: 16. Câu chuyện Chúa Ngôi Hai – Đức Giê-xu nhập thế là câu chuyện tình yêu Thiên Chúa đối với con người hư vong.  Sự cứu rỗi của Thiên Chúa là món quà tặng vô giá ban cho con người.  Để được thoát khỏi cảnh chết trầm luân nơi biển đời, con người chỉ cần đưa ra đôi tay để tiếp nhận món quà ấy để được Thiên Chúa tha thứ tội lỗi và linh hồn được sống nơi vĩnh phúc...  Amen  

  • 0 Tự Do Trong Chúa Hay Bản Hiến Chương Cơ Ðốc Giáo - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    Ðọc Kinh Văn:  Ga-la-ti 5: 1-12 Câu Gốc: Ga-la-ti 5:1   “Ðấng Ki-tô đã giải thoát  chúng ta để chúng ta được tự do nên hãy vững mạnh.  Ðừng mang ách nô lệ dưới luật pháp nữa.”     Bản Tuyên ngôn Ðộc lập của Hoa kỳ đã được soạn thảo bởi Thomas Jefferson gồm có các điều khoản chống lại chế độ thống trị của Anh quốc, mọi kiểm soát về kinh tế, thương mại và chính trị do Hoàng đế George III đặt để trên 13 tiểu bang thuộc địa của Anh quốc.  Bản dự thảo này đã được các vị Benjamin Franklin, John Adam hiệu đính ngày 28-6-1776 và đem trình bày trưóc Quốc hội Hoa kỳ ngày 2-7-1776.   Quốc hội Hoa kỳ họp tại Philadelphia chấp thuận bản Tuyên ngôn Ðộc lập vào ngày 4-7-1776.  Bản Tuyên ngôn Ðộc lập này có câu:  “Mọi ngưòi đều bình đẳng dưới Ðấng Tạo hóa ban cho có quyền sống, tự do và đeo đuổi hạnh phúc…”   Tuyên ngôn Ðộc lập ngày 4-7-1776 công bố cho dân  chúng trong 13 thuộc địa được tự do, độc lập.   Tự do là gì?  Muốn hiểu rõ ý nghĩa của sự tự do thì những ai đã từng sống trong cảnh “cá chậu chim lồng” hẵn tất nhiên hiểu rất rõ của từ ngữ này!  Những ai đã từng sống bên trong hàng song sắt  hay cánh cửa của nhà tù thì hẵn biết nỗi ao ưóc khát khao được hít thở không khí tự do ở bên ngoài ngục tù là như thế nào! Như cá thèm được tung tăng bơi lội trong giòng sông, như chim mặc sức cất cánh bay trong không gian bao la.  Ðó là tự do!   “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” nói đến tâm trạng của ngưòi bị giam cầm trong ngục tù một ngày mà  như là một nghìn mùa thu dài ngoài kia.  Tự do thật cao quí mà mọi ngưòi đều khát khao, nhất là đối với các dân tộc bị thống trị bởi các thế lực ngoại bang.  Trong lịch sử của nhân loại, chúng ta đọc được nhiều thiên anh hùng ca do các anh hùng liệt sĩ hi sinh và đứng lên khởi nghĩa làm các cuộc kháng chiến cách mạng  hầu dành được sự độc lập tự do cho dân tộc mình.   Trong thế kỷ XX đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giải phóng chống lại các đế quốc và chủ nghĩa thực dân .  “Một nghìn năm nô lệ giặc Tầu, một trăm năm nô lệ giặc Tây”  (lời của Trịnh Công Sơn)  nói lên thảm trạng của dân Việt sống trong thân phận nô lệ đau khổ.   Trên bình diện tâm linh, nhân loại đã không chỉ bị làm nô lệ dưói ách thống trị của Satan một trăm năm hay một nghìn năm, nhưng từ buổi sáng thế!  Ðấng Giê-xu Ki-tô từ ngôi Trời cao đã vào cuộc đời này để giải phóng con ngưòi thoát khỏi ách kềm kẹp của Satan qua sự hi sinh chính sinh mệnh của Ngài tại Thập tự giá.  Chính huyết báu của Chúa Ngôi Hai có năng lực để ban cho con ngưòi ơn tha thứ.  Qua sự phục sinh vinh hiển, Ngài đã chiến thắng vẻ vang trên sự chết và Satan. Giê-xu Ki-tô đã thật sự giải phóng nhân loại và ban sự tự do cho những ai tin nhận Ngài làm Cứu-Chúa của đời mình.      Thư Ga-la-ti chương 5 đã được xem là Bản Hiến Chương của Ki-tô giáo  tuyên bố nguời Do-thái nói riêng và tất cả con dân Chúa được giải phóng khỏi sự trói buộc của Kinh luật Môi se suốt hằng thế kỷ dài, vì khi Ðấng Ki-tô vào đời, Ngài đã ban cho họ sự tự do trong Chúa bởi ân phúc.  Từ ngữ “giải phóng”  (to liberate)  nói đến sự giải cứu và phóng thích.   Một ngưòi đang bị tù tội trong gông cùm xiềng xích, nhưng được một người có quyền lực mạnh mẽ (powerful) đến và phá tan xiềng xích để giải cứu anh ta ra khỏi ngục tù.   Chúa Giê-xu Ki-tô là Ðấng Giải phóng thật và có quyền lực vô song để giải cứu con ngưòi.   Các tân tín hữu tại Hội thánh Ga-la-ti được tự do trong Chúa, nhưng họ không thể sống vô luật.  Khi còn là người nô lệ, ngưòi ấy không thể là chủ nhân, vì mọi hành động của họ bị canh giữ, quan sát bởi ngưòi chủ của mình.  Sau khi được giải phóng khỏi Kinh luật Môi-se, ngưòi ấy sống trong tự do, và ân phúc Chúa ban cho như món quà tặng, giờ đây ngưòi ấy bước đi trong sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh.    Có một câu chuyện đã được kể lại rằng sau khi nghe Phúc âm, một người trưóc kia sống la cà nơi các quán rượu và  sòng bài, theo các bạn bè xấu làm những việc tồi tệ, tống tiền giựt dọc, tuy nhiên, sau khi anh trở nên con của Chúa thì nếp sống cũ kỹ đã được Chúa Thánh Linh biến đổi 180 o.  Các bè bạn cũ nhìn anh với vẻ thương hại: -  “Sao anh cứ đọc Thánh Kinh, đi nhà thờ, thật là chán quá!“  Họ muốn nói rằng anh sống thì cứ hưởng thụ, dù cho sống bê tha trụy lạc, bỏ bê vợ con nheo nhóc, mà đời sống “tứ đổ tường” thì “vũ như cẫn” (vẫn như cũ)…   Anh ôn tồn nói với số bè bạn rằng “Các bạn ơi!  Trưóc kia tôi là nô lệ của Satan, tôi đã từng sống khổ sở dưới sự kềm kẹp của ma quỉ để làm các điều tồi tệ.  Cảm tạ Chúa, Ngài đã giải phóng tôi khỏi nếp sống cũ kỷ, giờ đây tôi trở nên con Chúa, hằng ngày tôi bước đi theo sự hưóng dẫn của Chúa Thánh Linh, tôi có Lời Chúa là kim  chỉ nam trong nếp sống đạo.  Giờ đây, tôi không thấy thú vị khi hút xách, cờ bạc, rượu chè be bét như ngày xưa. Các bạn ơi !  Tôi muốn uống rượu, bài bạc hay trộm cắp bất cứ lúc nào tôi muốn… nhưng nay tôi sống không phải là tôi sống nữa, vì Chúa sống trong tôi.  Chúa đã cất lấy những cái “tôi muốn” đó cả rồi!”  Thưa quí vị! Sau khi chúng ta đã được Chúa giải phóng, nay được tự do trong Chúa, nhưng không có nghĩa là chúng ta lạm dụng sự tự do để làm mọi điều đâu, và nhất là chúng ta không quay trở về nếp sống cũ như xưa nữa!        Các tín hữu Do-thái tại Hội thánh Ga-la-ti đã gặp nan đề:  sau khi tin Chúa  họ bị các giáo sư giả len lõi vào bên trong Hội thánh và rỉ tai tuyên truyền rằng chỉ tin vào Chúa không chưa đủ,  họ phải vâng giữ mọi Kinh luật của Môi-se…  Tin tức này đến tai Phao-lô, là một cha thuộc linh, ông yêu thưong các tín hữu tại Ga-la-ti.  Nhờ ơn Chúa Thánh-linh, ông đã viết bức thư Ga-la-ti để khuyên nhủ các con thuộc linh của mình qua thư Ga-la-ti.   Phao-lô khích lệ họ hãy vững vàng trong niềm tin, đừng thối lui mà             quay trở về với ách nặng nề của Kinh luật Môi-se  để vâng giữ các điều luật quá ư nặng nề khắt khe mà họ không thể nào vâng giữ trọn vẹn, nếu họ có giữ mọi Kinh luật đến 99% mà có 1% không giữ được thì cũng hõng cả thôi!    Sau thế chiến II, Hitler và quân Ðức quốc xã bại trận và bị chia đôi:   Ðông Ðức bị chế độ độc tài Cọng sản vô thần cai trị nhưng dân Tây Ðức thì sống dưới chính thể dân chủ tự do.  Một bức tường  ô nhục đã được chánh quyền Ðông Ðức dựng lên để ngăn chận các làn sóng dân Ðông Ðức đi tìm tự do bên Tây Ðức.  Có người đã cố bơi qua dòng sông giữa mùa Ðông lạnh lẽo.  Có nhiều ngưòi đã vượt leo lên bức tường ngăn cách để qua phần lãnh thổ Tây Ðức và họ đã bị các toán lính canh Ðông Ðức nổ súng bắn tử thương.  Lại có ngưòi tổ chức vượt thoát bằng khinh khí cầu, lần thứ nhất bị thất bại, họ vẫn không nãn chí, họ tổ chức lần nhì thì thành công.    Sau đây là câu chuyện thật trong tác phẩm “Berlin Tunnel 21” kể lại câu chuyện các ngưòi dân tại Ðông Ðức đi tìm tự do.  Tác phẩm  này kể lại rằng có các gia đình sống dưói chế độ độc tài Cọng sản vô thần tại Ðông Ðức tổ chức vượt thoát bằng cách đào đưòng hầm xuyên qua ranh giới của bức tưòng ô nhục và trổ lên tại phần đất Tây Ðức tự do.  Trải qua nhiều tháng dài, các ngưòi nam và nữ, khi đêm đến họ xuống basement và bắt đầu đào con đưòng hầm, có toán ngưòi đào đất để làm con đưòng hầm  thì có các toán khác chuyển đất và mang đất đi đổ ở một nơi thật xa phía trên.   Họ đã làm công việc này trong điều kiện khó khăn và gian khổ, đôi khi đất phía trên của đưòng hầm bị sụp và ống nước bị vở tạo nên bùn lầy, khiến cho công tác đào đưòng hầm rất vất vả.  Thế rồi, cả năm sau, đường hầm này được hoàn tất.  Họ chia ra làm hai toán gồm có ngưòi lớn và trẻ em, mỗi toán do một ngưòi can đảm biết rõ đưòng đi nước bước và họ hẹn gặp nhau tại một tụ điểm ở phần đất tự do Tây Ðức.    Trong chuyến vượt thoát này cũng chẳng phải là hanh thông, bởi vì khi đoàn ngưòi đi trong đêm tối họ đã bị  tường đất đổ xuống đè chết một vài ngưòi.  Sau những giờ phút căng thẳng, hồi hộp nghẹt thở vì e sợ các toán lính canh Ðông Ðức phác giác thì mạng sống họ như “chỉ mành treo chưông.”  Các toán ngưòi đi tìm tự do cuối cùng đi xong con đường hầm dẫn đến một toà nhà phía trên thuộc vùng đất tự do Tây Ðức.   Bấy giờ, tất cả mọi ngưòi đều thở phào nhẹ nhõm, vì biết rằng giờ đây họ đang ở trong lãnh địa Tây Ðức.  Họ thật sự được hít hở không khí tự do.   Tất cả mọi ngưòi dân Ðông Ðức này không có một ai có lòng muốn quay trở về lại phần đất Ðông Ðức nữa!                                                                                                                                                                                                                                                                                   

  • 0 ĐẤNG GIẢI PHÓNG THẬT - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    “Đức Giê-su liền bảo những người Do Thái vừa tin theo Ngài rằng: "Nếu các ông kiên trì trong đạo Ta dạy thì các ông mới thật là môn đệ của Ta. 32 Các ông sẽ hiểu biết chân lý và chính chân lý đó sẽ giải phóng các ông!" 33 Họ gạn hỏi Ngài: "Chúng tôi là dòng giống Áp-ra-ham, chưa từng làm nô lệ ai, sao Thầy lại bảo chúng tôi sẽ được giải phóng?" 34 Đức Giê-su đáp lại: "Thật vậy, Ta bảo các ông: Người nào phạm tội là nô lệ cho tội lỗi. 35 Làm thân nô lệ thì không ở đời trong nhà, làm con mới được ở luôn! 36 Vậy, nếu Đức Con giải phóng các người, thì các ông mới thật sự được tự do.   GA-LA-TI 5:1 “1 Vì tự do mà Chúa Cứu Thế đã giải thoát chúng ta. Vậy anh chị em hãy đứng vững, đừng mang lấy ách nô lệ một lần nữa”   Thưa quí vị: Hằng năm tại Hoa Kỳ, đến ngày 4 tháng 7, dân tộc Hiệp Chủng Quốc  chào đón và cử hành lễ Độc Lập vô cùng trọng đại hơn hết để đánh dấu bản Tuyên ngôn Độc Lập năm 1776 mà  người Mỹ đã thắng trong cuộc chiến đầu tiên dành độc lập khỏi quyền cai trị của Vương quốc Anh.  Đây là một đại lễ Liên bang, buổi sáng  với những tiết mục thờ phượng, cầu nguyện Thiên Chúa tại các nhà thờ, có những cuộc diễn hành, lễ duyệt binh, cộng đồng có các picnics BBQ,  các trận đấu banh baseball, những hội chợ, các gia đình đoàn tụ, những chính trị gia đọc diễn từ... Về đêm thì có các lễ hội ca nhạc hòa tấu, đốt pháo bông.  Ngày 2-7-1776, Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận  giải pháp do Richard Henry đệ trình tuyên bố 13 thuộc địa Anh được độc lập khỏi quyền cai trị của Đế quốc Anh.  Ngày 4-7-1776, Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận Bản Tuyên Ngôn Độc Lập về quyền sống của con người được sinh ra là tự do, con người bình đẳng và độc lập trong lãnh thổ do chánh quyền Anh cai trị. Cuộc chiến dành độc lập nói trên đã được tướng George Washington lãnh đạo vào tháng 4, 1775 đứng lên chống lại quyền thống trị của Vương quốc Anh.   Tháng 6, 1776, Thomas Jefferson ký tên trên bản Tuyên Ngôn Độc Lập tại một tòa nhà bằng gạch ở thành phố Philadelphia, Pennsylvinia. Nội dung của Bản Tuyên Ngôn  nói rằng “13 thuộc địa nay được giải phóng và độc lập.” Thưa quí vị: Nhiều năm trước đây, băng tần TV NBC tại Hoa Kỳ đã cho trình chiếu một loạt chương trình tài liệu liên tục phát hình trong ba đêm với đề tài: “Tranh Đấu Chống Chế Độ Nô Lệ” (The Fight Against Slavery ) thực hiện từ một tác phẩm của Nhà văn Evans Jones, người Jamaica gốc da đen Phi Châu, ông là giáo sư dạy tại Viện Đại học George School Pennsylvania và Đại học Wesleyan, Connecticut.  Ông đã nghiên cứu và viết lại câu chuyện thật đã xảy ra vào khoảng năm 1750. Thời ấy, có những nhóm người da trắng Anh, Mỹ giầu  tổ chức buôn người người. Họ mở ra những chuyến đi đến vùng đất Phi châu da đen với các toán người mang theo vũ khí đến các làng mạc để vây và bắt đi những người trai trẻ khỏe mạnh đưa lên thương thuyền về Anh quốc.  Năm 1620, có những chuyến thương thuyền từ Anh mang những người da đen này đến 13 thuộc địa của Anh quốc tại vùng Đông Bắc Hoa Kỳ ..  Chế độ nô lệ trở thành hợp pháp từ đấy cho đến ngày cố TT Washington tuyên bố ngày lễ Độc lập Hoa Kỳ ngày 4-7-1776.  Vô số những chuyến tầu chuyên chở  tổng cộng 305,326  người nô lệ từ năm 1620 -1866. Những người Mỹ gốc da đen có tổ tiên là người gốc Phi châu sống tại những vùng đất Gabon, Côte D’Ivoire.  Những người da đen này đóng khố, sống trong các bộ lạc tại các vùng đất rừng núi... Thế rồi những tay săn người với vũ khí ào ạt đến các làng mạc bao vây tấn công và bắt đi những thanh niên, trẻ em... Họ bị đóng dấu trên thân thể.  Nhiều năm trước, nhật báo Houston Chronicle có đăng tải câu chuyện về một người da đen sống trên trăm tuổi tại một nông trại, nguyên là người Phi châu da đen đã bị bắt làm nô lệ lúc 7 tuổi, ông ta bị mang xuống tàu thủy.  Trong những chiếc thương thuyền, những người nô lệ này bị đối xử tàn tệ, nếu có người chống đối thì họ bị các tên cai dùng roi đánh tàn nhẫn, tay chân của những người bị bắt làm nô lệ này thì bị mang xiềng xích để trong hầm tàu tăm tối bẩn thỉu.  Lâu lắm, họ được cho lên phía trên và được xối lên mình nước biển tắm. Những người da đen Phi châu này đã được mang ra khỏi quê hương mình, đưa lên thương thuyền rồi  mang đi bán. Chủ là ai ? Phục dịch cho ai ?  Đó là các huân tước, bá tước, những tay triệu phú...  Những người da đen này  được mang đến các phố chợ để bán cho những đại điền chủ.  Sau đó, các tân chủ nhân này mang họ đến các cánh đồng làm việc lao động.  Đó là thời kỳ cực thịnh của chế độ nô lệ do các Đế quốc Anh, Pháp bày ra. Tại các buổi dạ tiệc có những người nô lệ da đen hầu bàn phục dịch, tay cầm nĩa, tay cầm dao.  Khi các ông chủ đi ra ngoài, trước khi cỡi lên lưng ngựa, thì người nô lệ phải khom lưng xuống làm bậc thang để ông chủ bước lên.    Người Mỹ da đen hiện nay là con cháu của tổ tiên họ cách nay gần 400 năm (1620) đã sống kiếp nô lệ làm thân trâu ngựa. Thưa quí vị: Từ ngữ Giải Phóng gồm có hai động từ kép: “Giải cứu” (To rescue) và “Phóng Thích” (Liberated, Liberating used with object) To rescue: Giải thoát một người trong tình trạng hiểm nghèo (trong ngục tù) đắm tầu, cứu vớt một người nào trong tình thế hiểm nguy tại hố thẳm, nơi có hỏa hoạn... Chữ Ransom : người bị bắt cóc bị đòi hỏi mang số tiền chuộc để được thả tự do. To Liberating: Một người bị gông cùm trong nhà tù được thả ra tự do. Một quốc gia được cỡi ra ách thống trị bởi một nước ngoại quốc. Ví dụ: Trong cuộc cách mạng giải phóng chế độ thống trị bởi Đế quốc Anh thời tướng Washington và cuộc giải phóng dân da đen bởi chế độ nô lệ tại miền Nam Hoa Kỳ .   Trong Thánh Kinh Cựu ước, chế độ nô lệ cũng đã được đề cập trong xã hội thời tối thượng cổ.  Có những đoàn thương gia đi buôn người nô lệ để trao đổi những vật dụng quí giá, tơ lựa, ngà voi, thảm dệt ... Sách Sáng thế ký có ghi lại một người cha tên Gia-cốp có 12 con trai, Giô-sép con áp út được cha thương yêu, nên các anh ganh tị và ghét.  Họ lập mưu bán em mình cho đoàn thương buôn lấy tiền... Sau đó, đoàn thương buôn đến Ai-cập, họ bán Giô-sép cho chỉ huy trưởng vệ binh trong triều đình Vua Ai cập.  Cũng tại đây, có rất đông người Do-thái đã là người nô lệ phải làm lao động gian khổ.   Các quan, người giàu đều mua người Do-thái về phục dịch. Trong thời đại của Môi-se, Phục.  15:12:  Luật ban hành trong toàn cõi xứ Do-thái: khi người Do-thái đã làm nô lệ trong 6 năm, sang năm thứ bảy thì luật cho phóng thích, được chủ ban cho: súc vật, lúa, rượu.  Có điều khỏan ghi thêm: c.16:  Nếu người nô lệ đã phục dịch chủ trong 6 năm, anh ta nhận thấy chủ đã đối đãi với mình nhân từ, tốt thì anh ta tình nguyện ở lại vì mến thương chủ, anh ta rất thỏa lòng ở lại để phụ vụ chủ. Bấy giờ, người chủ sẽ lấy dùi xỏ lỗ tai người nô lệ, luật này cũng dành cho người nô lệ nữ. Đây là một câu chuyện trong Cựu Kinh làm biểu tượng về Thiên Chúa  nhân ái, yêu thương và người nô lệ là con người đang sống dưới ách thống trị tàn ác của Satan, Thiên Chúa đã ban cho Đức Jêsus, Ngài đã đến thế gian này, Ngài bằng lòng xả thân trên thập tự giá đổ huyết ra để chuộc tội của nhân loại trước Thiên Chúa nhưng Ngài cũng đã đắc thắng tử thần vinh quang để bảo đảm lời hứa ‘Ai tin Đức Giê-xu thì không bị hư vong nhưng được sự sống vĩnh cửu.” (Giăng 3: 16)   Đức Giê-xu là Đấng có quyền lực mạnh hơn Satan để giải phóng con người và ban cho sự tự do thật khi chúng ta bằng lòng tiếp nhận ngài làm Chúa Cứu-Thế của đời mình.      c.15: Câu chuyện Môi se lãnh đạo cuộc giải phóng dân Do-thái khỏi kiếp nô lệ dưới quyền Vua Ai cập.  Khi dân Do thái đặt chân vào Đất Hứa, TC nhắc lại:  “Hãy nhớ rằng mình đã sống kiếp nô lệ trong đất Ai cập và Giê-hô-va ĐCT ngươi đã chuộc ngươi.” Động từ  “chuộc”  Người đời bỏ tiền ra để chuộc một vật cầm thế.  Đôi khi cũng có một người giàu nào đó bỏ tiền ra để mua hay chuộc người nô lệ rồi tuyên bố anh nay được tự do rồi. Tuy nhiên, chưa bao giờ có xảy ra chuyện một người hi sinh chính mạng sống mình, đổ máu huyết ra để mua sự tự do cho  người nô lệ.  Thánh Kinh đã cho chúng ta biết rằng chỉ có Đức Jêsus,  Đấng duy nhất đã thực hiện điều này. Thưa quí vị: Một bài hát có lời như sau:  Việt nam có  “một nghìn năm nô lệ giặc Tàu, 100 năm nô lệ giặc Tây”.  Quí vị có biết nhân loại đã sống đời nô lệ dưới ách thống trị của Satan bao nhiêu lâu ?  Nhân loại sống nô lệ dưới quyền thống trị tàn khốc của Satan sau khi tổ tông Adam và Eva phạm tội... Để mang đến sự tự do thật cho con người và giải phóng con người khỏi sự kềm kẹp của Satan thì chính Đức Jêsus đã bằng lòng xả thân trên thập tự giá, huyết Chúa đổ ra để tẩy rửa tội lỗi của con người trước Chúa Cha. Bởi phương cách ấy, khi con người đến với Chúa, ăn năn tội và tiếp nhận Chúa thì được Ngài tha tội.  Ngài giải phóng ta khỏi quyền cai trị của Satan, ta trở nên con của Ngài. Đọc lịch sử Nước Việt, chúng ta thấy có những cuộc cách mạng nổi lên với chiêu bài giải phóng khỏi ách cai trị của đế quốc, thực dân ngoại quốc.  Nhưng thử hỏi dân tộc Việt chúng ta có thật sự được giải phóng theo ý nghĩa nói trên?  Vô số người đã đứng lên đáp ứng lời kêu gọi tranh đấu dành độc lập để mong được sống tự chủ, tự do nhưng thành thật mà nói dân tộc Việt nam chưa hưởng được sự tự do thật.   Rốt lại, con người vẫn cứ mãi sống dưới một ách nô lệ  mới. Hôm nay, tôi không đề cập đến vấn đề chính trị  tranh đấu về một ý thức hệ... Dựa trên khúc Kinh Văn Phúc ân Giăng chương 8 chúng ta cùng nhau nghiên cứu và khám phá ra rằng chỉ có Đấng Cứu Thế duy nhất giải phóng nhân loại và ban cho con người sự tự do thật.  Đấy chính là sự giải phóng thật. Trong tinh thần của Phúc âm, những tín hữu đã được học Lời Chúa dạy để truyền rao phúc âm cứu rỗi của Chúa cho mọi người.  Có các thành kiến sai trật cho rằng người Tin Lành đi dụ đạo.  Người con của Chúa đi ra chia xẻ Tin Mừng cứu rỗi của Thiên Chúa để người nghe nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa, được cứu rỗi linh hồn,  không bị hư vong là một phước hạnh vĩ đại đối với người chưa tin Chúa.  Dù cho người Tin lành có bị vu khống, bị bách hại, bị mang vào ngục tối.  Vì thế, từ bao nhiêu ngàn năm qua, bàn chân của người rao truyền phúc âm đã đi khắp năm châu để rao giảng Tin Lành nhằm mục tiêu rao truyền Tin Mừng cứu rỗi Thiên Chúa giải phóng con người thoát khỏi ách kềm kẹp tàn bạo của Satan. Trong tác phẩm của Tác giả Evans Jones có kể lại một chi tiết thật: Vị Thuyền trưởng của tầu buôn người Anh tên là John Newton, khi ông chứng kiến cảnh người nô lệ bị hành hạ tàn nhẫn, bị mang gông cùm xiềng xích, lòng  ông vô cùng đau xót.  Về sau, John Newton từ giã ngành hàng hải, ông vào Đại Chủng viện học Lời Chúa trong Thánh Kinh và trở nên một mục sư.  Ông thường lên tiếng bênh vực cho người nô lệ.  Vì khi ông thấy họ bị đánh bằng roi, có người lại  bị xử tử hình thắt cổ.  Có một số người nô lệ tin Chúa, họ hát ngợi khen Chúa, họ cầu nguyện thì những người da trắng theo dõi rình rập và bắt đi.  Từ đó, về sau, John Newton cố gắng vận động với Thủ tướng Anh để ban hành luật giải phóng người nô lệ. Tại Hoa kỳ, TT Abraham Lincoln, một tín hữu Tin Lành đã thấm nhuần  Lời Chúa dạy, ông can đảm lên tiếng bênh vực và tranh đấu để bãi bỏ chế độ nô lệ.  Hollywood cũng đã thực hiện film từ tác phẩm “Conspiracy of Abraham Lincoln” tiết lộ tin mới mẽ sau công cuộc nghiên cứu về những bí ẩn quanh cuộc ám sát TT này.  Không phải chỉ có một người duy nhất đứng ra ám sát TT Lincoln, bèn là có cả một nhóm người chủ mưu đứng sau hung thủ.  Bản án tử hình được đặt ra trên TT Lincoln khi ông đọc bài diễn văn dõng dạc tuyên bố chống lại chế độ buôn người nô lệ da đen. Ông bênh vực quyền sống của người da đen, vì ông là tín hữu thật của Chúa Cứu-Thế. Khi ông làm điều này tức là đụng đến quyền lợi của nhóm người buôn người.  Vì thế, họ đã bàn mưu lập kế để giết Lincoln. Cố Tổng Thống Abraham Lincoln đã bị bắn tử thương vì có lòng muốn giải phóng dân da đen thoát khỏi chế độ nô lệ. Các thuyền trưởng John Newton, TT Abraham Lincoln là những người đã hiểu biết và nhận ra Đức Giê-xu là Chân Lý, và trước hết, chính Đức Giê-xu đã giải phóng John Newton, A. Lincoln thoát khỏi cảnh nô lệ bởi Satan. Họ tri ân Chúa và sẵn sàng làm chứng nhân truyền rao Phúc âm cứu rỗi cho bao nhiêu người khác.        Đức Giê-xu phán: Phúc âm  Mat. 11:28 28 Hỡi những kẻ mệt mỏi và nặng gánh ưu tư, hãy đến cùng Ta. Ta sẽ cho các con được yên nghỉ.  Amen    

  • 0 MỸ VỊ HOÀNG GIA

    Đọc Sáng thế ký  Chương 49  “1 Gia-cốp gọi các con trai mình lại và nói rằng: Hãy hội lại đây, cha sẽ nói những điều phải xảy đến cho các con ngày sau. 2 Hỡi các con trai Gia-cốp, hãy hội lại mà nghe; Nghe lời Y-sơ-ra-ên, cha của các con. ... “ Do nơi A-se có thực vật ngon, Người sẽ cung cấp mỹ vị cho các vua.” (c. 20) Trưởng lão Gia cốp chúc tiên tri cho A se rằng “do nơi A se thực vật sẽ béo bở, người sẽ cung cấp mỹ vị hoàng gia” [Sáng. 49:20 bản A.S.V.].        Ăn là một nhu cầu thực tiễn trong cuộc sống nhân sinh, cả thiên nhiên lẫn thuộc linh. Trong buổi sáng thế, Đấng Tạo Hóa đã ban bố huấn lệnh cho con người nguyên sơ là “ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn”. Thế rồi Đấng Tạo Hóa nhập thể (Đức Giê-xu) đầy lòng trắc ẩn ấy cũng chăm sóc phần ăn của cô bé gái, con Giai-ru, chủ nhà hội, khi cô bé ấy đã được Ngài kêu sống lại. Kinh Thánh chép “Ngài truyền cho nó ăn”.    Thế nhưng, chúng ta sẽ ăn gì khi giữa vòng dân Chúa vẫn thường xuyện bị ách thiếu dinh dưỡng trong cuộc sống tâm linh rất nghiêm trọng.   Thế cho nên, có lắm nhà lãnh đạo thuộc linh  xông xáo nhưng niềm tin đã bị phá sản  ngày hôm nay lại vẫn mong lấy “vỏ đậu của heo mà thồn cho đầy bụng”?  Hơn nữa, những ai là người cung cấp đáng tin cậy của chúng ta đây, khi đó đây còn nhan nhản những kẻ bán hàng rong Lời Đức Chúa Trời, vì lợi lộc pha trộn lời Chúa, treo đầu dê bán thịt chó?  Có biết bao nhà cấp dưỡng, các người mệnh danh có chức vụ, vì dốt nát đã  “hái những dưa dại, bọc đầy vạt áo tơi mình”, trước tiên thì vô tình, sau lại cố ý, giết chết hàng loạt người tìm kiếm Chúa chân thành!    Điều gì Chúa truyền bảo thì Ngài cũng thực hiện điều đó thay cho chúng ta. Nhạc trưởng A-sáp ca lên, “Chúa đập vỡ các đầu của Lê-vi-a-than, ban nó làm thực vật cho dân ở đồng vắng”.  Sam sôn ví von nói, “của ăn từ giống ăn mà ra; vật ngọt từ giống mạnh mà ra”.  Đúng ra Chúa phải giết Lê-vi-a-than, là giống mạnh để lấy thịt nó nuôi dưỡng dân Ngài, nhưng ai là Lê-vi-a-than đây?    Sau khi phác họa hình trạng kinh khủng của Lê-vi-a-than, Chúa kết luận “nó là vua các loài thú kiêu ngạo” [Gióp 41;25]. Chúa muốn nói lên sự thật: mọi bản ngã chưa phá vỡ đều như các loài thú kiêu ngạo, mà bản ngã kiệt xuất của Gióp là vua trên tất cả. Chúa đã đập vỡ hồn lực của Gióp, một bản ngã thuộc giống mạnh, nên con dân Ngài trải các đời như Ê-xê-chi-ên [Exech. 14:14,20], và Gia cơ [ Gia. 5:11] đều tìm được của ăn và vật ngọt, ngon miệng từ đó.  Gia cốp là người thợ nấu ăn giỏi từ thuở nhỏ, cũng có bản ngã kiệt xuất như Gióp. Ông đã dùng tài năng khéo nấu nướng ấy để mua bán mặc cả quyền trưởng nam với anh mình là Ê sau. Sau hai mươi năm bị nấu chảy trong lò luyện kim La-ban, ông còn chịu cú đấm đo ván của Thiên sứ Đức Giê-hô-va tại Phi-nê-ên, hồn lực Lê-vi-a-than trong Gia cốp vỡ ra và cạn kiệt dần. Nhưng tài nấu ăn bậc thầy của ông vẫn còn; và những người vinh hạnh được ông đích thân nấu nướng cùng tình nguyện khoản đãi là cha con La- ban, bên vợ của Gia cốp. Từ đó đến lúc lâm chung, chúng ta thấy Gia cốp bận rộn chăm sóc mọi người, lấy ”ân điển và nêm thêm muối” [Côl. 4:6] trộn vào các phần ăn do ông cung cấp người người.   Trong tuổi gia, âm sắc trong giọng nói Gia cốp không còn cay đắng, hận thù, giận hờn hay hờ hững, thiếu ân tình, thiếu thương xót nữa.  Lời nói của Gia cốp nay hòa nhã nhân ái. Gia cốp trước đây cứng cõi, quỉ quyệt nay đã trở nên mềm mại, dễ khóc với kẻ khóc. Gia-cốp có lòng nhân từ thương xót và theo dõi cách đồng đều từng mỗi một người con của mình, nay Gia-cốp công nghĩa và thánh khiết, vì hồn ông không còn đầy mưu mô, vinh quang ông không hội hiệp cùng hội người gian ác, khi họ giết người tại Si-chem. Lời Gia cốp chúc tiên tri cho A-se, thực ra nói lên sự lão luyện và phong thịnh của một tâm hồn đã gặp Chúa Hằng Hữu. Chúng ta đọc, “do nơi Gia-cốp thực vật người béo bở, người sẽ cung cấp mỹ vị hoàng gia”.    Gia cốp có biệt tài nấu ăn, ngay cả có một con cừu trong bầy có bị thú dữ xé, ông có thể dùng nấu món ngon, nên ông thấy không cần trả lại cho La-ban [Sáng. 31;39]. Và dĩ nhiên ông là người thưởng thức, vui hưởng tài nghệ của mình trước hơn ai hết.  Đó là lý do Môi se, sau 80 năm học với Chúa Hằng Hữu, ông đã dùng các lời có kinh nghiệm với tri thức thuộc linh để mô tả một chức vụ cung cấp mỹ vị hoàng gia đã nuôi Gia cốp cá nhân và một Giê-ru-sun, sự mở rộng của hậu duệ Gia-cốp ở Phục truyền chương 32.  Gia cốp là một phượng hoàng con đã được Chúa tìm kiếm, huấn luyện và nuôi dưỡng bằng các mỹ vị hoàng gia hảo hạng từ ngày ông gặp Chúa Hằng Hữu, để ngày nay ông cũng cung cấp các lọai mỹ vị ấy cho người khác. Rồi bằng lối qui nạp tài tình, Môi se viết, “nhưng Giê-ru-sun [Y-sơ-ra-ên] đã trở nên mập mạp….người trở nên mập mạp… mập lớn và béo tròn”. Làm thế nào “Giê-ru-sun hôm nay” giữa chúng ta cũng sẽ được mập béo thuộc linh bây giờ? Há không phải cần có các thợ nấu ăn giỏi, do các  Gia-cốp cung cấp mỹ vị cao lương như dầu, mật, sữa bò, sữa chiên, huyết nho v.v… cách cập nhật hay sao?  Vì chính họ đã được nuôi dưỡng từ các món ăn nầy rồi.    Trước khi ra đi khỏi cõi đời tạm này, Phao-lô kêu lên: “Ta đang bị đổ ra như lễ quán”.  Nhà Sứ đồ lão niên  Giăng họa lại: “chúng ta cũng phải vì anh em mà bỏ mạng sống[ hồn] mình”. Lê-vi-a-than trong Gia cốp đã chết sau biến cố tại Phi-nê-ên. Bản ngã Gia cốp đã tan vỡ, sự sống hồn ông đã đổ ra và cạn kiệt.  Vật ngọt từ giống mạnh mà có. Hồn thuộc linh của Gia-cốp là cao lương, là mỹ vị hoàng gia và chính cuộc đời Gia-cốp sau khi gặp Chúa Hằng Hữu, Gia-cốp trở nên nhà cấp dưỡng vừa có biệt  tài và có đầy đủ phẩm chất  cho cả hậu duệ thuộc linh của mình mãi mãi cho đến cõi đời đời. Amen    

  • 0 WATCHMAN NEE (1902—1972)

    WATCHMAN NEE (1902—1972) Đây là bản tóm tắt tác phẩm “Against The Tide” (Ngược Dòng), một bản tiểu sử của Watchman Nee của tác giả Angus Kinnear. NGƯỢC DÒNG (Câu Chuyện Về Nghê Thác Thanh). Danh tánh của Watchman Nee ít đuợc biết đến trong thế giới Cơ đốc Tây phương mãi đến khi Angus Kinnear  xuất bản quyển đầu tiên trong một loạt sách mang tên Watchman Nee lần đầu tại Ấn độ vào năm 1957.   Đây không phải là các bản dịch trực tiếp từ các sách hoàn bị trong Hoa Văn, nhưng là các trích đoạn, chọn lọc từ nguồn khác nhau và đuợc kết lại thành các quyển sách đọc có phẩm chất cao, nhanh chóng đứng ở đầu bảng trong lãnh cực cạnh tranh – không đơn sơ về sự gọi mời tức thì, nhưng vì sự đóng góp thực tiễn hướng về sự hiểu biết nếp sống cơ đốc nhân. Nhiều người tìm được sự giúp đỡ thiết thực trong đời sống cá nhân của họ qua việc nghiên cứu chức vụ của nguời cơ đốc ngoại hạng Trung Hoa nầy, và không ít nguời tò mò muốn biết thêm về con người và câu chuyện của ông. Vì lý do nầy, “Ngược Dòng”, câu chuyện của Watchman Nee, đã đuợc kể ra và điều thích đáng là Tiến sĩ Kinnear, người đã đem chức vụ của Watchman Nee đến cùng chúng ta ở đây, bây giờ phơi bày vài tia sáng trên con người nầy, mà sự đóng góp của ông, dưới sự cai trị của Đức Chúa Trời, là hữu ích cho hội thánh tại Trung Hoa. Quyển sách bắt đầu với văn kiện mở rộng đẹp đẽ về nguồn gốc và gia đình ông, có tầm quan trọng đối với cuộc đời thơ ấu, chịu ảnh huởng gia đình cơ đốc cách trực tiếp và gián tiếp qua các bạn bè. Mẹ ông không phải là không có lỗi lầm trong cách bà xử lý người con trai thông minh và nhạy bén cao độ nầy. Song le sự hối cải của ông qua sự rao giảng của nhà giảng phúc âm Dora Yu cho thấy đôi điều trong kinh nghiệm của mẹ ông có với Đức Chúa Trời, và việc bà vâng theo lệnh truyền của Ngài, khi bà xin lỗi con mình.  Vì vậy,  Watchman Nee đi nghe Dora Yu giảng và tin Chúa. Chắc chắn điều nầy nêu lên bài học cho những ai trong chúng ta, là các bậc cha mẹ, mang trách nhiệm nặng nề trước mặt Đức Chúa Trời cho các sự bắt đầu đúng đắn của con cái chúng ta. Mối liên hệ cá nhân của chúng ta với Đức Chúa Trời phải góp phần chính yếu. Ông đã đến chỗ biết Christ cách cá nhân đang khi còn học tại trường học và mối quan tâm của ông về việc san sẻ Tin mừng trở nên hiển nhiên ngay sau đó. Sau khi hoàn tất bài làm mỗi ngày xong, ông và bạn bè cầm Kinh Thánh và đi vào làng mạc chung quanh rao giảng phúc âm. Các ngày nghỉ lễ cũng được xử dụng như vậy và một người có thể nhìn thấy sự thúc đẩy rao giảng phúc âm vào đầu thời đại nầy. Ông nhìn nhận rằng từ những năm đầu tiên nầy, ông thích rao giảng. Nhưng có thể ít có sự nghi ngờ rằng sự thúc giục và ân tứ hiện thực vốn bắt nguồn từ Đức Chúa Trời, “Đấng muốn mọi người được cứu rỗi”. Điều đó không chỉ là nói suông mà thôi. Văn kiện bày tỏ Watman Nee và các bạn ông đã xây dựng một bục giảng về kinh nghiệm thiết thực và tri thức thực tiễn về Đức Chúa Trời, và văn kiện kể lại thể nào cơn mưa đã đổ xuống, là một ví dụ tốt về điều nầy. Ông không chỉ là một con người đơn sơ với một sứ điệp; ông phải là một đầy tớ của Đức Chúa Trời hằng sống, chứng minh thực tại và quyền năng của Chủ mình.  Câu Chuyện kể tiếp về sự tiến bộ của ông. Ông dành nhiều thì giờ tăng cường nghiên cứu Kinh Thánh. Ông có thói quen là thường xuyên đọc suốt qua kinh Tân ước vài ba lần mỗi tháng. Cô Margaret Barber và tủ sách của cô đã được tiêu hoá vào tâm trí sống động và dễ tiếp thu của ông, và như Phao-lô, thỉnh thoảng ông tự nhốt mình trong căn lều nhỏ cạnh bờ sông, dành cơ hội đầy đủ để các ảnh hưởng nầy gán ghép và cấu tạo vào hoàn cảnh đặc thù và văn phong của ông. Ông đã bắt đầu viết -một tờ báo nhỏ, nhan đề “ Phục Hưng”, bao gồm các bài giải nghĩa Kinh Thánh -   và chắc chắn điều nầy đặt ra công tác làm nền cho sự viết lách về sau của ông. Sau đó, sự tiến bộ của ông bị gián đoạn bởi cơn bệnh nghiêm trọng, đe dọa tính mạng, mà khiến cho các lao tác thuộc linh đang gia tăng phải bước đi cách khập khiểng, và trong đó ông tham dự chung với một số bạn bè. Tuy nhiên, công tác của Linh Đức Chúa Trời trong người bề trong của ông, như điều gì đó được gia tốc bởi tai biến hiển nhiên nầy, và đó là một gương mẫu cổ điển của một loại kinh nghiệm căn bản mà Sứ đồ Phao-lô nhận thấy rất khó chấp nhận vào lúc đầu – cái dầm xóc trong xác thịt.  Có lẽ, do kinh nghiệm nầy, với sự yếu đuối mà ông đã tìm được sức mạnh nâng đỡ ông, không chỉ qua những năm công tác mở rộng, và xây dựng hội thánh cách có hiệu quả cao, nhưng cũng đưa ông vượt qua những năm dài giam cầm trong nhà tù Thượng Hải. Bệnh nầy “gần chết”, hầu như đối với tôi (Kinnear) là một yếu tố có ý nghĩa cao cả trong câu chuyện của ông. Có nhiều giáo sĩ Tây phương đang hoạt động trong khu vực. Khi giao tiếp với ông, họ bị ông thu hút mạnh mẽ, chịu ấn tượng sâu sắc về các ân tứ, và công tác bản xứ đang lớn lên của ông. Số giáo sĩ khác coi ông là mối đe doạ cho cánh đồng truyền giáo vững lập của họ, cho ông là “kẻ ăn cắp chiên”, dụ dỗ con tốt nhất trong bầy của họ, đưa vào bầy của ông. Về phần ông, không có bằng cớ hiển nhiên nào cho thấy ông có cảm xúc chống giáo sĩ cách mạnh mẽ --- đúng ra, ông có cái nhìn, là Đức Chúa Trời đã ban cho ông một công tác để làm, và ông phải tích cực chăm chú cho điều đó. Ông cũng bận rộn với các nan đề về hội thánh non trẻ đang lớn lên, đang dành thì giờ nghe sự chỉ trích tiêu cực từ các công nhân cơ đốc khác.  Bất chấp tình trạng chiến tranh trong nhiều vùng chia cắt khác nhau của đất nước, sự giao thông, liên lạc gián đoạn, sự đi lại hạn chế, nhưng công tác vẫn lan tràn nhanh chóng. Các hội chúng xây dựng theo các đường hướng đơn giản như các nguyên tắc được tìm thấy trong Tân Uớc; trước hết đã được thành lập tại Thượng Hải, và không bao lâu sau đó, các hội chúng khác nẩy nở trên khắp Hoa lục. Tuy nhiên, ông đã dành thì giờ thăm viếng Anh quốc hai lần, để làm sâu thêm sự kết giao với ông T. Austin-Sparks, chủ bút tờ “Chứng nhân và chứng cớ”. Nhiều người, kể cả bố của người viết bài nầy, đã cho tôi (Kinnear) biết rằng họ có đặc quyền gặp Watchman Nee vào lúc đó, vì ông đã dành mấy tháng trong sự tương giao với các tín hữu ở Anh quốc, Tô Cách Lan và Bắc Âu. Tất nhiên, vì cớ có chừng 250 công tác viên trọn thì giờ trong công tác đang mở rộng cách nhanh chóng, và vì các nhu cầu tài chánh, đã đưa Watchman Nee vào cái có vẻ như cuộc du ngoạn, với lời khuyên xấu, vào thế giới tài chánh. Nhưng cơ quan nầy, có em của ông và vài người khác tham gia, nhà bào chế thuốc Tây, đã bị nhiều người hiểu lầm, dù có các thông tin không đầy đủ để xét đoán các hệ luỵ trong đó. Vì bằng cớ hiển nhiên nầy. Các anh em của ông cảm thấy rằng ông đã từ bỏ đầy trọn sự ủy thác thuộc linh từ Chúa, để tìm kiếm một chỗ đứng trong thế giới vật chất. Khá lâu về sau, để tránh có thêm sự hiểu lầm và bảo tồn sự hiệp nhất, ông đã buông bỏ cả công trình cho anh em khác.  Các diễn biến chính trị tại Trung Hoa, khi quân đội giải phóng từ miền bắc tiến xuống lúc bấy giờ (1948) đã đẩy Watchman Nee vào chương trình dạy dỗ và huấn luyện tăng cường, chuẩn bị các tín đồ cho thời kỳ khó khăn hơn -các hội đồng đặc biệt cho các nhà lãnh đạo và các công tác viên đã được tổ chức, các tư tưởng nghiêm trọng đã được nói ra cho con đường trước mắt -  Sự ưu tiên dành cho vào lúc nầy là học thuộc lòng Kinh Thánh. Biết bao người vẫn còn sống trong giá trị của sự nhấn mạnh được cảm thúc nầy. Ông vẫn còn tự do du hành  đến Đài Loan và Hong Kong, nơi đó ông đã lao tác thiết lập công việc của Chúa. Vào lúc chính quyền mới được thành lập, nhiều người thúc giục ông đừng trở lại Trung Hoa, nhưng ông nói, “tôi có con cái bên trong ngôi nhà, nếu nhà sụp đổ, tôi phải nâng đỡ nó, bằng cái đầu của tôi, nếu cần”. Ông đã trở về Thượng Hải. Tất nhiên, ông đã bị bắt giữ, kết án và giam tù 20 năm, từ 1952-1972. Tác phẩm là sự trình bày thông suốt về cuộc đời và niên hiệu của Watchman Nee, song le độc giả có ấn tượng về nhân phẩm và bản chất con người như là sợi chỉ khó truy tìm dấu vết qua các phong trào ở Trung quốc, chính trị và thuộc linh, và ông đã bị vướng mắc vào. Có lẽ điều nầy chỉ được chờ đợi từ con người nầy của Đức Chúa Trời, người đã đuợc kể là xứng đáng chịu khổ 20 năm trong khám tù vì cớ Christ và là con người đã viết nơi trang đầu trong quyển Kinh Thánh của mình các lời rất cảm động sau đây, “tôi không mong muốn điều gì cho tôi, tôi muốn mọi sự cho Chúa”. Gió ngược, biển động, bão tố hung tợn dường như là kinh nghiệm không thể tránh được của Hội thánh Christ. Bất cứ khi nào Chúa đề ra một hướng đi cho dân Ngài, thì không bao giờ thiếu vắng sự chống đối từ Satan.  Thật đầy đủ khi Chúa Jesus đề nghị các môn đồ Ngài rằng họ nên qua “bờ hồ bên kia”, liền gặp cơn bão tố từ địa ngục thách thức chiếc thuyền của họ, một cơn bão có tầm cở lớn lao như vậy, đến độ các thuỷ thủ có kinh nghiệm trong đoàn sứ đồ cũng phải kinh sợ (Lu. 8:22-25). Cũng vậy, nếu Sứ đồ Phao-lô đang trên đường đi chu toàn sự uỷ nhiệm thiên thượng tại La mã, khi ấy dường như điều không thể tránh khỏi là một cơn bão hung tợn đe doạ nhận chìm ông ( Công 27:20-25). Trong cả hai trường hợp, sự tấn công của ma quỉ đã bị phá hỏng, vì Jesus thực sự là Chúa của tất cả, nhưng sự dị biệt nổi bật trong hai câu chuyện là các phản ứng trái nguợc của các môn đồ, là những người vướng mắc trong các cơn bão trên biển. Trong câu chuyện phúc âm, chúng ta đọc rằng lòng các môn đồ dẫy đầy sự hoảng sợ- “Thầy ơi, Thầy ơi, chúng ta chết mất!” là tiếng kêu la không có đức tin, thất vọng cách sâu xa đến Chúa của họ. Chính tiếng kêu la lại đầy sự mâu thuẫn. Nếu Ngài đích thực là Chủ- Đấng đứng ở trên - thì làm sao họ có thể chết mất chứ?  Nhưng sau đó, không có gì là thật không hợp luận lý như sự vô tín. Dĩ nhiên, Christ là Chủ-- Ngài sớm chứng minh điều đó. Nhưng thật là điều đáng thương, khi họ phản ứng với cơn bão bằng sự vô tín hèn hạ như vậy! “Đức tin các con ở đâu?” Đây là tình trạng gần như nghẹt thở dưới gánh nặng về sự sợ hãi vị kỹ. Giống như một số người trong thời chúng ta, họ chỉ cầu nguyện cho chính họ, họ hỏi, “điều nầy ảnh hưởng như thế nào? Tại sao Chúa không nhanh chóng làm điều gì đó để cứu giúp con?”. Khi sứ đồ Phao-lô lâm vào một cơn bão- cơn bão tồi tệ hơn nhiều - ông cũng sợ hãi, nhưng đồng thời ông tin cậy -  Ông cũng đã cầu nguyện, nhưng ông đã quên mình trong sự cầu nguyện hi sinh của ông vì người khác. Một số đông người mất hi vọng vây quanh ông, đa số họ không biết làm sao cầu nguyện cho chính mình. Ông biết rằng đời sống ông đã được giấu kín với Christ trong Đức Chúa Trời, nên ông không hoảng sợ về chính mình. Quan tâm cá nhân của ông, không liên kết với sự an toàn, nhưng với việc làm tròn sứ mạng do Đức Chúa Trời ban cho, là làm chứng trước mặt Sê-sa. Ông đã được tái xác quyết về điều nầy, và sau đó như sự rộng rãi hoàng gia, ông được bảo rằng Đức Chúa Trời ban cấp cho ông mọi người đi chung thuyền với ông. Sự cầu nguyện của ông không hướng trực tiếp về các người có nhu cầu quanh ông. Một số là bạn bè, một số là kẻ thù, nhưng ông đã cầu nguyện cho họ tất cả, và Đức Chúa Trời đã đáp lại các lời cầu nguyện của ông cách diệu kỳ. Vị sứ đồ bị bão tố ngã nghiêng có thể xác nhận, “tôi tin Đức Chúa Trời”, và tất cả họ có thể thấy thực tại đức tin khải hoàn của ông, cũng như họ đều có phần trong lời cầu thay của ông. Ngày nay, chúng ta nhận thấy chính mình ở trong thế giới đầy bão tố dày vò. Hoặc chúng ta phải được ban cấp sự ẩn náu yên tĩnh do Đức Chúa Trời ban cho, hay con tàu phải bị vỡ ra trên các vầng đá, chúng ta không biết. Thời gian sẽ bày tỏ điều nầy. Nhưng trong khi ấy, nhiệm vụ chúng ta là phải biết cách cầu nguyện trong các tình trạng như vậy. Và các lời cầu nguyện không nên là tiếng kêu la vị kỷ của sự hoảng sợ, “Thầy ôi, Thầy ôi, Thầy không lo chúng ta sẽ chết mất sao?” Đúng ra, sự cầu nguyện của những nguời thật tin Đức Chúa Trời, đến nỗi các hành khách trên thuyền có thể tìm đuợc sự cứu rỗi qua lời cầu nguyện và qua lời làm chứng vững chắc của chúng ta. Giống như Phao-lô, Watchman Nee đã học tập tin cậy vào Đấng, và chỉ mình Ngài có thể làm chúng ta đứng nỗi trước bão tố của sự tối tăm ở chung quanh chúng ta. Vì trải qua nửa thế kỷ, những sự nhìn thấy của ông đã là ma-na cho những tâm hồn đói khát trên khắp thế giới./. 

  • 0 Tiểu Sử Cố Mục Sư Phan Ðình Liệu (1888-1973)

    Ông Phan Đình Liệu là một mục sư thuộc Giáo Hội Tin Lành ở Việt Nam đã chịu bắt bớ khảo tra nhiều nhất. Sự khổ nhục mà Mục Sư Liệu nếm trải là một biến cố nặng nề giáng xuống Giáo Hội Tin Lành non trẻ, và cũng đã là làm chấn động dư luận trong và ngoài nước, cả đến Quốc Hội Phap quốc vào năm 1928. Đọc tiểu sử của cụ mục sư này, luôn đem lại một nguồn khích lệ và cổ vo lớn lao cho nhiều người; vì cụ là một anh hùng đức tin, một chiến sĩ bất khuất trong Đoàn Tinh Binh của Đức Chúa Trời, và là một của lễ đã được hiến dâng trên bàn thờ Chúa để hầu việc Ngài. Ông Phan Đình Liệu được sanh ra trong một gia đình trung lưu, nề nếp, đạo đức cổ truyền. Ông chào đời năm 1888 tại Cẩm Sa, Điện Bàn, Quảng Nam Đà Nẵng. Chàng sớm được cha mẹ cho ăn học, và được giáo dục chu đáo theo con đường cử nghiệp văn hay chữ tốt Nho học. Chàng là người thông minh, chí khí, tài năng thiên phú nên mau chóng thành tài. Tứ thư, Ngũ Kinh, các sách văn chương cổ, khoa truyện chàng đều làu thông. Sau khi "có tên trên bảng vàng", Ông Liệu được bổ chức giáo học Trường Thanh Xuân, Cẩm Sa. Các phụ huynh thời ấy biết tiếng tài năng của ông, nên thúc giục con em mình kéo đến theo đòi bút nghiên với ông giáo Liệu ngày càng đông. Tuổi thanh niên ra đời thuận tiện, học hành đỗ đạt, kiếm tiền dễ dàng trước cửa đời rộng mở, nên chàng Liệu chẳng mấy chốc đã sa ngã vào con đường nghiện ngập, chơi bời. Thầy giáo vì quá ham mê mùi đời nên bỏ nghề dạy học, lăn xả vào lối mòn tửu, sắc, tài, khí; nhất là điệu hát dân ca "hò khoan", gái trai hò hẹn gặp gỡ nhau, lấy khẩu tài xướng họa, trí thông minh ứng đối mà thử tài và dò ý, gợi tình nhau. Trên con đường trơn trợt của tội lỗi, nên linh hồn của ông Liệu đã xuống hố sâu; nếu lúc ấy ông qua đời thì phải trầm luân ở địa ngục muôn đời. Nhưng tình thương yêu của Đức Chúa Trời thật rộng lớn, bao la, Ngài đã ban cho ông có một dịp tiện "quý hơn vàng" để nghe làm chứng và đọc sách Đạo Tin Lành - một quyển Phúc Âm lẻ. Nhờ đó ông cảm biết mình là một đại tội nhân nên liền ăn năn tiếp nhận Giê-xu Christ làm Cứu Chúa của mình. Đi theo Chúa, lòng ông được tái sanh, đổi mới, trở nên người mới. Ông hối tiếc cho những tháng năm hoang phí cho xác thịt, thế gian và làm tôi mọi cho ma quỷ. Ông khóc lóc, đắng cay xưng tội lỗi mình với Chúa nhiều đêm. Một đầy tớ của Chúa đã cầu nguyện cho ông tin Chúa năm 1920. Ông Phan Đình Liệu ngày càng học biết về Chúa nhờ lời Ngài, và ông được Chúa kêu gọi, sau khi chịu Lễ Báp Têm ở biển Mỹ Khê vào năm 1920. Ông dâng đời sống mình cho Ngài vào Thánh Kinh Học Đường Đà Nẵng năm 1921; như vậy ông là một trong những học viên đầu tiên của trường này. Ông Liệu tốt nghiệp năm 1927. Trong chức vụ, ông đã từng hầu việc Chúa ở nhiều Hội Thánh như Hội An (Faifo) năm 1923. Cùng năm đó ông được điều đến Hội Thánh Tân Châu, Châu Đốc; năm 1924 đến Sa đéc. Năm 1925 ông đến Cần Thơ, Long Xuyên, rồi đi giảng ở nhiều nơi như Rạch Giá, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau. Ông hết lòng sốt sắng giảng Tin Lành, và nhiều người qua chức vụ tận tụy của ông đã được cứu. Ông cũng đã thành lập được các Hội Thánh ở Phong Điền, Đông Phú, Trà Ôn, Cáo Con, Phước Long... Thính giả không biết chán khi nghe Mục sư Liệu công bố Đạo Chúa ngoài trời rất hấp dẫn. Ông được tấn phong Thánh chức Mục sư năm 1929. Có thể đời sống và chức vụ của Mục Sư Liệu sẽ là bình thường nếu không có những tháng năm Cụ từng trải những nỗi khốn khổ, bắt bớ, tù tội; và điều này sử sách lưu lại rõ ràng, nhiều người biết. Tháng 12 năm 1927, Hội Thánh Tin Lành ở Khánh Hòa, Thành phố Nha Trang có mướn một căn nhà tại thị tứ Ninh Hòa để giảng truyền Tin Lành. Khi Mục Sư Liệu và các tín đồ đang hội họp thờ kính Chúa thì có ông Cò (dạng công an, cảnh sát ngày nay. Ngày xưa rất có uy thế mà nhà thơ Tú Xương đã có câu thơ "Hà Nam danh giá nhất ông Cò...") tay lăm lăm cầm gậy đập bàn giảng và đánh đuổi ông Liệu cùng các tín đồ ra khỏi nhà. Đầu năm 1928, khi đang lưu giảng Đạo Chúa ở Phan Rí (thuộc tỉnh Bình Thuận) thì ông đồn trưởng người Pháp bắt ông Liệu còng tay giao về Phan Thiết xét xử. Hai lên lính tập đã rút dây nịt quất vào đầu, vào cổ ông Liệu. Sau đó thì ông bị trục xuất về Nha Trang. Mùa hè năm 1928, quan huyện Vĩnh Xương (Khánh Hòa) bắt ông liệu phải hạ tấm bảng "Hội Thánh Tin Lành" xuống, Ông bất tuân lệnh này thì bị tống lao. Trong chốn cùm kẹp, ông Liệu cứ hát Thơ Thánh, cầu nguyện kêu vang Chúa cứu, nước mắt sa dầm dề. Quan chức huyện ấy cảm động rồi tha cho ông đi về. Giữa năm đó, ông Liệu đi vào Phan Rang truyền giảng. Một quan công sứ Pháp gọi ông vào văn phòng và cho biết rằng ông ta là người thờ Chúa ở một nhánh khác, không bắt bớ Tin Lành làm chi, và quan này khuyên ông Liệu nên vào Nam (VN) mà giảng vì ông Nguyễn Hữu Bài ở Viện Cơ Mật Huế có sắc lệnh cấm giảng Tin Lành ở miền Trung bấy giờ. Sau khi về thì ông Liệu lại vào chợ Phan Rang công bố đạo Chúa. Thình lình tỉnh sai tiểu đội lính đến vây bắt, dùng roi mây để đánh mục sư và tín đồ, nhưng không đánh ông bà Giáo Sĩ Travis vì họ là người ngoại quốc... Rồi giải về nhà giam. Sau đó quan tỉnh cắt hai tên lính áp giải cụ về nguyên quán là Quảng Nam Đà nẵng. Một tháng sau ông Liệu và các mục sư giáo sĩ bấy giờ trên đường đi dự Hội Đồng ở miền Nam có ghé lại Nha Trang góp phần giảng Tin Lành. Lính ở đâu ập đến bắt tất cả. Nhưng sau đó đã tha những người kia và giữ ông Liệu lại (vì đã có tiền sự ở hồ sơ lưu). Và cảnh lao tù của ông lần này ở tại Nha Trang diễn ra khá êm xuôi đối với một đầy tớ trung kiên của Đức Chúa Trời. Các quan tỉnh muốn tống Cụ xuống nhà lao chính để cho tên cai tù người Thượng nổi tiếng hung ác hành hạ ông cho bỏ ghét vì "Tội ngoan cố" rao giảng Tin Lành! Nhưng Mục Sư Liệu cũng cứ vui mừng làm chứng cho Ngài, Chúa đã dùng ông cứu 12 phạm nhân ở đó. Một lần nữa Mục Sư Liệu đi làm chứng và thăm tín đồ tại Nha Trang - Thành (Khánh Hòa) viên tuần vũ cho lính bắt và cũng giải về Quảng Nam. Tại đó trước những lời cáo gian của hai chính quyền Việt - Pháp, ông Liệu đã mạnh dạn tự bào chữa cho mình. Ông tuyên bố công khai rõ ràng chỉ vì thương yêu linh hồn tội nhân hư mất mà đi ra làm chứng Tin Lành cứu rỗi cho họ. Thấy không đủ yếu tố và lý do buộc tội hay kết án được ông, nên họ phải thả ông ra với lời đe dọa "không được giảng Đạo nữa!". Nhưng khi về lại Nha Trang, Cụ cứ tiếp tục hoạt động hăng say với mục đích như trước. Nhà đương cục lúc bấy giờ rất căm tức, và tên tuần vũ trước kia lại bắt giam Cụ vào lao xá với bản án 6 tháng tù vì vi lệnh. Tại đó họ đối xử với Mục Sư Liệu rất tệ bạc cốt để hạ nhục Cụ. Nhưng mục sư này chẳng phiền rầu chi cả. Nhưng cái tin "một mục sư Annam (tên gọi Việt Nam thời ấy) bị kết án 6 tháng tù" chẳng những gây hoang mang cho tín giáo Tin Lành tại bổn quốc, mà còn làm xôn xao dư luận tín đồ Tin Lành ở Pháp nữa. Trong khi đang nếm chịu cảnh lao lý khổ nhục vì Danh Chúa, Mục Sư Liệu không tỏ vẻ gì sợ hãi, đau buồn, lo lắng chi cả; Cụ lại rất sung sướng kể là mình được dự phần trong sự thương khó của Chúa. "Trâu cày, ngựa cỡi", và mục sư dầu ở trong nhà giam đi nữa, nếu có cơ hội là rao giảng Tin Lành. Cụ Mục sư Liệu trong thời này đã minh chứng cho lập luận khá hùng biện đó. Do công khó trung kiên và hy sinh của Cụ, tại lao tù lúc đó kết quả có 19 linh hồn tội nhân đồng tù với cụ tin Chúa. Thế là Cụ đã có một Hội Thánh nho nhỏ ngay trong nhà ngục. Mỗi trưa Chúa Nhật cụ giảng một bài, buổi chiều học Phúc Âm Yếu Chỉ. Mỗi buổi trưa hằng ngày họp nhau lại học Thánh Kinh, mỗi buổi tối trước khi tù phạm tra chân vào cùm thì hiệp nhau cầu nguyện, làm chứng cho những người khác về tình thương cứu rỗi của Chúa. Lại một điều lạ, người đề lao hung dữ ngày nào đã tỏ ra tử tế và ưu đãi người đầy tớ của Chúa là việc mới đáng nói chứ! Dầu bị cực nhọc, lao tù, làm việc vất vả (đầy rulô nện đường cho công chánh giao thông), lại ăn uống kham khổ; song khi nghĩ đến ân sủng, tình thương, sự săn sóc kỳ diệu của Chúa, Cụ Mục sư Liệu cũng dư thừa tinh thần hoan hỉ với hồn thơ dào dạt, nên Cụ đã cảm tác mấy vần thơ sau đây: "Tra xem lịch sử trải ngàn thu, Mới thấy trong lao Hội Thánh tù. Bãi sở lui về ăn dưới cỏ, Ngủ rồi thức dậy tiểu trong lu. Cùm săn chân cứng vừa in khít, Cơm vắt Trời nuôi cũng mập ù. Cánh cửa lao lung dù khóa chặt, Khôn ngăn lòng đến Chúa Giê-xu" Tính ra trong đời hầu việc Chúa của Cụ, Cụ Mục sư Phan Đình Liệu đã "được" ở tù 5 lần - Nhưng không khi nào lung lạc được đức tin của cụ, cũng chẳng lay chuyển được ý chí cương quyết hết lòng vì Danh Chúa truyền bá Tin Lành cho bao nhiêu linh hồn hư mất. Cụ Mục sư Liệu cũng là một nhà thơ tài hoa, có thiên khiếu thi cam, "xuất khẩu thành thơ". Cụ không xuất bản một tập thơ nào, chỉ đăng rải rác trên các tạp chí của Giáo Hội Tin Lành mà thôi. Nhưng ân tứ thơ ca của Cụ rất có hồn, ý nghĩa thâm trầm. Khi ở trong chốn lao lý, Cụ cũng đã làm mấy bài thơ và được phổ nhạc trong Thánh Ca, số 68, 69, 329, 352 (Thánh Ca Việt Nam). Trước đây nhà sách Ánh Sáng của Hội Thánh Tin Lành Tuy Hòa (Tỉnh Phú Yên) đã cho ra mắt tuyển tập thơ của Cụ, tựa đề là "Lửa Sống". Ngoài ra còn có Tập "Phúc Âm Diễn Ca". Cụ Mục sư Phan Đình Liệu vinh quy Thiên Quốc năm 1973, tại Đà Lạt, thọ 85 tuổi.  

  • 0 Quá Trình Phiên Dịch KINH THÁNH Sang Tiếng Việt

    • by Administrator
    • 28-05-2018

    Quá Trình Phiên Dịch KINH THÁNH Sang Tiếng Việt Lời Ban Biên Tập: Năm 1996 đánh dấu 70 năm bản Kinh Thánh Việt Ngữ đầu tiên của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam được phát hành. Gần đây, một số đọc giả yêu cầu chúng tôi cung cấp thêm những dữ kiện liên quan đến việc dịch và phát hành Kinh Thánh sang Việt Ngữ trong quá khứ. Dựa vào những dữ kiện thu thập được từ các tài liệu của Thánh Kinh Hội (UBS), của Giáo Hội Công Giáo, của báo chí trong Hội Thánh Tin Lành và tham khảo với một vài đầy tớ Chúa liên hệ, bài viết dưới đây trình bày khái quát những sự kiện chính liên quan đến việc dịch và phát hành Kinh Thánh sang Việt Ngữ. Chắc chắn bài viết còn có nhiều thiếu sót nhưng Ban Biên Tập hy vọng tài liệu sẽ giúp ích phần nào cho những bạn đọc đang nghiên cứu về vấn đề nầy. Mong rằng trong tương lai, qua bạn đọc, chúng tôi có thể thu thập thêm những tài liệu bổ ích khác để đúc kết thành một sử liệu đầy đủ, chính xác cho Hội Thánh. Ban Biên Tập xin chân thành cám ơn Mục Sư Tiến Sĩ Lê Hoàng Phu đã cung cấp nhiều sử liệu quan trọng cho bài viết nầy. I. Sơ Lược Về Việc Cơ-đốc Giáo Truyền Ðến Việt Nam: Căn cứ vào các sách sử của Việt Nam và Trung Hoa, một số nhà nghiên cứu cho rằng hóa trình truyền bá Cơ-đốc Giáo đến Việt Nam có thể chia làm hai giai đoạn chính. Giai đoạn đầu từ những thế kỷ đầu của công nguyên đến cuối thế kỷ 15, và giai đoạn thứ II, từ đầu thế kỷ thứ 16 trở về sau. Theo Pedro Ordonez de Cevallos, một Linh Mục Tây Ban Nha, Sứ Ðồ Thô-ma là người đầu tiên truyền bá đạo Chúa đến Việt Nam. Cũng theo Linh Mục Cevallos, khi ấy Sứ Ðồ Thô-ma đã làm chứng cho một vị vua Việt Nam tiếp nhận Chúa. Linh Mục Ordonez de Cevallos là một trong những giáo sĩ đầu tiên đến Việt Nam truyền giáo vào năm 1590. Ông là một người có uy tín và được ơn Chúa. Ông đã làm  báp-têm cho Công Chúa Mai Hoa dưới thời nhà Lê tin Chúa. Tuy nhiên, ý kiến của Linh Mục Cevallos cho rằng Sứ Ðồ Thô-ma đã đến truyền giảng tại Việt Nam vào thế kỷ thứ I khiến nhiều nhà nghiên cứu đặt nghi vấn vì nhận định này không có sử liệu minh chứng. Theo sách Ngoại Kỷ, suốt thế kỷ thứ I, Việt Nam chỉ độc lập khoảng 3 năm dưới thời Hai Bà Trưng (40-43 S.C.). Trước khi Hai Bà Trưng dành độc lập, nước Việt - khi ấy gọi là Giao Chỉ - bị sáp nhập vào Tây Hán (Bái Công) 149 năm. Sau khi Hai Bà Trưng mất, Việt Nam bị nhập về Ðông Hán (Quang Võ) 144 năm. Như vậy, nếu lời Linh Mục Cevallos là đúng, Sứ Ðồ Thô-ma phải đến Việt Nam vào khoảng năm 40-43 S.C., và hai Bà Trưng, vua Việt Nam vào thế kỷ thứ I, đã tin Chúa. Tuy nhiên, trong những sử sách Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay, không một tài liệu nào ghi lại việc ấy. Hơn nữa, về phương diện lịch sử Hội Thánh, giả thuyết này cũng khó được chấp nhận. Nếu những nhà làm lịch tính đúng, Hội Thánh được thành lập vào khoảng năm 33 S.C.. Nhưng chúng ta biết, trong vài năm đầu Hội Thánh chỉ phát triển tại Giê-ru-sa-lem. Khi những cơn bắt bớ đầu tiên xảy ra, Hội Thánh mới phát triển sang vùng Giu-đê và Sa-ma-ri. Nếu chỉ vài năm sau đó, các đầy tớ Chúa đã vượt gần nửa vòng trái đất để truyền bá đạo Chúa đến Việt Nam thì có lẽ hơi quá sớm. Phạm Văn Sơn, tác giả Việt Sử Tân Biên, do nhà xuất bản Ðại Nam phát hành tại Sài Gòn vào năm 1961, trích dẫn ý kiến của một số nhà nghiên cứu cho rằng thời điểm đầu tiên mà Cơ-đốc Giáo được truyền đến Việt Nam có lẽ vào thời Sĩ Nhiếp làm Thái Thú tại Việt Nam (186-226 S.C.). Các học giả này cho rằng Sĩ Nhiếp đã tin Chúa và ông chính là người đã cho làm nhiều nhà thờ có hình Chúa Giê-xu và thập tự giá. Những di tích này được tìm thấy vào thế kỷ 16 dưới thời Hậu Lê. Linh Mục Nguyễn Hồng trong cuốn Lịch Sử Truyền Giáo Việt Nam xuất bản vào năm 1959, cho biết một số thương buôn Âu châu đã đến Việt Nam từ thế kỷ thứ II. Sử Trung Hoa ghi lại rằng vào năm 166, có một sứ giả do Marcol Aurelio Antonio sai đến Trung Quốc cho biết ông đã ghé qua Giao Chỉ. Năm 266, một thương nhân tên là Tsin Lonen theo đường từ Giao Chỉ lên Nam Kinh. Vào năm 980, một số Giáo Sĩ thuộc phái Cảnh Giáo (Nestoriens) đã từ Bắc Việt đến Trung Quốc. Ðể minh chứng cho giả thuyết đạo Chúa được truyền đến Việt Nam từ lâu, các sử gia cho biết vào thời vua Lê Anh Tông (1557-1573), khi sửa chữa lại một vài đền cổ, người ta tìm thấy hình một Thập Tự rất cổ trong một bức tường. Khi được trình tâu việc này, vua Lê Anh Tông đã cho trọng đãi các nhà truyền giáo Tây Phương, nhờ đó việc truyền giáo trước kia vốn bị cấm nay được dễ dãi hơn. Dựa vào những tài liệu trên, một số sử gia cho rằng Cơ-đốc giáo đã được truyền bá đến Việt Nam khá lâu, từ trước thời kỳ Cải Chánh Giáo Hội. Công cuộc truyền giáo có thể khởi đầu từ những thế kỷ đầu tiên của công nguyên. Sau đó, Cơ-đốc Giáo bị cấm đoán và bị tiêu diệt mãi cho đến đầu thế kỷ 16 mới phát triển trở lại. Tuy nhiên, công cuộc truyền giáo vào Việt Nam được biết rõ và được sử sách ghi nhận chính thức chỉ bắt đầu từ thế kỷ 16. Sách Khâm Ðình Việt Sử, thời Nguyễn, do Quốc Sử Quán biên soạn, ghi lại rằng: Nguyên hòa nguyên niên đời vua Lê Trang Tông (1532-1533) có một Dương nhân (người Tây Phương) tên là I-nê-khu đi đường biển lén vào giảng đạo Gia-tô ở làng Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chân (tức Nam Trực) và ở làng Trà Lũ, huyện Giao Thủy thuộc tỉnh Nam БNguyên Khi ấy, vua Lê Trang Tông đã ra lệnh cấm đạo nghiêm nhặt. Các tín hữu bị bắt bớ. Việc truyền giáo chỉ được dễ dàng một chút về sau vào thời vua Lê Anh Tông như đã nhắc ở trên. Vào thế kỷ 16, lãnh thổ Việt Nam chỉ gồm có miền Bắc và vài tỉnh miền Trung ngày nay, tuy nhiên nước Việt đã có mầm mống chia đôi. Sau khi Lê Cung Hoàng bị Mạc Ðăng Dung cướp ngôi (1546), một triều thần nhà Lê là Nguyễn Kim đã cùng con rể là Trịnh Kiểm đánh đuổi nhà Mạc, tái lập nhà Lê, gọi là Lê Trung Hưng tức Nam Triều. Tuy nhiên, nhà Mạc (Bắc Triều) vẫn còn chiếm giữ nhiều vùng đất phía Bắc và tìm cách khôi phục quyền hành. Mạc Mậu Hợp (1562-1592), muốn khôi phục lại nhà Mạc và mưu tìm sự hậu thuẫn của Tây Phương nên đã viết thư sang Manila (Philippines) mời các linh mục sang truyền giáo tại Việt Nam. Sau khi nhận được thư của Mạc Mậu Hợp, năm 1578 các tu sĩ dòng Franciscan từ Philippines đến Việt Nam truyền bá Công giáo. Ðến năm 1615, các tu sĩ Jesuit - Dòng Tên - lại tiếp bước các tu sĩ dòng Franciscan đến Việt Nam. Sau khi thắng nhà Mạc, hai họ Trịnh Nguyễn phân tranh và nước Việt Nam bị chia đôi. Giữa bối cảnh ấy, công việc truyền giáo tại Việt Nam trong thời kỳ đầu vẫn có nhiều kết quả khả quan. Theo sử sách, đến năm 1639, tại Ðàng Ngoài (miền Bắc) đã có 80.000 tín đồ và tại Ðàng Trong (miền Trung) có 50.000 tín đồ Công Giáo. Trong hai thế kỷ tiếp theo, tín đồ Công Giáo tại Việt Nam bị bắt bớ dữ dội. Ðến đời vua Tự Ðức, ước tính có đến 130.000 giáo hữu Việt Nam tử vì đạo. II. Quá trình phiên dịch Kinh Thánh sang Việt Ngữ: Khi mới đến Việt Nam, để cho việc truyền giáo được hiệu quả, các tu sĩ dòng Tên đã dành nhiều thì giờ tìm hiểu văn hóa, tập quán của dân Việt. Vì chữ Nôm khó học nên các giáo sĩ đã nghĩ đến một phương pháp mới dùng mẫu tự La Tinh để ghi âm tiếng Việt Nam, về sau gọi là chữ Quốc Ngữ. Trong giai đoạn phôi thai của loại chữ viết mới, Linh Mục Gaspard de Amaral đã soạn cuốn Từ Vựng Việt Nam - Bồ-đào-nha bằng chữ Quốc Ngữ. Linh Mục Antoine de Barbosa soạn tiếp cuốn Từ Vựng Bồ-đào-nha - Việt Nam. Dựa vào đó, về sau Linh Mục Alexandre de Rhodes hệ thống lại và soạn ra bộ Từ Ðiển Việt Nam - Bồ-đào-nha - La Tinh. Sách nầy được phát hành tại La Mã vào năm 1651. Linh Mục Alexandre de Rhodes cũng xuất bản một số sách  khác bằng chữ Quốc Ngữ và ông được xem là cha đẻ của chữ Quốc Ngữ như chúng ta biết. Sau đó, chữ Quốc Ngữ đã thay thế chữ Nôm trở thành chữ viết chính thức của người Việt. Mặc dầu chữ Quốc Ngữ được phát minh từ thế kỷ 17 với mục đích phổ biến đạo Chúa, nhưng phải mất gần 250 năm sau, đến năm 1872, Giáo Hội Công Giáo mới phát hành những phần Kinh Thánh rời rạc đầu tiên bằng Việt Ngữ. Suốt gần 100 năm kế tiếp, các bản dịch Kinh Thánh Việt Ngữ của Giáo Hội Công Giáo chỉ nhằm phục vụ cho hàng giáo phẩm, chứ không phổ biến rộng rãi cho giáo dân. Mãi đến sau Cộng Ðồng Vatican II (1963), Giáo Hội Công Giáo Việt Nam mới thực hiện những nỗ lực đáng kể để phiên dịch và phổ biến Kinh Thánh bằng Việt Ngữ. Về phía Giáo Hội Tin Lành, trước khi Tin Lành được truyền bá vào Việt Nam, một số sách Phúc Âm đã được dịch ra tiếng Việt với mục đích chuẩn bị cho công việc truyền giáo. Chỉ năm năm sau khi Tin Lành truyền đến Việt Nam (1911), vào năm 1916 các nhà lãnh đạo Hội Thánh Tin Lành đã bắt đầu cho phiên dịch toàn bộ Kinh Thánh sang tiếng Việt. Công trình này kéo dài gần 10 năm và đến năm 1926, các tín hữu Tin Lành Việt Nam đã có bộ Kinh Thánh đầu tiên bằng ngôn ngữ của mình. Căn cứ trên những tài liệu từ Giáo Hội Tin Lành, Giáo Hội Công Giáo, và tài liệu của Thánh Kinh Hội Liên Hiệp (United Bible Societies - UBS), quá trình phiên dịch và xuất bản Kinh Thánh Việt Ngữ có thể sơ lược như sau: *Vào năm 1872, Giáo Hội Công Giáo xuất bản một cuốn sách hướng dẫn về giáo nghi, trong đó có dịch một số sách Phúc Âm trong Kinh Thánh. Cuốn sách trên được phát hành tại Bangkok, Thái Lan vào năm 1872. *Về phía Giáo Hội Tin Lành, vào năm 1890, M. Bonnet, Giáo Sư của trường Ngôn Ngữ Ðông Phương tại Paris (Paris School of Oriental Languages), đã dịch Phúc Âm Luca sang tiếng Việt. Khi dịch Phúc Âm Luca, Giáo sư Bonnet đã dùng bản Kinh Thánh Pháp văn Ostervald để dịch. Sau khi dịch xong, Phúc Âm Luca đã được Thánh Kinh Hội Anh Quốc (British & Foreign Bible Society - BFBS, Paris) xuất bản tại Paris. Năm 1898, Phúc Âm Luca tái bản lần đầu tiên. *Năm 1899, Thánh Kinh Hội Anh Quốc (BFBS) cho xuất bản Phúc Âm Mác tại Singapore. *Năm 1900, Thánh Kinh Hội Anh Quốc (BFBS) xuất bản Phúc Âm Giăng và đến năm 1903 lại xuất bản sách Công Vụ Các Sứ Ðồ tại Paris. Hai bản dịch nầy do Walter James, nhân viên của Thánh Kinh Hội Anh Quốc, thực hiện. *Năm 1913, Giáo Sĩ P.M. Hosler thuộc Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp (CM&A) đã dịch lại Phúc Âm Mác. Bản dịch nầy được xuất bản năm 1913 tại Ngô Châu (Wuchow), thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Hoa. *Năm 1913-1914, Giáo Hội Công Giáo đã xuất bản Thánh Kinh Cựu Ước. Bản dịch nầy được in song ngữ với bản La-tinh Vulgate. Ðến năm 1916, Giáo Hội Công Giáo phát hành Tân Ước và cũng in song ngữ, một bên là chữ Việt, một bên là chữ La Tinh theo bản Vulgate. Bản dịch nầy do Linh Mục Albert Schlicklin thực hiện, dịch từ bản Kinh Thánh La Tinh Vulgate, là bản Kinh Thánh được Vatican chính thức công nhận. Linh Mục Albert Schlicklin thường được các học giả Công Giáo Việt Nam gọi là Cố Chính Linh. Bản dịch Kinh Thánh trên được các giáo sỉ thuộc Hội Thừa Sai Paris (Société des Missions Étrangères de Paris) tại Hong Kong phát hành. *Năm 1917, Thánh Kinh Hội đã xuất bản Phúc Âm Mác tại Hà Nội. Có lẽ đây là phần Kinh Thánh đầu tiên của Giáo Hội Tin lành in tại Việt Nam. *Năm 1918, Thánh Kinh Hội xuất bản Phúc Âm Giăng và Sách Công Vụ tại Thượng Hải, Trung Quốc. Năm 1919, lại tiếp tục xuất bản Phúc Âm Mathiơ. Ðến năm 1922, xuất bản sách Sáng thế Ký, Xuất Ê-díp-tô Ký, Luca; tái bản Phúc Âm Mathiơ; đồng thời xuất bản lại ba sách Phúc Âm Mác, Phúc Âm Giăng và Công Vụ đã được sửa chữa. *Năm 1923, Thánh Kinh Hội Anh Quốc xuất bản Kinh Thánh Tân Ước tại Hà Nội. Toàn bộ Kinh Thánh được thực hiện xong vào năm 1925 và xuất bản vào năm 1926 tại Thượng Hải, Trung Hoa. Bản dịch này do một nhóm học giả gồm có cụ Phan Khôi, ông bà Giáo Sĩ William C. Cadman, Giáo Sĩ John D. Olsen thực hiện với sự giúp đỡ của một số thành viên khác trong đó có: cụ Trần Văn Dõng, sinh viên trường Cao Ðẳng Ðông Dương, cụ Tú Phúc và vài học giả khác. Tuy nhiên người phiên dịch chính là cụ Phan Khôi. Trong suốt 70 năm qua, bản Kinh Thánh nầy được tục bản nhiều lần tại Anh Quốc, Hong Kong, Hoa Kỳ, Ðức, Ðại Hàn và Việt Nam. Ðây là bản Kinh Thánh Việt Ngữ được ấn hành và xử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Mặc dù chúng ta không có số liệu thống kê chính thức nhưng ước tính mỗi lần tái bản Kinh Thánh từ 5.000 - 10.000 cuốn; trong suốt 70 năm qua, số Kinh Thánh phát hành đã được vài trăm ngàn cuốn. Có lẽ đây là cuốn sách Việt Ngữ được phát hành nhiều nhất từ trước đến nay. *Năm 1925, Giáo Hội Công Giáo xuất bản cuốn Các Sách Phúc Âm, do Linh Mục Marcos Gisper Forcadell thực hiện. *Năm 1932, Thánh Kinh Hội Anh Quốc (BFBS) cho phát hành Phúc Âm Mác và Phúc Âm Giăng bằng chữ Nôm. Hai Phúc Âm nầy được in tại Thượng Hải, Trung Hoa. *Năm 1951, Thánh Kinh Hội Anh Quốc (BFBS) tại Hong Kong đã cho xuất bản sách Giăng và sách Công Vụ. Bản dịch mới nầy do cụ Mục Sư Ông Văn Huyên, Giáo Sỉ John D. Olsen, Mục sư Nguyễn Văn Vạn và Mục Sư Phan Ðình Liệu thực hiện. *Năm 1952, Thánh Kinh Tân Ước Nhuận Chánh được dịch xong. Ban Chấp Hành Trung Ương của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam chấp nhận và cho phép ấn hành. *Năm 1954 Thánh Kinh Hội Anh Quốc cho phát hành bản dịch Tân Ước Nhuận Chánh nêu trên tại Sài Gòn. Sau đó, bản dịch nầy được tái bản và tục bản nhiều lần vào những năm 1957, 1960, 1968. Bản dịch Tân Ước nầy được các học giả gọi là Bản Dịch Việt Văn 1952. *Năm 1961, một bản dịch Thánh Kinh Tân Ước toàn bộ khác được các tu sĩ Dòng Ða Minh xuất bản tại Sài Gòn. *Năm 1962, Thánh Tâm Biệt Thư tại Ðà Lạt đã xuất bản Ngũ Kinh Môi Se, Thi Thiên và Thánh Kinh Tân Ước do Linh Mục Gérard Gagnon thực hiện. *Năm 1963, Thánh Tâm Biệt Thư tại Ðà Lạt lại tiếp tục xuất bản những phần còn lại của Thánh Kinh Cựu Ước gồm những sách từ Giô Suê cho đến sách Gióp và các sách tiên tri từ Ê-sai cho đến Malachi. Những sách nầy cũng do Linh Mục Gérard Gagnon thực hiện. *Năm 1969, nhà xuất bản Ðức Mẹ tại Sài Gòn phát hành Thánh Kinh Tân Ước do Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn phiên dịch. *Năm 1969, Thánh Kinh Hội Việt Nam cho ấn hành các sách Công Vụ, Phi-lê-môn, Gia-cơ, I & II Phi-e-rơ tại Sài Gòn. Ðây là một phần trong một đề án phiên dịch mới gọi là Bản Dịch Phổ Thông của Thánh Kinh Hội Việt Nam. *Năm 1970, Linh Mục Trần Hữu Thanh đã sửa chửa lại bản dịch của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn cho phổ cập lại với giọng văn hiện đại và xuất bản cuốn Thánh Kinh Tân Ước nầy để xử dụng trong Nha Tuyên Úy Công Giáo của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. *Năm 1970, Thi Sĩ Nguyễn Xuân Hồng đã dịch Phúc Âm Mác, được in với nhan đề Vào Ðời. Bản dịch mới nầy được phòng sách Tin Lành Sài Gòn xuất bản. Công tác phiên dịch và xuất bản đã được thực hiện dưới sự hổ trợ của Living Bible International (LBI). *Năm 1971, nhà xuất bản Ra Khơi tại Sài Gòn đã phát hành Kinh Thánh toàn bộ do Linh Mục Trần Ðức Huân thực hiện, với sự giúp đỡ của một Ủy Ban Phiên Dịch. Ủy ban nầy đặt dưới sự hướng dẩn và kiểm soát của Giám Mục Trương Cao Ðại. *Năm 1973 Thánh Kinh Hội Việt Nam lại cho xuất bản tiếp các sách Phúc Âm Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca, Giăng, cùng với sách Công Vụ đã được hiệu đính. *Theo tài liệu của Thánh Kinh Hội Quốc Tế Liên Hiệp (UBS), những sách vừa phát hành nêu trên cùng những sách đã được Thánh Kinh Hội Việt Nam phát hành vào năm 1969 là những sách đã được dịch xong của một bản dịch mới gọi là Bản Phổ Thông (Common Language Version) do các dịch giả gồm: Mục Sư Lê Hoàng Phu, Mục Sư Lê Vĩnh Thạch, Mục Sư Nguyễn Xuân Hồng, ông Nguyễn Văn Nha cùng một số các vị khác thực hiện. Tuy nhiên, bản này chỉ in rời rạc mà không hoàn tất. *Năm 1975, World Home Bible League tại South Holland, Illinois phát hành một bản dịch sách Phúc Âm Mác mới. *Năm 1976, toàn bộ Kinh Thánh do Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn thực hiện đã được phổ biến tại Sài Gòn. Phần Tân Ước trong bản dịch này được phiên dịch từ nguyên văn Hy Lạp. Tuy nhiên, do tình hình chính trị tại Việt Nam không thuận lợi cho việc xuất bản Kinh Thánh cho nên năm 1980, các Linh Mục dòng Chúa Cuu Thế tại La Verne, California đã cho xuất bản toàn bộ bản dịch Kinh Thánh của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn tại California. *Năm 1982, Hội Living Bible International tại Hong Kong đã phát hành Thánh Kinh Tân Ước do Mục Sư Tiến Sĩ Lê Hoàng Phu thực hiện. Bản dịch mới này thường được đọc giả biết đến dưới tên Thánh Kinh Tân Ước Diễn Ý. *Cũng vào đầu thập niên 1980, Giáo Hội Công Giáo phát hành bản dịch Kinh Thánh Tân Ước do Hồng Y Trịnh Văn Can thực hiện, tại Hà Nội. Bản dịch này được Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tái bản lần thứ nhất vào năm 1985 tại Orange County, CA. *Vào năm 1987, Vietnamese Bible Inc. được thành lập tại Midland, Texas, với mục đích thực hiện một bản dịch Kinh Thánh Việt Ngữ trung thực, hiện đại, truyền đạt được chân lý của Chúa. Lúc đầu, Vietnamese Bible Inc. do các Mục Sư Baptist Việt Nam khởi xướng, nhưng sau đó dự án đã mở rộng và mời các Mục Sư thuộc các giáo phái Tin Lành khác nhau cùng cộng tác. Thành phần của Ủy Ban Phiên Dịch hiện nay gồm có các Mục Sư Lê Hoàng Phu, Võ Ngọc Thiên Ân, Trần Ðào, Nguyễn Hữu Cương, Mai Hữu Phước, Nguyễn Minh Thắng, Nguyễn Xuân Hà và bà Phạm Xuân. Năm 1991, Vietnamese Bible Inc. tại Midland, TX. đã phát hành thử nghiệm một bản dịch bốn sách Phúc Âm. Bản thảo Tân Ước cũng đã thực hiện xong, hiện nay đang được hiệu đính. Toàn bộ Tân Ước dự tính sẽ in trong tháng 2/1996. Hiện nay, đề án dịch toàn bộ Kinh Thánh của Vietnamese Bible Inc. vẫn đang tiếp tục thực hiện. * Năm 1994, toàn bộ Thánh Kinh do Mục Sư Lê Hoàng Phu và ba dịch giả phiên dịch đã được Thánh Kinh Hội Quốc Tế (International Bible Soceity - IBS) và Văn Phẩm Nguồn Sống phát hành vào tháng 6/1994 tại Anaheim, California. *Năm 1994, Tòa Tổng Giám Mục tại Thành Phố Hồ Chí Minh đã xuất bản 30.000 Thánh Kinh Tân Ước. Công trình này được thực hiện bởi Linh Mục Hoàng Ðắc Ánh và Linh Mục Trần Phúc Nhân. Việc xuất bản Kinh Thánh do cơ quan Thánh Kinh Hội Quốc Tế (IBS) bảo trợ. Vào năm 1973, Thánh Kinh Hội Quốc Tế đã tổ chức một khóa huấn luyện cho các nhân viên phiên dịch Kinh Thánh tại Ðà Lạt. Ðại diện của các giáo phái Tin Lành và Công Giáo đã đến tham dự. Các đại biểu đã bàn thảo về một đề án phiên dịch Kinh Thánh dựa theo khuôn mẫu bản dịch Jerusalem là bản dịch mà cả hai giáo hội Công Giáo và Tin Lành cùng phối hợp thực hiện. Năm 1974, Mục Sư Nguyễn Thỉ và Mục Sư Trần Ðào đại diện cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam bàn thảo với quí Linh Mục Hoàng Ðắc Ánh và Linh Mục Trần Phúc Nhân về những đường lối và nguyên tắc thực hiện. Rất tiếc, biến cố 30/4/1975 xảy ra, các Mục Sư Nguyễn Thỉ và Trần Ðào ra đi, hai Linh Mục Công Giáo ở lại tiếp tục dự án phiên dịch Kinh Thánh. Năm 1985 Thánh Kinh Tân Ước được dịch xong và đã được Tòa Tổng Giám Mục Giáo Phận Thành Phố Hồ Chí Minh phát hành vào năm 1994 với sự hổ trợ của Thánh Kinh Hội Liên Hiệp (UBS) *Năm 1995, toàn bộ Kinh Thánh của Giáo Hội Tin Lành đã được tái bản tại Ðà nẵng (Việt Nam). Bộ Kinh Thánh tái bản lần này là bản Kinh Thánh 1926. Việc tái bản này do Hội Thánh Tin Lành Việt Nam thực hiện với sự hổ trợ của Thánh Kinh Hội Liên Hiệp (UBS). Ðây là bản Kinh Thánh đầu tiên của Giáo Hội Tin Lành Việt Nam được phép in và phát hành dưới chế độ cộng sản Việt Nam. *Năm 1996, Phúc Âm Giăng do Mục Sư Ðặng Ngọc Báu dịch từ nguyên văn Hy Lạp đã xuất bản tại San Diego, CA. Bản dịch mới này được dùng làm tài liệu chứng đạo cho thân hữu. *Hiện nay, ngoài dự án phiên dịch Kinh Thánh sang Việt Ngữ của Vietnamese Bible Inc., một vài Mục Sư Việt Nam cũng đang thực hiện một đề án khác để phiên dịch một bản Kinh Thánh mới theo nguyên tắc bản dịch New International Version (NIV) trong Anh Ngữ. IIITương Lai: Theo một thống kê mới đây, trong số gần 6.000 ngôn ngữ hiện đang được xử dụng trên thế giới, tiếng Việt là một trong 20 ngôn ngữ được dùng phổ thông nhất. Tính đến cuối năm 1995, dân số Việt Nam là 76 triệu người. Ngoài ra còn có hơn hai triệu người Việt tại hải ngoại. Như vậy, đã có khoảng 78 triệu người xử dụng tiếng Việt. Trong tương lai, số người xử dụng Việt Ngữ tiếp tục tăng nhanh, do đó nhu cầu cần có một bản dịch Thánh Kinh Việt Ngữ chuẩn xác, trong sáng, lưu loát là một vấn đề quan trọng mà Hội Thánh Việt Nam cần phải lưu tâm. Hiện nay, việc dịch Kinh Thánh trên thế giới có ba khuynh hướng chính: 1.Khuynh hướng thứ nhất là phương pháp dịch từng chữ một (word-for-word). Nguyên tắc căn bản của phương pháp này là các dịch giả phải tìm từ hoặc ngữ - đồng nghĩa với từ, ngữ trong nguyên bản. Cấu trúc mệnh đề và văn mạch cũng phải theo sát nguyên bản. Nhược điểm của phương pháp này: do dịch giả phải dịch sát nghĩa của từ ngữ trong nguyên bản nên cách hành văn trong bản dịch thường không phổ thông và dẫn đến khó hiểu. Ưu điểm của phương pháp này là diễn đạt gần trọn vẹn ý nghĩa của nguyên bản. Trong các bản dịch sang Anh Ngữ, tiêu biểu cho phương pháp này là bản dịch King James (KJV). Bản dịch Việt Ngữ theo phương pháp này là bản dịch 1952. 2.Khuynh hướng thứ hai, các dịch giả dùng những từ ngữ và thành ngữ phổ thông để diễn đạt ý chính của nguyên tác cách lưu loát và dễ hiểu. Phương pháp này có ưu điểm nổi bật là đọc giả khi đọc bản dịch, họ có thể dễ dàng thấu đáo được nội dung bản văn. Tuy nhiên, khuyết điểm của phương pháp này là bản dịch nhiều khi không thể hiện hết tất cả ý nghĩa khác trong nguyên bản. Trong các bản dịch Anh Ngữ, tiêu biểu cho khuynh hướng này là bản dịch The Living Bible (LBV). 3.Khuynh hướng thứ ba chú trọng vào ưu điểm của hai phương pháp trên. Theo phương pháp này, các học giả vừa tìm cách dịch uyển chuyển nhưng cố gắng sao cho từ ngữ trong bản dịch phải vừa phổ thông, vừa chính xác, trung thực với nguyên bản, đồng thời cách hành văn phải lưu loát, cập nhật, dễ đọc, dễ hiểu. Tiêu biểu cho bản dịch theo khuynh hướng này là bản Kinh Thánh New International Version (NIV). Về Việt Ngữ, hiện nay chưa có bản Kinh Thánh nào hoàn tất theo phương pháp này. Mặc dầu có ba khuynh hướng chính nêu trên, nhưng trên thực tế khi tiến hành dịch thuật Kinh Thánh, tùy theo từng hoàn cảnh khác nhau, các dịch giả có khi uyển chuyển dùng hai hoặc  cả ba phương pháp cùng một lúc. Nhìn về tương lai, để góp phần mở mang công việc Chúa, Cộng Ðồng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam nên thực hiện những dự án sau: *Hoàn tất bản dịch của Vietnamese Bible Inc. *Thực hiện một bản dịch mới tương tự bản dịch NIV trong Anh Ngữ. *Hiệu đính bản dịch 1926. *Phối hợp với Thánh Kinh Hội Quốc Tế đưa toàn bộ những bản dịch Việt Ngữ đã có, cùng với một số bản Anh Ngữ phổ thông, các bản cổ văn bằng Hebrew và Greek, Thánh Kinh Tự Ðiển, Kinh Tiết Sách Dẫn vào Compact Disk (CD). Công trình này sẽ mang lại những hiệu quả thiết thực và lâu dài trong việc phổ biến và nghiên cứu lời Chúa trong tương lai. Hiện nay số sinh viên đã tốt nghiệp Computer Engineer hoặc Computer Science trong các Hội Thánh Việt Nam tại Hoa Kỳ lên đến hàng trăm người. Nếu Hội Thánh có dự án cụ thể và kêu gọi những anh chị em này đóng góp khả năng thì công trình này có thể thực hiện được. *Cần có một web site để phổ biến Thánh Kinh Việt Ngữ trên Internet cho người Việt khắp thế giới. *Phổ cập những chương trình huấn luyện Kinh Thánh Căn Bản và Sơ Cấp cho các tín hữu. Phát triển những khóa học Kinh Thánh Ðoản Kỳ, Thánh Kinh Mùa Hè, Thánh Kinh Tiểu Học Ðường cho thế hệ trẻ tại nhiều địa phương. *Nâng cao pham chất đào tạo người hầu việc Chúa qua các chương trình trung cấp, đại học và cao học. *Ðào tạo những học giả Thánh Kinh, những nhà Thần Học cho Hội Thánh Việt Nam. Cầu nguyện và hổ trợ để Hội Thánh Việt Nam sớm có những đày tớ Chúa có bằng Ph.D. về Thần Học và Kinh Thánh. *Soạn thảo và phiên dịch thêm những sách giải nghĩa Kinh Thánh Việt Ngữ. *Phác thảo những dự án cần thiết nhằm tận dụng những phương tiện sách báo, truyền thanh, truyền hình, phim ảnh, âm nhạc, kịch nghệ, ... để phổ biến lời Chúa cho dân tộc Việt Nam. *Hổ trợ cho các dự án phiên dịch Kinh Thánh sang các ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Trong quá khứ, tiên tri Ô-sê ghi nhận rằng: ‘Dân ta bị diệt vì cớ thiếu sự thông biết.’(Ô-sê 4: 6). Ngày nay hằng triệu người Việt đang bị hư mất vì không biết lời Chúa. Tiếp bước những thế hệ hầu việc Chúa tiền phong, ước mong mỗi người chúng ta hãy làm hết sức mình để lời Chúa sớm được rao truyền khắp mọi miền trên quê hương cũng như tại các cộng đồng người Việt khắp năm châu. Mong rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ vui mừng khi có hằng triệu người Việt hiểu rõ lời Chúa và bằng lòng tiếp nhận Chúa. Phước Nguyên Tháng 1/1996 Trích Báo Linh Lực

  • 0 Thiên Chúa Thực Hữu - Sự Sống Là Gì? - Nguyễn Sinh

    Ðây là một lãnh vực mong manh nhất đối với kiến thức của các nhà khoa học.  Môn khoa học thực nghiệm chủ trương về sự tính toán, cân đo và làm các thí nghiệm trong phòng Lab; tuy nhiên, không một ai có thể dùng cân để cân sự sống nặng bao nhiêu?  Không ai có thể dùng thước để đo các chiều kích của sự sống được.  Cũng chẳng có ai có thể biết được sức mạnh của sự sống làm cho cây đâm chồi nẩy lộc, nở hoa, và mọc rể. Chúng ta có thể hình dung về sự sống như một nhạc sĩ vô hình dạy chim hát líu lo, như là một họa sĩ đều đặn tô mầu cho hoa và lá.  Sự sống như là một nhà hóa học liên tục mang hương vị đến cho hoa quả, biến đổi nước và Acid Carbonic thành đưòng bột gỗ để rồi từ đó tỏa ra Oxy cho mỗi động vật có được sự sống.  Sự sống này phát xuất từ tế bào, từ trong nguyên sinh chất Gene, DNA.  Vậy nguyên thủy của sự sống từ đâu?  Càng suy nghĩ tìm tòi, các khoa học gia biết được rằng sự sống có được đây quả thật là lạ lùng.  Câu hỏi nêu lên rằng ai đã đặt để sự sống vào cõi tạo vật, cây, hoa, lá, sinh vật, kể cả con ngưòi?  Có phải là một tình cờ hay ngẩu nhiên chăng? Có một số ngưòi chủ trương rằng sự sống trên đất là do tình cờ. Nhưng các khoa học gia chân chánh thì không tin điều này là hợp lý. Do các công trình khảo cứu, tìm tòi, thử nghiệm, đối chiếu, các nhà khoa học đành phải công nhận rằng sự sống trên đất đòi hỏi những điều kiện thật chính xác, và dĩ nhiên, các điều kiện ắt có và đủ này không thể nào do sự tình cờ mà có được.  Trái lại, nó phải được điều khiển bởi một Ðấng-Huyền-Nhiệm (GOD) trong một trật tự nhất định.  Tối thiểu cũng phải có 10 điều kiện sau đây:   Phải có không khí Phải có nước Phải có ánh sáng Ðịa cầu phải quay.  Trái đất tự xoay trên một trục của nó khoảng 1,000 dặm/giờ.  Nếu quả đất quay chậm hơn, kết quả sẽ là ngày và đêm kéo dài hơn, sức nóng của mặt trời sẽ thiêu cháy cây cỏ lúc ngày, làm tàn héo các mầm non vào lúc đêm. Phải có sức nóng vừa phải.  Mặt trời nóng liên tục 12,000 độ F.  Quả đất được đặt ở một tầm vừa phải để có sự sống.  Vì lẽ nếu mặt trời nóng hơn hoặc nguội hơn thì đều gây nên tai hại cho sự sống trên địa cầu này. Trục trái đất phải nghiêng, nhờ sự nghiêng 23 độ mà quả đất có được bốn mùa xoay vần trong năm.  Nếu hành tinh này không nghiêng thì rất nguy hại cho sự sống.  Tại sao?  Vì hơi nưóc bốc lên từ các đại dương sẽ hội tụ tại  Nam và Bắc cực.  Kết quả xảy ra là sẽ tạo nên các lớp băng giá dày, dần dần chúng sẽ hủy diệt sự sống. Mặt trăng không thể gần địa cầu này hơn nữa.  Nếu nguyệt cầu gần quả đất hơn sẽ tạo nên thủy triều mạnh mẽ, nước của các đại dương sẽ tiếp tục dâng tràn và các lục địa sẽ bị chìm ngập trong bể nước mà thôi. Vỏ của địa cầu không được dày hơn.  Nếu mọi nơi trên quả đất dày hơn thêm vài thưóc thì không có đủ Oxy để duy trì sự sống. Các đại dương sẽ không được sâu hơn.  Nếu các biển cả khắp nơi sâu thêm vài thước nữa thì khí Carbonic và Oxy sẽ bị thiếu hụt mất, và hậu quả là các thảo mộc sẽ chết hết.  Bầu khí quyển không được dày hơn.  Vì nếu dày hơn thì số sao băng sẽ gia tăng.  Sao băng là gì?   Ðấy là những tảng đá vĩ đại trong vũ trụ va chạm vào lớp khí quyển và bị bốc cháy.  Khi các sao băng này gia tăng và bị bốc cháy như thế thì hậu  quả sẽ ra sao nào? Các khối lửa khổng lồ này sẽ rơi trên mặt quả đất tạo nên những vụ hoả hoạn thiêu hủy sự sống.   Trên đây chỉ là 10 điều kiện trong vô số điều kiện phải xảy ra cùng một lúc để có sự sống trên địa cầu này. Sự sống trên đất này không do tình cờ hay ngẩu nhiên mà có.  Vậy chỉ còn phải tin rằng có một bàn tay nhiệm mầu đã sắp đặt có hệ thống,  một cấu trúc vô cùng kỳ lạ lùng đã được điều khiển từ bàn tay của một kiến trúc sư đại tài thiết dựng.  Sự tình cờ, ngẩu nhiên không thể nào đưa đến kết quả là vũ  trụ có trật tự để dẫn đưa đến sự sống.  Tôi tin rằng các quí vị sẽ đồng ý 100% với các khoa học gia. Nay tôi xin được hỏi quí vị có  đồng ý để cho Ðấng-Tối-Cao-Toàn-Năng (GOD) ấy sắp đặt, và cai quản đời  sống của quí vị hay không? Trong thời tối thượng cổ của Quốc gia Do-thái có một hoàng đế tên Salomon.  Ông đã được mô tả là vị vua rất thông minh, uyên bác, ông rất giầu có và nắm quyền lực trong tay; tuy nhiên, Hoàng đế Salomon cũng đã phải thốt lên: “Các tầng trời rao truyền sự vinh quang của Thiên Chúa, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm.”  (Thánh Vịnh 19:1) Câu trên đây rất đúng trên lãnh vực khoa học và cũng rất đúng về bình diện thuộc linh.  Thánh Kinh chép “Ðức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy.” (Hê-bơ-rơ 11:1) Ðối với vấn đề Thiên Chúa hiện hữu, chúng ta có thể kể ra ba hạng người:   Họ đòi hỏi mình phải thấy được dung nhan của Thiên Chúa, có thấy mới tin.   Có một số ngưòi có thấy Thiên Chúa Ngôi Hai, Giê-xu Ky-tô,  song họ vẫn không tin.  Lúc còn tại thế, Chúa Giê-xu đã thực hiện vô số phép lạ, nhưng lòng ngưòi cứng cõi vẫn không tin Ngài. Khi Ðấng Giê-xu còn tại thế, ngài là nguồn của sự sống, như là ánh sáng tỏa sáng rực rở giữa trời đêm, nhưng tâm trí con ngưòi vẫn phủ nhận Ngài  và từ khưóc Ngài.  Vì lẽ có một bức màn che tâm trí và đôi mắt tâm linh của họ.  “Trước khi sáng tạo vũ trụ đã có Logos, Logos ở cùng Thiên Chúa và Logos là Thiên Chúa.  ngay từ ban đầu Logos đã ở cùng Thiên Chúa.  Tất cả đều đưọc Logos sáng tạo. Không gì hiện hữu mà không do Logos.  Trong Ngài có nguồn sự sống và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.  Ánh sáng toả ra trong bóng tối và bóng tối không khống chế được ánh sáng. (Giăng 1: 1-5)  “Ánh sáng thật này (Logos) đã đến trần gian soi sáng mọi ngưòi.” (Giăng 1: 9)   ] Logos là Ðấng Giê-xu Ki-tô cũng là GOD, Ðấng sáng tạo vũ trụ và con người. Có nhiều người đã thấy được một phần và có đức tin để tin thiên Chúa cách trọn vẹn. Quí vị đang ở trong thành phần nào?  Các con dân Chúa (Christians)  gồm có những ai đã tin nhận Thiên Chúa, họ thuộc thành phần thứ ba trên đây.  Bởi đức tin, các con dân của Chúa thấy Chúa qua công trình sáng tạo vũ trụ và con ngưòi, một tiểu vũ trụ.  Hiện nay, mắt chúng tôi chưa nhìn thấy Thiên Chúa mặt đối mặt, nhưng tất cả chúng tôi đều tin chắc chắn về một Thiên Chúa thực hữu. Ðại lễ kỷ niệm Chúa Giê-xu nhập thế là một biến cố vô tiền khoáng hậu trong cõi nhân gian. Thiên Chúa Ngôi Hai nhập thể để trở nên ngưòi. Vì thế, Ngài hiểu và cảm biết được mọi nỗi khổ đau, bất lực, tuyệt vọng của con ngưòi.  Sau hết, Ðấng Giê-xu Ky-tô hi sinh chịu làm một sinh tế chuộc tội cho nhân loại.  Không có sự đổ huyết của Giê-xu thì không có sự giải thoát con ngưòi thoát khỏi cùm kẹp, xiềng xích của tội lỗi và bởi Satan thống trị.  Sự chết chuộc tội của Ðấng Giê-xu chỉ một lần duy nhất, vì  “mọi sự đều được trọn.”  Công tác cứu chuộc tội lỗi con ngưòi trước Thiên Chúa đã hoàn tất. Nếu không có sự chết khổ hình tại thập tự giá thì sẽ không có sự sống vinh quang đắc thắng tử thần.  Qua sự nhập thế của Chúa Ngôi Hai, qua sự chết  và sự phục sinh vinh quang của Ðấng Giê-xu Ky-tô đủ bảo đảm cho chúng ta biết Ngài đang hiện hữu, nắm mọi quyền bính trong tay.  Ðấng đang sống và sống đời đời.    Rất mong các bạn vô thần đừng hình dung Thiên Chúa là Ðấng chỉ có trừng phạt và quăng các bạn vào hỏa ngục. Trái lại, Ngài thương yêu các bạn.   Lời Thánh Kinh trong Phúc âm Giăng 3:16: “Vì Thiên Chúa thương yêu thế gian, đến độ đã ban Con-Duy-Nhất -Jêsus-  để ai tin Con ấy, không bị hư vong nhưng được sự sống vĩnh cửu.” Mong các bạn hãy hồi tâm và quay trở lại đầu phục Thiên Chúa, Ðấng sáng tạo vũ trụ và chính đời sống các bạn.  AMEN Nguyễn Sinh

  • 0 Hành Trình Từ Ghết-sê-ma-nê Đến Gô-gô-tha – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    Kính thưa quí vị: Từ Chúa nhật ngày 25-3-2018 là bắt đầu của Tuần lễ Thánh, Giê-xu vào thủ đô Giê-ru-sa-lem, Ngài đã được nhân dân Do-thái tung hô và họ xem Ngài như một vị Vua đến để giải phóng họ khỏi ách thống trị của đế quốc La-mã.  Tuy nhiên, Giê-xu đến trần gian lần I là để làm trọn kế hoạch cứu chuộc nhân loại bằng cách hi sinh chính sinh mệnh Ngài làm của lễ chuộc tội cho cả nhân loại trước mặt Chúa Cha. Thứ sáu ngày 30-3 là Good Friday, Chúa vào vườn Ghết-sê-ma-nê để cầu nguyện và sau đó Ngài bị bắt.   Hôm nay, xin mời quí vị cùng đồng hành với Chúa trên chặng hành trình từ Ghết-sê-ma-nê đến Gô-gô-tha.   Hành Trình Từ Ghết-sê-ma-nê Đến Gô-gô-tha – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh Kinh Văn:  Mác 14:32-36; 53-72 & 15: 1-41; 16:20 -  Ê-sai 53: 1-12.  Các câu Kinh Văn trích ra nơi đây từ Thánh Kinh - Bản dịch mới, Phiên dịch từ nguyên bản Hi-bá-lai và Hi-lạp - Arms of Hope 2002   Trong Mùa Chay, chúng ta hãy cùng nhau suy gẫm về nỗi thống khổ, sự đau đớn mà Chúa Ky-tô phải gánh chịu .  Thông thường, không ai trong chúng ta muốn đề cập đến sự khổ đau, của chính mình, hay của ngưòi trong gia đình ...  Hầu hết chúng ta  muốn tránh né nói đến những điều đau buồn vừa kể.  Trong Cơ-đốc giáo, Mùa Chay là cả một phước hạnh cho Hội thánh và con dân Chúa, bởi vì trong thời gian này, chúng ta cùng nhau suy gẩm Lời Chúa  như khi Ngài phán cùng các môn đệ: “Phải tỉnh thức và cầu nguyện để các con khỏi sa vào sự cám dỗ;  vì tâm linh thì mong muốn, nhưng thể xác lại yếu đuối.”  (Mác. 14: 38)  Đó là lý do của sự cử hành Mùa Chay: Canh thức và cầu nguyện để chuẩn bị cho sự cử hành thánh lễ Chúa Phục sinh.  Mùa Chay là thời điểm  để con dân Chúa làm cuộc hành trình từ vườn Ghết-sê-ma-nê đến đồi Gô-gô-tha với Cứu-Chúa. Trưóc giả Mác và Lu-ca đồng trước thuật về một câu chuyện, nhưng mỗi vị ghi lại với một sắc thái riêng.  Mác là chứng nhân, cũng là một phát ngôn nhân về Chúa Giê-xu Ky-tô là Đấng  Messiah, là Con của Thiên Chúa.  Mác viết cho độc giả ngưòi Do-thái cư ngụ  tại Kinh thành La-mã.   Trưóc giả Lu-ca, một nhà trí thức cũng là một y-sĩ thì viết cho độc giả ngưòi Hi-lạp thời bấy giờ.  Mác l5: 32:  Chặng đưòng Ghết-sê-ma-nê, trong nguyên văn Aramaic là “Press of oil”  nơi ép dầu.  Tại khu vườn Ghết-sê-ma-nê có vườn cây Olive là bất động sản tại chân núi Olive.  Y-sĩ Lu-ca không viết  “vườn  Ghết-sê-ma-nê” mà viết  “Chúa ra đi, lên núi  Olive” (Luca 22: 39) điều này cũng không có chi mâu thuẩn, bở vì ngưòi Hi-lạp sẽ không hiểu nếu Lu-ca viết "vườn Ghết-sê-ma-nê," vì thế Lu-ca viết về  một "nơi chốn" “the place,”  vườn cây Olive là nơi Chúa Giê-xu thưòng trải qua đêm tại nơi đó.  Chúa cùng  ba môn đệ là Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đến đấy để cầu nguyện.  Mác ghi lại Chúa “bắt đầu kinh hãi” trong nguyên văn được  dịch sang Anh ngữ là “astonished and to be distressed.” Có nhà giải kinh đã giải thích sự kiện này: “Sự đau đớn quá to lớn như sức nặng nghìn cân đè lên.” Hơn ba năm về trưóc, khi Giê-xu bắt đầu thánh vụ, Ngài đã chiến đấu, kiêng ăn cầu nguyện trong bốn muơi ngày đêm, suốt thời gian dài này, Chúa biết rằng Ngài phải gánh chịu cái án phạt của Thiên Chúa  trên dân sự Ngài.  Chúa đã nói trước với các môn đệ về sự thống khổ mà Ngài phải gánh chịu (Mác 10: 32-34)  “Chén Ta phải uống” (c.38) là nói đến nỗi đau khủng khiếp trong tâm linh Ngài. Chương 14: 34: “Linh hồn Ta đau buồn cho đến chết,”  cho chúng ta biết rằng những giờ phút sắp đến không phải là dịu dàng dễ chịu.  35a: “Chúa sấp mình xuống đất và cầu nguyện.” Thông thưòng, người Do-thái vào đền thờ Giê-ru-sa-lem đứng cầu nguyện.  Tại vườn cây Olive, Chúa sấp mình và cầu nguyện khẩn thiết, Ngài phải tranh chiến giữa ý riêng và ý Cha trên trời. “Nếu có thể được, giờ này qua khỏi con.” (c. 35b)   Đây là giờ đắng cay, giờ của các sỉ nhục, giờ của những nhạo cuời, khinh khi, vô lễ của nhóm lãnh đạo tôn giáo đương thời ném vào thân Ngài. 36: “A-ba” nguyên văn Aramic có nghĩa là “Cha,”  “my Father” chứng tỏ Giê-xu cầu nguyện với Chúa Cha trong ngôn ngữ thân thuộc trong gia đình. Một nhà giải kinh nói rằng “Chúa đã không liên kết các môn đệ trong khi khẩn cầu với Cha, nhưng Ngài chỉ nói đến chính Ngài và Cha, nói lên sự liên hệ thắm thiết giữa Con và Cha trên trời.”   Ý con, ý Cha, chén đắng cay nói về khổ hình, nói về sự trừng phạt về tội lỗi của Chúa Cha trên nhân loại mà Con Ngài phải gánh thế, nhưng cuối cùng Chúa vâng phục ý Cha hoàn toàn, một đầu hàng vô điều kiện với Cha trên trời, “nhưng không theo ý con mà là ý Cha.” (c.36 c) Tại vưòn Ghết-sê-ma-nê, Chúa muốn các môn đệ cùng thức canh và cầu nguyện.  Trong ba lần, khi Chúa trở lại với các môn đệ, Ngài thấy họ vẫn ngủ. (chương 14: 19-31)   Đây cũng là bức tranh về Hội thánh Chúa ngày nay đang ngủ thay vì canh thức và khẩn nguyện, nhưng các con dân Chúa lại ngủ, và khi Chúa trở lại thì có những ngưòi đang ngủ mê mệt. Chúa Bị Bắt Và Kết Án (chương 14: 43-65; chương 15:1-41) Giu-đa Ích-ca-ri-ốt xuất hiện, dẫn quân lính đến bắt Chúa, họ giải Ngài đến trước vị Thượng tế, họ tra hỏi, nhưng Chúa im lặng (E-sai 53:7) 26: 53: “Các con tưởng rằng Ta không thể xin Cha Ta và Ngài sẽ cấp  cho Ta hơn mưòi hai đạo thiên binh sao?”  Từ ngữ "đạo" đây trong nguyên văn là  “Legion” của thời đế quốc La-mã, đây là đơn vị cấp trung đoàn của thời đại ngày hôm nay, có khoảng 3,000-6,000  quân nhân.                                                                                      Số quân lính đến bắt Chúa gồm những người được tuyển mộ từ các chủng tộc khác sống tại Do-thái nhưng họ không phải là ngưòi Do-thái, họ được bổ nhiệm với nhiệm vụ canh giữ dinh của thống đốc  hoặc để bảo vệ khi ông ta đi kinh lý từ Sê-sa-rê đến Giê-ru-sa-lem. Các quân nhân này xem sự bắt giữ Chúa như một màn kịch vui để giải trí. Chương 15: 16-20: Họ chế nhạo, cưòi khinh khi, khạc nhổ trên Ngài, lấy sậy đánh trên đầu Ngài, đấm vào mặt Ngài ( ch. 14:65) và lấy áo mầu đỏ tía như của hoàng đế La-mã mặc cho Ngài, lấy mão đan bằng gai đội lên đầu Ngài và cho rằng Ngài là vua Hellenistic, là một đảng Cách mạng ngưòi Do-thái chống lại đế quốc La-mã.  Thay vì họ giam Ngài vào ngục tù, nhóm giáo phẩm Do-thái xui giục dân Do-thái đóng đinh Ngài trên thập tự giá, một hình phạt của kẻ chiến thắng trong cuộc chiến đối với kẻ bại trận.  Khi ấy, Hoàng đế Augustus ban hành sắc lệnh “The Lex Iula Maiestatis” để đóng đinh. Luật đánh roi của đế quốc La-mã  là một hình phạt vô cùng đau đớn kinh khiếp, tội nhân bị cột vào một trụ cột và bị đánh roi bởi quân lính, Phi-lát áp dụng luật này và sai quân lính đánh đòn Ngài trưóc khi đóng đinh (ch. 15: 15)                                                                                                                                                                                                                                                                                            Địa Danh Gô-gô-tha 15:20: “Sau khi chế diễu, họ lột áo tía ra, mặc áo của Ngài lại và dẫn đi để đóng đinh.” Theo Sử gia Josephus, thông  thưòng, một tội nhân với thân thể trần truồng, vừa vác thập tự giá vừa bị quân lính đánh roi.  Ở đây, trong trường hợp này, vì Chúa đã bị đánh roi trước rồi cho nên tập tục này không áp dụng cho Chúa, bởi vì nếu Chúa vừa vác cây thập tự và vẫn bị quân lính đánh roi thì Chúa sẽ kiệt lực trút hơi thở  trưóc khi bị đóng đinh.   15: 22: “Họ đem Ngài đến một nơi gọi là đồi Gô-gô-tha, nghĩa là đồi Sọ,” đây là một ngọn đồi trọc, có hình dạng tròn trịa.  Giăng 19: 23 “Toán lính đóng đinh Giê-xu  xong, lấy áo Ngài chia làm bốn phần, mỗi ngưòi một phần.  Còn áo trong của Ngài, vì dệt nguyên tấm, không có đưòng may, nên họ bảo nhau: “Đừng xé áo ra nhưng chúng ta hãy bắt thăm xem ai đưọc.”  Như vậy để ứng nghiêm lời  KinhThánh:             “Chúng chia nhau áo xống tôi             Và bắt thăm lấy áo trong của tôi.”  (Thi-thiên 22:18)   Hình phạt đóng đinh trên thập tự giá là một nhục hình dã man nhất.  Theo Sử gia Josephus, lúc bấy giờ, Đế quốc La-mã ban hành sự trừng phạt  đối với các thành phần nổi loạn chống lại với đế quốc.  Theo luật của xã hội Do-thái thì lên án tử hình khi có người lộng ngôn nói mình là Con Thiên Chúa hoặc nguyền rủa Thiên  Chúa, hay là  xưng mình là Messiah thì bị ném đá cho đến chết hoặc mang đi xử tử  rồi bị treo lên thân cây.(Phục.  21:13)   Khi hàng giáo phẩm cao cấp Do-thái xui giục dân chúng đóng đinh Chúa trên thập tự giá, có nghĩa  là họ muốn phô diễn luật Do-thái đối với Giê-xu, vì Ngài xưng là Con Thiên Chúa. Cả hai nhóm ngưòi La-mã và Do-thái đồng thi hành việc đóng đinh Giê-xu trên cây thập tự.  Tội nhân bị đóng đinh vào hai bàn tay và hai bàn chân, đinh dài khoảng 17-18 cm, thập tự giá là gỗ cây Olive.  Thường thưòng chiều cao của thập tự giá  không cao hơn vóc dáng của thân ngưòi, bàn chân gần chạm với mặt đất.  Cái chết đến với tử tội từ từ,  nhưng họ thật quá đau đớn vì các vết đinh đóng, dưới ánh nắng mặt trời quá nóng, họ khát nuớc, sự  sống ngưòi ấy sẽ kéo dài vài ngày.   25: “Vào lúc chín giờ sáng họ đóng đinh Ngài. Bảng ghi án Ngài viết: “Vua dân Do-thái,” nhằm để cáo buộc tội Giê-xu là tội phạm chính trị,  nổi loạn chống lại đế quốc La-mã.    33: “Từ giữa trưa đến ba giờ chiều, tối tăm bao trùm khắp đất.” Các nhà giải kinh cho biết đây là hiện tượng nhật thực kéo dài trong ba giờ. Thời Thượng cỗ, theo triết gia Philo, khi có hiện tượng nhật thực, họ cho là có một nhà vua vừa băng hà hoặc là có sự tiêu diệt một thành phố sẽ xảy đến. Quang cảnh u ám, tăm tối lúc ấy nói lên sự than khóc cho Con-Duy-Nhất. Sự tối tăm xuất hiện giữa buổi trưa cũng nói đến sự rủa sả của Thiên Chúa: “Chúa Cứu-thế đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của  Kinh Luật khi Ngài chịu rủa sả  thay cho chúùng ta vì Kinh Thánh chép:  Đáng rủa sả thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ.” (Phục. 21:23).   34: “Chúa kêu lớn tiếng” Trước khi bắt đầu thánh vụ, Chúa vào nơi sa-mạc.  Cuối cùng của thánh vụ, Giê-xu  vào vườn Ghết-sê-ma-nê và Ngài đã hàng phục Chúa Cha cách trọn vẹn, Ngài chấp nhận  mang lấy sự đoán phạt về tội lỗi của Cha đối với nhân loại.  Mọi rủa sả, thịnh nộ, đoán phạt của Thiên Chúa trút trên thân Ngài. Trong giờ phút đau đớn về thể xác lẫn tâm linh, Giê-xu kêu  thét lên: “Cha ôi!  Sao Ngài lìa bỏ Con!”   Lúc ấy, giữa Cha và Giê-xu có một khoảng cách, vì tội lỗi của nhân loại chồng chất trên thân Ngài.   Con vốn vô tội, thánh khiết giờ này phải mang đầy tội của loài ngưòi.  Tiếng thét giữa buổi trưa tăm tối sao thật kinh hoàng!  Nhưng cũng tiếng thét lớn này là một bảo đảm về giá phải trả của tội lỗi.   Giá Chuộc Tội   37: “Nhưng Giê-xu kêu lên một tiếng lớn rồi  tắt thở.” Tiếng kêu của Chúa không phải là oán hờn, trách cứ, đây cũng không phải là sự từ bỏ nơi Thiên Chúa, vì Ngài có kêu lên: “Thiên Chúa của tôi ơi!”(c.34b) rồi Ngài trút linh hồn. Tiếng thét lớn và tắt hơi của Giê-xu không như là cái chết thông  thưòng của một tử tội bị đóng đinh trên thập tự giá, ngưòi đã  trải qua nhiều giờ đau đớn,  máu huyết tuôn ra, bất tỉnh rồi hôn mê.  Mác ghi lại, cái chết của Chúa đến thình lình, khác hẵn với cái chết của những ngưòi ấ  Đây là cái chết mà Thiên Chúa đặt để trên Con Ngài để chết thay cho nhân loại. 2. Sự chết đây không phải là giá phải trả về tội của Ngài, bèn là cho cả nhân loại.  c.39  Vị Đại đội trưỏng chứng kiến mọi việc từ phút đầu cũng phải xác nhận đây là một cái chết khác thường, và kêu lên rằng “Người này thật là Con của Thiên Chúa.” Giêxu quả thật là Trời đã vào đời, trở nên như một con người, mang lấy một thể xác như chúng ta, Ngài biết đói, khát, Ngài buồn rầu khi thấy dân sự sống trong vòng tội lỗi, dưới ách thống trị của Satan.  Cuối cùng, Giê-xu đã vâng theo ý Cha trên trời để chịu hi sinh chính sinh mệnh mình, chịu đóng đinh trên thập tự giá để làm sinh tế dâng lên Chúa Cha.  Cuối cùng của con đường Gô-gô-tha là sự chết mà Giê-xu đã phải gánh chịu sự trừng phạt của Chúa Cha về tội lỗi của nhân loại trên thân Ngài.  Nhưng sự chết của Giê-xu tại thập tự giá không phải là chấm dứt tại đó.  Đấy là một mở đầu cho sự đắc thắng huy hoàng trước tử thần, đánh tan mọi quyền lực tăm tối của Satan qua sự phục sinh vinh quang của Giê-xu Ki-tô.  Sự khổ đau bắt đầu từ vườn Ghết-sê-ma-nê, nhưng cuối đường thập tự giá là phước hạnh vĩ đại mà Chúa Cứu-thế Giê-xu Ki-tô đã ban cho người thành tâm ăn năn tội và tiếp nhận Ngài làm chủ tể của đời sống mình, để tội lỗi mình được Chúa tha thứ, linh hồn được cứu rỗi. Amen . Hiện nay, Giê-xu đang ngồi bên hữu Chúa Cha, cầm quyền tể trị thế giới.  Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

  • 0 TÌM HIỂU VỀ Ý NGHĨA MÙA CHAY – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    Ash Wednesday Mùa Chay Lent trong Giáo hội Tây phương từ nguyên thủy gồm có bốn muơi ngày kiêng ăn và cầu nguyện để dọn lòng cho Chúa nhật Chúa  Phục sinh.  Trong giai đoạn này, các tín hữu  tra xét lòng mình, đau đớn về tội phạm của mình và cầu mong Chúa soi dẫn mình.  Mùa Chay năm 2018 bắt đầu từ ngày  Ash Wednesday 14-2 và kéo dài đến 40 ngày và chấm dứt vào ngày Thứ Sáu Good Friday.  Chúa nhật kế tiếp luôn luôn là để cử hành sự vui mừng hân hoan của ngày Chúa Sống lại.  Tại sao là thời gian Bốn mươi ngày? Con số 40 có một ý nghĩa tâm linh đặc biệt trong Thánh Kinh.  Môi-se đã trải qua 40 ngày cầu nguyện trên Núi Si-na-i. Dân Do-thái đi lang thang trong sa mạc 40 năm trước khi vào Ðất Hứa. Tiên tri Ê-li đã trải qua 40 ngày trong sa mạc. Tiên tri Giô-na rao báo có 40 ngày để dân chúng tại Kinh đô Ni-vi-ve từ bỏ thờ hình tượng để ăn năn và quay trở về thờ phương Thiên Chúa.  Jesus ở trong sa mạc kiêng ăn cầu nguyện 40 ngày để chuẩn bị cho thánh vụ của Ngài. Các tín hữu Ðấng Christ cử hành mùa Chay có 40 ngày tĩnh tâm tra xét lòng mình trước Chúa.   Ash Wednesday là khởi điểm của Mùa Chay, gồm có 40 ngày kiêng ăn và thống hối về tội phạm của mình.  Ðây còn gọi là ngày “Day of Ashes.”   Gọi như thế là bởi vì vào ngày này, các tín hữu nhận trước trán dấu thập tự giá với tro.  Danh hiệu 'Day of Ashes'  đến từ chữ  La-tinh "Dies Cinerum"  được tìm thấy vào thời  Giáo hoàng Gregory the Great (590-604).  Vào thời Cựu Kinh, tro đã đưọc dùng đến với hai mục đích: biểu hiệu sự hạ mình và gớm ghê chính mình; và dấu hiệu cho sự ăn năn thống hối về tội phạm.  Ngày lễ Tro cũng đã được cử hành theo tập quán của Cựu Kinh.  Nhận tro nơi trán như là để nhắc nhở đến sự gớm ghê về tội lỗi và tỏ lòng ăn năn trong Giáo hội Anh quốc vào thế kỷ 10.  Lễ Tro này đã được phổ biến và cử hành trong các Hội thánh Tây phương Synod of Benevento năm 1091. Từ buổi nguyên thủy, sự dùng tro để bày tỏ lòng ăn năn như là một cách thức riêng tư.  Về sau lễ này đã trở nên một phần của nghi lễ ăn năn nơi công cộng.  Tro  dùng làm biểu tượng của tín hữu cầu nguyện và ăn năn tội lỗi mình.    Làm dấu “thập tự” (x -cross) trưóc trán làm một hình bóng thuộc linh trên các tín hữu đã nhận thánh lễ Báp-têm.  Khi một em trẻ được sinh ra trong gia đình Cơ-đốc nhân, em được giải thoát khỏi địa vị nô lệ của tội lỗi và ma quỉ, để trở nên một nô lệ trong sự công nghĩa của Ðấng Christ (Rô-ma 6:3-18) Trong ý nghĩa này đã được Thánh Giăng nhìn thấy khải tượng và ông mô tả trong sách Khải thị, chúng ta được biết về các tôi tớ của Thiên Chúa, song song với khải tượng  mà tiên tri Ê-xê-chi-ên đã thấy.  Sách Ê-xê-chi-ên 9: 4 chép: CHÚA phán cùng người ấy: "Hãy đi khắp thành, tức là khắp Giê-ru-sa-lem, đánh dấu trên trán những người đã than thở, khóc lóc về mọi việc ghê tởm đã phạm trong thành." "And the LORD said to him [one of the four cherubim], 'Go through the city, through Jerusalem, and put a mark [literally, "a tav"] upon the foreheads of the men who sigh and groan over all the abominations that are committed in it. (Ezekiel 9:4) Ngôn ngữ Hê-bơ-rơ cổ  “Tav” có ý nghĩa như tiếng Hi-lạp “chi” - “x”  cũng là từ ngữ thứ nhất trong chữ “Christ.”   Các vị thông giáo Do-thái giáo (rabbis) cho biết rằng có mối liên quan giữa “tav” và “chi” và không thể nghi ngờ rằng dấu x trong sách Khải thị mà các thánh đồ đã được đóng dấu ấn ấy nơi trán. Các Giáo phụ của Hội thánh đã dùng dấu chữ “x” (tav-chi-cross) mà tiên tri Ê-xê-chi-ên đã  thấy một số người đã được thiên sứ  đóng dấu nơi trán như là các tôi tớ của Chúa.  Từ ngữ Lent xuất xứ từ chữ “Lencten”  người  Ý-đại-lợi  gọi là  Quarestima,  cả hai từ nguyên ngữ Latin Quadragesima.  Từ ngữ Latin  “Quadragesima” có nghĩa là bốn mươi giờ có ý nói đến 40 giờ hoàn tất kiêng ăn cầu nguyện trưóc khi lễ kỷ niệm mừng Chúa Sống lại trong thời kỳ Hội thánh đầu tiên.   Trong các Hội thánh Tây phương, ngày thứ nhất của Mùa Chay, vào ngày Thứ Tư trưóc lễ Chúa Sống lại bảy tuần.  Vào ngày lễ này, tro được để trên trán của các tín hữu để nhắc nhở về sự chết, về sự thống hối tội lỗi và sự cần thiết để thay đổi đời sống của họ.  Sự  thực hành ngày lễ này vào thời Trung Cổ trong các Giáo hội Công giáo La-mã, Anh quốc giáo, Episcopal, Lutheran, và đến năm 1990, thì có thêm các Giáo hội Methodist và Presbyterian đã thực hành dấu “x” vào dùng ngón tay trỏ nhúng vào tro tạo thành dấu thập tự nơi trán trong ngày lễ Tro.    

  • 0 Mùa Chay Thời Điểm Để Gặp Chúa Tác Giả: Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

     Kinh Văn: “Phải là vị thượng tế như thế mới thích hợp với chúng ta, một đấng thánh khiết, toàn thiện, không ô uế, tách biệt với những ngưòi tội lỗi, vượt cao hơn các tầng trời, không giống các thượng tế khác cần phải hằng ngày dâng các sinh tế trưóc vì tội mình, sau vì tội dân.  Ngài làm việc này một lần đủ cả, dâng hiến chính bản thân làm sinh tế.”  (Hê-bơ-rơ 7: 26-27)  Thưa quí vị:  Năm nay, 2018, Mùa Chay đã bắt đầu từ Chúa nhật ngày 14/2 cho đến Tuần Thánh vào Chúa nhật Lễ Lá ngày 25/3 kéo dài đến ngày Good Friday 30/4.  Trong Giáo hội Lutheran, Mùa Chay là lúc để tín hữu gặp Chúa, vậy chúng ta  nhìn về sự đau thương và sự chết của Ngài với  ý nghĩa gì?  Vào thời đại của Martin Luther đang sống, giáo dân đã cử hành  Mùa Chay theo truyền thống và tin tưỏng rằng họ nhận được ân huệ của Thiên Chúa qua sự hi sinh cứu chuộc của Chúa Cứu-Thế Giê-xu.  “Mùa chay, Ngày Lễ Lá, Tuần lễ Thánh cần được gìn giữ, Luther viết trong “The German Mass and Order of Service, “không bắt buộc một ai ăn kiêng, nhưng là  để gìn giữ lịch sử của sự thống khổ và Phúc âm trong Mùa Chay.”  Luther viết tiếp, “Tuần Thánh sẽ giống như các tuần lễ khác mà sự đau thương của Giê-xu cần được giải nghĩa mỗi ngày mỗi giờ cho đến trọn tuần ... và các thánh lễ này  đã được ban cho mỗi một nguời có lòng ưóc ao. Đối với các Ki-tô hữu, trọng tâm của các ngày lễ này chính là Lời Chúa và các Thánh lễ.”  Luther đã không kết án sự thực hành truyền thống để giúp  con nguời biết về Giê-xu và hiểu Phúc âm, nhưng ông biết họ đặt niềm tin vào   trong Tuần Chay hầu hi vọng nhận được ân phúc từ Thiên Chúa.  Luther muốn các tín hữu  hãy  đơn giản gặp Giê-xu trong sự đau đớn của Ngài, để nhận ra tội lỗi của mình, và không có bất cứ điều gì để chuộc tội thay cho mình ngoài Chúa Cứu-Thế.  Trên Hai Vai Của Giê-Xu  Trong bài giảng của ngày Good Friday, Luther đã giảng về Đấng Ky-tô như là vị Tế lễ Thượng phẩm và là sinh tế được dâng trên “bàn thờ” của thập tự giá:  “Phải là vị thượng tế như thế mới thích hợp với chúng ta, một đấng thánh khiết, toàn thiện, không ô uế, tách biệt với những ngưòi tội lỗi, vượt cao hơn các tầng trời, không giống các thượng tế khác cần phải hằng ngày dâng các sinh tế trưóc vì tội mình, sau vì tội dân.  Ngài làm việc này một lần đủ cả, dâng hiến chính bản thân làm sinh tế.”  (Hê-bơ-rơ 7: 26-27)  Tại thập tự giá, Giê-xu đã mang trên vai Ngài mọi tội lỗi của chúng ta. Trên vai Ngài, tội lỗi chúng ta đã chồng chất trên đó.  Ngưòi nào thành khẩn suy niệm về sự thống khổ của Giê-xu hằng ngày, từng giờ  hay chỉ một khắc trong ngày thì là tốt hơn là ngưòi lo ăn kiêng suốt năm, đọc kinh lần chuỗi cả ngày cho có lệ.  Thật thế, sự tĩnh tâm suy niệm về sự thống khổ của Cứu-Chúa là quan trọng hơn hết.  Nhớ đến sự đau đớn của Giê-xu và Ngài chết thay cho ta  không phải là điều dễ dàng đâu.  Có ngưòi hồi niệm về sự đau thương của Ngài nhưng lại trút giận dữ trên ngưòi Do-thái hoặc đổ trên Giu-đa Ích-ca-ri-ốt....  Luther tiếp tục, “Nhưng ai suy niệm về sự thống khổ của Giê-xu với tất cả nỗi xúc cảm tận đáy lòng, kinh sợ về cơn thạnh nộ, sư trừng phạt của Thiên Chuá trút đổ trên mình là tội nhân, thì khi ấy Thiên Chúa sẽ giải phóng ta qua chính sự hi sinh của Giê-xu đã nhận chịu thay cho ta rồi tại thập tự gia trưóc Chúa Cha.  Vì Tội Lỗi Của Chúng Ta  Bên cạnh sự suy niệm về sự đau thương của Chúa Ki-tô trong Mùa Chay, Luther cũng chú trọng đến Muời Điều Luật và ý nghĩa.  “Luật pháp đã được ban cho chúng ta là để bày tỏ ra tội lỗi; nhưng Luật không có quyền lực cứu rỗi chúng ta khỏi tội và giải thoát ta.”   Luther đã viết một Thánh ca, “Here is the Tenfold Sure Command,”  đặc biệt cho Mùa Chay.  Đây là cách để con dân Chúa tưởng nhớ đến Muời Điều luật và ý nghĩa.  Sự thừa nhận tội phạm và tĩnh tâm về những gì Giê-xu đã làm cho ta để ta đưọc ơn tha thứ, sự cứu rỗi và sự sống đời đời đã được Martin Luther dạy dỗ và khích lệ chúng ta trong Mùa Chay.  Ông nhắc nhở chúng ta rằng ”Sự đau đớn của Đấng Ky-tô  là sự cần thiết, đó là món quà ân phúc và thương xót mà Ngài đã ban cho chúng ta.” Khi chúng  ta thống hối về tội phạm của mình và kinh hãi, Luther viết “Chúng ta hãy nhìn về thập tự giá nơi đó Giê-xu đã chết thay cho ta, nhịp đập của quả tim ta rộn ràng vì tình yêu bao la của Ngài đã bao phủ tội lỗi của chúng ta bằng chính huyết báu của Ngài.  Lòng ta sẽ tràn đầy tình yêu của Chúa  và niềm tin của chúng ta đưọc củng cố.  Cho Mùa Chay này, Martin Luther đã ban lời chúc phước “Nguyện cầu xin Cứu-Chúa Giê-xu Ky-tô  giơ lên đôi bàn tay, hông Ngài và khiến con tim của ông bà anh chị em đưọc thỏa vui với tình yêu Ngài, và quí vị nhìn ngắm và nghe tiếng nghe tiếng phán của Ngài cho đến khi tìm được niềm vui thỏa trong Ngài.  Amen”    

  • 0 Jesus Thanh Tẩy Ðền Thờ - Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

     Kinh Văn:  Ma-thi-ơ 21: 12-17  (Xem Mác 11:15-19 Lu 19:45-48; Gi 2:13-22)   Đức Giê-su vào trong đền thờ và đuổi hết những kẻ mua bán ra ngoài. Ngài đổ bàn của những người đổi tiền và lật ghế của mấy kẻ bán bồ câu. Ngài phán cùng họ: “Kinh Thánh chép: ‘Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện nhưng các người biến thành sào huyệt trộm cướp’.”   Có những người mù và què đến với Ngài trong đền thờ và Ngài chữa lành cho họ. Nhưng các thượng tế và chuyên gia kinh luật thấy các việc diệu kỳ Ngài làm cũng như nghe những lời trẻ em reo lên trong đền thờ: “Hô-sa-na Con vua Đa-vít”, thì tức giận hỏi Ngài: “Ông có nghe chúng nó nói gì không?” Đức Giê-su trả lời: “Có, thế các ông chưa đọc lời Kinh  Thánh: ‘Chúa đã được miệng trẻ thơ và em bé còn bú ca ngợi sao?’ ”   Rồi Ngài lìa họ, ra khỏi thành phố đến làng Bê-tha-ni và nghỉ đêm ở đó.   Buổi sáng Chúa nhật lễ Lá, Jesus đã vào thủ đô Jerusalem như một vị vua chiến thắng, chung quanh dân chúng tung hô Ngài “Hô-sa-na.”   Khi đêm xuống, Jesus bèn vào thành Bê-tha-ni (mác 11:11) để nghỉ ngơi. Ðến ngày sau, Chúa cùng các môn đệ trở lại đền thờ Jerusalem.  Bối cảnh của câu chuyện này là nhằm vào dịp đại lễ Vượt qua.  Xem Xuất Ai-cập ký 13:  “1.         CHÚA phán dạy Môi-se: “Dân Y-sơ-ra-ên phải hiến dâng cho Ta tất cả các con trưởng nam. Con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên đều thuộc về Ta, kể cả con trưởng nam của  loài người và con đầu lòng của súc vật.” Sau đó Môi-se nói với dân chúng: “Hãy kỷ niệm ngày này là ngày anh chị  em ra khỏi Ai-cập, ra khỏi đất nô lệ vì CHÚA đã đem anh  chị em ra bằng cánh tay quyền năng của Ngài. Đừng ăn món chi có men. Anh chị em ra đi hôm nay, vào tháng giêng.   Khi CHÚA đã đem anh chị em vào xứ của người Ca-na- an, Hê-tít, A-mô-rít, và Giê-bu-sít, xứ Ngài đã hứa ban cho tổ phụ anh chị em, là xứ tràn trề sữa và mật ong, thì anh chị em phải giữ lễ này vào tháng này. Trong bảy ngày phải  ăn bánh không men và đến ngày thứ bảy phải tổ chức lễ thờ phượng CHÚA. Trong suốt bảy ngày này phải ăn bánh không men, giữa vòng anh chị em sẽ không có món gì có men, và không được thấy men trong toàn lãnh thổ. Vào ngày đó, anh chị em nói cho con cái: ‘Cha làm như vậy vì điều CHÚA đã làm cho cha, khi Ngài đem cha ra khỏi xứ  Ai-cập.’ Việc giữ lễ này đối với anh chị em sẽ như một dấu trên tay, một kỷ niệm trên trán, để nhắc nhở luật pháp của CHÚA nơi môi của anh chị em, vì CHÚA đã dùng cánh  tay quyền năng đem anh chị em ra khỏi Ai-cập. Anh chị em phải giữ mạng lệnh này,  vào đúng thời điểm ấn định, từ năm này qua năm khác.“  Dân số ký 9:  CHÚA phán bảo Môi-se trong sa mạc Si-nai vào tháng giêng năm thứ nhì sau khi rời khỏi Ai-cập: “Con phải cho dân Y-sơ-ra-ên cử hành lễ Vượt Qua vào thời gian ấn định. Con hãy giữ lể ấy đúng thời gian ấn định, vào lúc chạng vạng tối ngày mười bốn tháng này đúng theo mọi qui luật và sắc lệnh.” Vậy Môi-se bảo dân Y-sơ-ra-ên cử hành lễ Vượt Qua: họ giữ lễ ấy trong sa mạc lúc chạng vạng ngày mười bốn tháng giêng đúng theo mọi điều Chúa đã truyền lệnh cho Môi-se nhưng hôm ấy, có mấy người bị ô uế vì đến gần xác chết nên không giữ lễ Vượt Qua được. Vậy họ đến cùng Môi-se và A-rôn ngay hôm ấy và thưa với Môi-se: “Chúng tôi bị ô uế vì xác chết của loài người. Vì sao giữa dân Y-sơ-raên chúng tôi phải mất phần dâng tế lễ cho CHÚA theo thời gian ấn định?” Môi-se đáp: “Anh em hãy đợi tôi đến tìm biết điều CHÚA truyền dạy về anh em.” CHÚA phán dạy Môi-se: “Con hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên: Khi một người trong vòng các ngươi hoặc trong dòng dõi các ngươi bị ô uế vì xác chết hoặc bận đi xa, thì cũng buộc phải giữ lễ cho CHÚA. Những người ấy phải giữ lễ này ngày mười bốn tháng hai lúc chạng vạng, ăn bánh không men với rau đắng. Đừng để vật gì còn lại đến sáng mai, cũng không nên bẻ gãy các xương. Phải giữ đúng mọi luật lệ về lễ Vượt Qua. Nhưng những ai tinh sạch và không đi xa mà chẳng giữ lễ Vượt Qua thì sẽ bị khai trừ ra khỏi nhân dân, vì chẳng dâng tế lễ cho CHÚA trong kỳ ấn định; người ấy sẽ mang tội mình. Khi một người nước ngoài kiều ngụ giữa các ngươi muốn cử hành lễ Vượt Qua, thì phải giữ đúng các qui luật và sắc lệnh. Các ngươi phải áp dụng qui luật cho người nước ngoài cũng như cho người bản xứ.”   Phục. 16: Lễ Vượt Qua “1.      Anh chị em phải giữ Lễ Vượt Qua của CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em vào tháng A-bíp  vì trong tháng A-bíp Chúa đã đem anh chị em ra khỏi xứ Ai-cập lúc ban đêm. Phải bắt con vật trong bầy bò hay bầy chiên để dâng lên CHÚA, làm tế lễ Vượt Qua, tại địa điểm CHÚA sẽ chọn để đặt Danh Ngài. Đừng ăn tế lễ đó với bánh có men, nhưng trong bảy ngày anh chị em phải ăn bánh không men, là bánh khổ nạn để trọn cuộc sống anh chị em có thể nhớ lại lúc mình rời bỏ Ai-cập, vì anh chị em đã rời xứ đó cách vội vàng. Trong bảy ngày đó khắp cả nước không ai được phép giữ men, và thịt sinh tế dâng hiến vào buổi tối ngày thứ nhất không được còn thừa đến sáng hôm sau. Anh chị em không được phép dâng tế lễ Vượt Qua tại bất cứ nơi nào trong xứ CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em sẽ ban cho, nhưng phải dâng tại địa điểm Ngài sẽ chọn để đặt Danh Ngài. Tại chỗ đó, anh chị em sẽ dâng tế lễ Vượt Qua vào buổi chiều, lúc mặt trời lặn vào thì giờ kỷ niệm cuộc xuất hành ra khỏi Ai-cập. Phải nấu thịt sinh tế và ăn tại địa điểm CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em sẽ chọn và đến sáng hôm sau anh chị em sẽ về trại mình. Trong sáu ngày kế tiếp, anh chị em sẽ ăn bánh không men đến ngày thứ bảy sẽ tụ họp lại thờ phượng CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em, không ai được làm việc gì cả.”   Những năm trưóc, thánh vụ của Jesus  hoạt động ở các vùng xa thủ đô, nhưng giờ đây, chức vụ của Jesus được công bố cách công khai tại trung tâm quyền lực và giáo quyền tại thủ đô.  Ðền thờ Jerusalem là trung tâm của mọi sinh hoạt thờ phượng Thiên Chúa của dân Do-thái.  Bấy giờ là thời gian gần đến đại lễ Vượt qua, dân Do-thái từ bốn phương, kể cả những người xa xứ sống tại các quốc gia Cận đông kinh doanh buôn bán, nay họ lần lượt trở về quê hương để dự lễ Vưọt qua .  Xem Xuất Ai-cập ký 13: 1-10 -  Phục. 16: 1-8.  Tất cả mọi ngưòi nam đều phải vâng giữ luật lệ này, trừ phi người ấy là kẻ tật nguyền, lâm bệnh nặng. Theo Cựu Kinh, ngưòi Do-thái phải mang sinh tế đến cùng vị tư tế con bò, dê, chiên đực, bồ câu không tật nguyền, mập mạnh.  Cả bốn trưóc giả Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng đều trưóc thuật câu chuyện Chúa thanh tẩy đền thờ thật sinh động.  Qua câu chuyện này, chúng ta sẽ thật sự sai lầm khi luôn hình dung Jesus là Ðấng Chăn chiên hiền từ như Phúc âm Giăng 10 mô tả hay nghĩ rằng Chúa yếu đuối lắm.  Trong câu chuyện này, các trưóc giả đã ghi lại Jesus đã xuất hiện tại đền thờ Jerusalem thật uy dũng như một vị anh hùng, Ngài xông xáo, nổi giận, Ngài đánh đổ các bàn ghế, Ngài đã làm công việc thanh tẩy đền thờ.  Tại sao?  Jesus vô cùng đau đớn khi nhìn thấy quang cảnh buôn bán, ồn ào, tranh giành, làm tiền bất chính của giới con buôn cấu kết với hàng lãnh đạo Do-thái giáo để trục lợi trên đám dân đông Do-thái. Có ngưòi khi đọc đến câu chuyện này thì trách rằng tại sao Chúa không có tình thương, tại sao Chúa đánh đổ nhóm ngưòi trao đổi tiền bạc này tại đền thờ?  Muốn hiểu rõ nguyên nhân nào Chúa đã ra tay mạnh bạo như thế, chúng ta cần nghiên cứu vấn đề cho rõ rõ hơn. Vậy việc này đã xảy ra tại nơi nào?  C. 12:  Tại đền thờ Jerusalem.  Theo kiểu mẩu của đền thờ Jerusalem thì có ba phần chính: nơi Chí thánh: chỉ có vị tư tế cấp thượng phẩm được đặt chân đến nơi này mỗi năm một lần; nơi thánh:  các vị tư tế và ngưòi Do-thái đã nhận lễ cắt bì thì được phép đến nơi này; hành lang:  những ngưòi ngoại bang không chịu lễ cắt bì thì được đặt chân đến phần này.     Tại sao Chúa thanh tẩy đền thờ?  Hai mươi ngày trước đại lễ Vượt qua, bên ngoài hành lang của đền thờ, ngưòi ta thấy các lều vải được giăng lên, ngưòi ngưòi qua lại thật nhộn nhịp.  Những thương buôn mang các bò, chiên, dê đực, bồ câu đến để bán, các ngưòi Do-thái hành hương sống tại Ba-by-lôn, Alexandria, Hi-lạp, Rô-ma… trở về thủ đô Jerusalem .  Khi Jesus vào đền thờ, Ngài trông thấy nghe được âm thanh ồn ào, cải vả nhau, quang cảnh thật náo nhiệt với những người dân và nhóm ngưòi thương buôn bán thú, tại các bàn thì có  các anh chàng giàu có hành nghề đổi bạc.  Bởi vì  có nhiều ngưòi Do-thái sống tại ngoại quốc và vùng Cận Ðông trở về thủ đô Jerusalem để hành hương, họ mang theo tiền bạc của quốc gia ấy.   Thoạt đầu, công việc đổi bạc này giúp cho người Do-thái sống tại ngoại quốc nhằm vào dịp lễ Vượt qua.  Tuy nhiên, về sau thì tình trạng trở nên tồi tệ hơn.  Nhận thấy việc đổi bạc này tạo nên mối lợi kếch xù,  nhóm người đổi bạc phải cấu kết với hàng giáo phẩm Do-thái giáo để  hiệp thương trục lợi.  Họ bèn cho đổi tiền với giá cắt cổ chợ đen.  Nhóm thương buôn buộc phải mua chỗ ngồi tại hành lang mà hành nghề,  số lợi nhuận sau khi thu vào, họ âm thầm mang đến chia cho các vị tư tế cao cấp An-ne và Cai-phe.  Cách làm ăn này của các thương buôn đã được các giới chức tôn giáo cấp cao bao che.  Dù cho lối làm ăn này có liên quan đến lễ Vượt qua, nhưng bản chất của nó không phải là sự thờ phượng mà là tham lam tiền bạc.  Ðó là lý do, Jesus đã nổi giận và thịnh nộ .  Nhìn thấy cảnh trạng ấy, Chúa đau xót vì nhóm lãnh đạo Do-thái giáo đã biến đền thờ Chúa thành ra chỗ “hang ổ trộm cướp” mà Chúa trích dẫn từ Giê-rê-mi 7: 9.“Các ngươi trộm cắp, giết người, gian dâm, thề dối, cúng tế thần Ba-anh, đi theo các thần khác mà các ngươi chưa hề biết, rồi các ngươi đến đứng trước mặt Ta, tại trong đền thờ này, là nơi mang danh Ta, và nói:  ‘Chúng ta an toàn rồi!’ an toàn để tiếp tục làm những việc gớm ghiếc kia! Các ngươi xem đền thờ này, là nơi mang danh Ta, như sào huyệt bọn cướp sao? Này, chính Ta đây,  Ta đã nhìn thấy hết mọi sự.” Đấy là lời CHÚA.“ Ðền thờ Jerusalem, trong ý nghĩa hữu hình, đó  là nơi dân Do-thái thờ phượng Thiên Chúa.  Tại đó họ dâng lên lời cầu nguyện, hát xướng tôn vinh Chúa – Ê-sai 56: 7. Ðền thờ Jerusalem là biểu tượng tôn giáo của quốc gia Do-thái, nơi muôn dân nhìn vào để biết Thiên Chúa ngự trị.  Giờ đây, nơi thiêng liêng ấy trở nên một tập họp  cho các vụ kinh doanh, buôn bán.  Các vị tư tế đáng ra phải là người chuyên tâm trong sự thờ phượng Chúa, giảng dạy Lời Chúa cho ngưòi dân, nay họ đã đánh mất nhiệm vụ thiêng liêng để dính líu vào tiền bạc.  Jesus gọi đền thờ Jerusalem là “nhà Cha ta” chứng tỏ Ngài là Con của Thiên Chúa, Ngài cũng là Chủ và có thẩm quyền để can thiệp vào việc nhà Cha.  Tại sao Chúa thanh tẩy đền thờ? Chúa Ngôi Hai đã nhập thế để thi hành thánh vụ: dạy dỗ về Nước Trời đồng thời Ngài cũng muốn cải tổ một hệ thống tôn giáo đang suy đồi, bại hoại hư hỏng. Tiến sĩ H.M. Luckcock viết lại “Vào thời Hoàng đế Edward VI, Anh quốc, giáo đường St. Paul đã trở thành một nơi tập họp để trao đổi thương vụ stocks.” H.R. Haweis đã viết về lịch sử Giáo hội Anh quốc suy đồi thuộc linh: “ Các hàng giáo phẩm cao cấp ăn không ngồi rồi, thay vì đứng lên chuyên tâm rao giảng lời Chân lý, thì trong ngày Chúa nhật họ chỉ ban lễ.  Họ thu tiền sở phí hành lễ cho tín hữu 80 bảng Anh khi có một service nào về thuộc linh.  Nhà của Chúa thành ra nơi hang ổ trộm cướp.”  Chúa đã thanh tẩy giáo hội Anh  quốc giáo qua các phong trào phục hưng trong thế kỷ 19 với hai anh em nhà Wesley, và kế tiếp với Whitefield.  Ngày nay, Chúa thật sự buồn lòng khi nhìn thấy bên trong giáo hội có những cảnh buôn bán, làm tiền như tổ chức xổ số, chơi Bingo games, các trò “bầu cua cá cọp” có  tính cách cờ bạc để thu hút ngưòi đến chơi và hàng giáo phẩm thu tiền… Trong ý nghĩa thuộc linh,  mỗi con dân Chúa là “đền thờ” nơi Chúa Thánh Linh ngự trị . I Cô-rinh-tô 3: 16.  “Anh chị em không biết rằng anh chị em chính là đền thờ của Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời ở trong anh chị em sao? Nếu ai phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời sẽ hủy hoại kẻ đó. Vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh khiết và đền thờ đó chính là anh chị em.”   Chương 6: 19. “ Anh chị em không biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ở trong anh chị em, là Đấng anh chị em đã nhận từ Đức Chúa Trời sao? Anh chị em cũng không còn thuộc về chính mình nữa. Vì anh chị em đã được mua bằng một giá rất cao. Vậy hãy lấy thân thể mình mà tôn vinh Đức Chúa Trời.” ,6    Ê-phê-sô 2 “ Anh chị em được xây dựng trên nền tảng các sứ đồ và các tiên tri, còn chính Chúa Cứu Thế Giê-su là Đá góc nhà. Trong Ngài, cả tòa nhà được xây dựng chặt chẽ và phát triển thành đền thánh trong Chúa. Cũng trong Ngài, anh chị em được xây dựng nối kết với nhau thành ngôi nhà của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh.” ,2 Nếu một giáo dân chỉ có một hình thức tôn giáo ruờm rà bên ngoài, nhưng bên trong đời sống thuộc linh trống rỗng, Chúa chán ngấy các hình thức ấy. Ê-sai 1:  “  CHÚA phán: “Muôn vàn tế lễ của các ngươi có nghĩa gì đối với Ta? Ta đã chán ngán các tế lễ thiêu Chiên đực, mỡ thú  vật mập, Ta không vui về huyết của Bò đực, chiên con và dê đực. Khi các ngươi đến hiện diện trước mặt Ta, Ai đòi hỏi thứ này từ tay các ngươi? Là người d chà đạp các hành  lang Ta. Đừng dâng tế lễ chay vô ích cho Ta nữa; Ta ghét mùi hương; Ngày trăng mới, ngày Sa-bát, các lễ hội,  Ta không chịu nổi các ngày lễ trọng thể cùng tội ác. Linh hồn Ta ghét các ngày trăng mới Và các kỳ lễ hội của các ngươi. Các lễ ấy trở thành gánh nặng cho Ta, Ta lấy làm mệt mỏi để gánh chúng. Khi các ngươi đưa tay lên cầu nguyện, e Ta che mắt ta khỏi các ngươi; Dù khi các ngươi cầu nguyện nhiều, Ta sẽ chẳng nghe.Tay các ngươi đầy máu.”   Tại sao?  Bởi vì bên trong của đời sống không có sự biến cải.  Chúa kêu gọi lòng thành khẩn ăn năn thống hối, nếu không Chúa sẽ ra tay thanh tẩy, để đời sống của con dân Chúa thật sự là “đền thờ Chúa Thánh Linh ngự.”  Amen    

  • 0 Bài học từ Martin Luther và Kỹ Nghệ Ấn Loát Cho Ngày Nay

    • by Administrator
    • 07-02-2018

    Nguồn: Nicholas Davis, “Learning from Martin Luther About Technological Disruption”, Project Syndicate, 31/10/2017.  Biên dịch: Trần Văn Thắng | Hiệu Đính:  Ngy. Uyên       Năm trăm năm trước đây, Tiến sĩ Martin Luther, một mục sư và là giáo sư đại học về thần học đã làm một điều rất đáng chú ý đối với thời đại của ông: ông đã đóng một bản kiến nghị lên một cánh cửa, đòi hỏi một cuộc tranh luận học thuật đối với việc bán “giấy xá tội” của Giáo hội Công giáo, có lời hứa hẹn rằng người mua giấy hoặc thân nhân của họ sẽ rút ngắn thời gian bị ở trong ngục luyện tội (purgatory) sau khi họ qua đời.   Ngày nay, “95 luận đề” của Martin Luther được gắn tại Đại giáo đường (Castle Church) ở Wittenberg, Đức (ông đồng thời gửi một bản sao cho người bảo trợ của ông, Hồng y Albrecht von Brandenburg), được công nhận rộng rãi như là tia lửa làm bùng phát cuộc Cải cách Kháng cách. Trong vòng một năm, Luther đã trở thành một trong những người nổi tiếng nhất châu Âu, và những ý tưởng của ông – vốn thách thức không chỉ các lễ nghi của Giáo Hội và thẩm quyền của Giáo Hoàng, mà cuối cùng là cả mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa – đã bắt đầu tái cấu trúc các hệ thống quyền lực và bản sắc theo những cách vẫn còn được cảm nhận thấy ngày nay. Điều gì khiến hành động của Luther trở nên trọng yếu như vậy? Xét cho cùng, những lời kêu gọi cải cách Giáo hội đã xảy ra thường xuyên trong nhiều thế kỷ trước Luther. Như nhà Sử học Diarmaid MacCulloch viết trong cuốn A History of Christianity: The First Three Thousand Years (Lịch sử của Cơ-đốc giáo: Ba ngàn năm đầu tiên), hai thế kỷ trước Luther đã xuất hiện những thách thức gần như liên tục đối với uy quyền của Giáo hoàng về các vấn đề triết học, thần học và chính trị. Vậy những mối quan tâm của một nhà thần học ít tên tuổi này ở Saxony đã dẫn đến sự biến đổi tôn giáo và chính trị lan rộng như thế nào? Một phần trung tâm của vấn đề này chính là vai trò của kỹ nghệ mới nổi. Một vài thập niên trước khi Luther phát triển các lập luận của mình, một thợ rèn người Đức tên là Johannes Gutenberg đã phát minh ra một hệ thống ấn loát kiểu mới với các mẫu chữ di động, cho phép sao chép văn bản với tốc độ lớn hơn và chi phí thấp hơn so với cách in bằng mộc bản tốn kém và kém bền. Báo in là một kỹ nghệ cách mạng với sức mạnh lớn lao vô cùng cho việc phổ biến các ý tưởng. Năm 1455, cuốn “Kinh Thánh Gutenberg” đã được in với tốc độ 200 trang mỗi ngày, nhanh hơn đáng kể so với 30 trang mỗi ngày mà một nhà chép sách lành nghề có thể sản xuất. Ở thời đại của Luther, tốc độ in hàng ngày của một máy in đã tăng lên khoảng 1.500 tờ một mặt. Năng suất in được cải tiến, kết hợp với chi phí giảm, đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể trong việc gần với sách vở trong giai đoạn 1450-1500, mặc dù chỉ có khoảng 6% dân số biết chữ. Luther nhanh chóng nắm lấy được tiềm năng của báo in để truyền bá thông điệp của mình, phát minh ra các hình thức xuất bản mới ngắn gọn, rõ ràng và được viết bằng tiếng Đức, ngôn ngữ của người dân bản địa. Có lẽ sự đóng góp cá nhân có giá trị lâu dài nhất của Luther là bản dịch Kinh Thánh từ tiếng Hy Lạp và tiếng Hebrew sang tiếng Đức. Ông đã quyết tâm “nói chuyện như những người dân ngoài chợ”, và hơn 100.000 bản sao “Kinh Thánh Luther” được in ở Wittenberg trong những thập niên tiếp theo, so với chỉ có 180 bản Kinh Thánh Gutenberg bằng tiếng La-tinh. Việc xử dụng kỹ nghệ in mới này để sản xuất những cuốn sách mỏng ngắn gọn và sắc sảo bằng tiếng mẹ đẻ đã biến đổi chính ngành kỹ nghệ này. Trong thập niên trước khi các luận đề của Luther ra đời, các máy in ở Wittenberg chỉ xuất bản trung bình 8 cuốn sách mỗi năm, tất cả bằng tiếng La-tinh và nhằm vào các đối tượng độc giả trong các trường đại học địa phương. Tuy nhiên, theo Sử gia Anh Andrew Pettegree, từ năm 1517 đến năm 1546, năm Luther qua đời, các nhà xuất bản địa phương “đã xuất bản ít nhất 2.721 tác phẩm”,  trung bình “91 quyển sách/năm”, với tổng số khoảng ba triệu bản sao. Pettegree tính ra rằng 1/3 trong số tất cả các quyển sách được xuất bản trong thời kỳ này được chính Luther viết, và tốc độ xuất bản tiếp tục gia tăng sau khi ông qua đời. Tính trung bình cứ hai tuần một lần, Luther lại cho xuất bản một bài viết trong suốt 25 năm. Báo in đã mở rộng khả năng đến gần đối với cuộc tranh luận tôn giáo mà Luther đã giúp khơi mào, góp phần thành hình cuộc Cải chánh Giáo hội. Nghiên cứu của nhà Sử học Kinh tế Jared Rubin chỉ ra rằng sự hiện diện của một nhà in ở một thành phố trước năm 1500 sẽ làm tăng đáng kể khả năng thành phố chuyển sang đạo Tin lành vào năm 1530. Nói cách khác, bạn càng sống gần với nhà in, càng có nhiều khả năng bạn sẽ thay đổi cách nhìn về mối quan hệ của mình với Giáo hội, tổ chức mạnh nhất của thời đại đó, cũng như mối quan hệ của mình với Thiên Chúa. Có ít nhất hai bài học ngày nay được rút ra từ kỹ nghệ gây biến đổi sâu rộng này. Trước hết, trong bối cảnh cuộc Cách mạng Kỹ nghệ lần thứ tư của kỷ nguyên hiện đại, điều mà Klaus Schwab của Diễn đàn Kinh tế Thế giới định nghĩa là sự kết hợp của các kỹ nghệ pha trộn các lãnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học, cần lượng giá xem xét những kỹ nghệ nào có thể là “kỹ nghệ in” tiếp theo. Những người có khả năng thua cuộc trước các kỹ nghệ này  có thể tìm cách để bảo vệ nguyên trạng, như Công đồng Trent đã làm năm 1546,  cấm in và bán bất kỳ phiên bản Kinh Thánh nào khác với Bản Chính thống tiếng La-tinh nếu không có sự chấp thuận của Giáo hội. Câu hỏi hiện nay là làm thế nào chúng ta có thể bảo đảm rằng các kỹ nghệ mới hỗ trợ các cuộc tranh luận mang tính xây dựng. Thế giới vẫn còn đầy dẫy những ý tưởng khác biệt đe dọa bản sắc và những thiết chế quan trọng của chúng ta; khó khăn chính là việc không coi chúng như những ý tưởng phải được dập tắt một cách tàn bạo mà là những cơ hội để hiểu được, ở đâu và như thế nào, các thiết chế hiện tại đang loại trừ mọi người hoặc không mang lại các ích lợi hứa hẹn. Những lời kêu gọi cho sự tham gia mang tính xây dựng hơn có thể nghe đơn giản, ngây thơ hoặc  bấp bênh về mặt đạo đức. Nhưng lựa chọn thay thế không chỉ là việc làm trầm trọng thêm sự chia rẽ và mối bất hòa của các cộng đồng; mà nó là sự phi nhân tính lan rộng, một khuynh hướng mà các kỹ nghệ hiện tại dường như đang khuyến khích. Cuộc Cách mạng Kỹ nghiệp lần thứ tư ngày nay có thể là một cơ hội để cải cách mối quan hệ của chúng ta với kỹ nghệ, khuếch đại bản chất tốt nhất của con người. Tuy nhiên, để nắm lấy nó, các xã hội sẽ cần một sự hiểu biết sâu sắc hơn về sự tương tác của bản sắc, quyền lực và kỹ nghệ hơn là cách họ đã làm trong thời đại của Luther. Nicholas Davis là người phụ trách mảng Xã hội và Sáng tạo tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới.    

  • 0 Tại Sao Nam Hàn Lại Có Cơ-Đốc Nhân Riêng Biệt

    • by Administrator
    • 26-01-2018

            Nguồn: “Why South Korea is so distinctively Christian“, The Economist, 12/08/2014 Lê Thị Hồng Loan | Hiệu Đính: Ngy. Uyên   Hàn Quốc, một đầu tàu tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng là một quốc gia bừng cháy đức tin. Trong tuần thứ hai của tháng 8/2014, Giáo hoàng Francis đã dành năm ngày ở đó, để dự Ngày hội Thanh niên Công giáo châu Á và phong thánh cho 124 người Công giáo tử vì đạo đầu tiên. Có khoảng 5.4 triệu người trong số 50 triệu dân Hàn Quốc là người Công giáo La Mã. Có thêm khoảng 9 triệu người theo đạo Tin lành thuộc nhiều nhánh khác nhau. Một triệu thành viên của Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Yoido đã tạo thành Hội thánh Ngũ Tuần lớn nhất trên thế giới. Các nhánh tôn giáo bản địa có Hội thánh Thống nhất, chuẩn bị đánh dấu kỷ niệm ngày “thăng thiên” của người sáng lập Sun-myung Moon. Còn ông Yoo Byung-eun quá cố, ông trùm đứng sau sự kiện chìm phà Sewol vào tháng 4/2014 khiến 304 hành khách chánh yếu là thanh thiếu niên thiệt mạng, cũng đã thành lập giáo phái riêng của mình (và trang web God.com, bây giờ nằm trong tay một người khác). Những tín đồ của giáo phái này đã che giấu cho ông ta trong cuộc truy nã lớn nhất từ trước tới nay của cảnh sát Hàn Quốc. Tất cả những điều này là đặc biệt nổi bật, bởi vì châu Á là khu vực hầu như rất khó khăn đối với Cơ-đốc giáo. Sự cai trị của Tây Ban Nha đã để lại cho Philippines một nền tảng Công giáo mạnh mẽ, nhưng với Hàn Quốc thì lại phức tạp hơn. Vào thế kỷ 18, những người trí thức muốn khám phá đã tiếp xúc với Cơ-đốc giáo ở Bắc Kinh và lén lút truyền bá nó về nước. Triều đình theo Nho giáo vốn không dung thứ cho lòng trung thành với các đối thủ, đã xử tử hình những người cải đạo ban đầu: vì thế Hàn Quốc mới có số người tử vì đạo lớn, đưa nước này xếp thứ tư toàn cầu về số lượng các thánh. Tin Lành được truyền bá muộn hơn và với điều kiện tốt hơn. Đến những năm 1880, Hàn Quốc mở cửa, và các nhà truyền giáo, chánh yếu là người Mỹ, đã thực hiện hai động thái khôn ngoan: mở các trường học hiện đại đầu tiên, trong đó cho phép nữ giới nhập học; và dịch Kinh Thánh sang chữ địa phương Hangul của Hàn Quốc, lúc đó được xem như là chữ viết của tầng lớp dân thường, thay vì sang chữ Hán được ưa chuộng bởi giới quan lại. Những hạt giống được gieo  như vậy đã ủ mầm dưới sự cai trị của Nhật Bản (1910-1945), và đã mọc lên một cách hoang dại kể từ đó. Những đau khổ từ cuộc chinh phục của người Nhật đã làm xói mòn niềm tin vào Nho giáo hay Phật giáo truyền thống: Người Hàn Quốc liên hệ mình với sự đau khổ của người Israel trong kinh Cựu Ước. Tuy nhiên, tới năm 1945 cũng chỉ mới có 2% người Hàn Quốc theo Cơ-đốc giáo. Sự phát triển bùng nổ gần đây đi kèm với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Hãy liên hệ với Đạo đức Tin lành của Weber: đối với đa số những người có đức tin bảo thủ, các thành công thế tục luôn có liên quan tới phước lành của Thiên Chúa. Nhưng Hàn Quốc cũng sản sinh ra phái thần học giải phóng của riêng mình (Minjung), ca ngợi người nghèo và người bị áp bức. Sự thay đổi nhanh chóng của xã hội thường tạo ra men tinh thần và những doanh nhân như Moon và Yoo: là vị cứu tinh của một số người, nhưng là kẻ buôn thần bán thánh đối với những người khác. Ranh giới giữa Nhà tiên tri (prophet) và lợi nhuận (profit) có thể mập mờ: cả hai đều phải vào tù vì gian lận. Ngay cả người sáng lập của Yoido, David Cho, cũng đã bị kết án vào tháng 2/2014 vì biển thủ 12 triệu USD. Nhưng đây là những ngoại lệ hiếm thấy. Ngày nay, 23% người Hàn Quốc theo Phật giáo và 46% tự xưng không theo tôn giáo nào. Điều này có thể hiện giới hạn cho sự phát triển của Cơ-đốc giáo, hay sự quay về thế tục hóa phôi thai? Năm 2012, chỉ có 52% người dân cho biết là theo tôn giáo, giảm từ mức 56% vào năm 2005. Tuy nhiên, các tín hữu Nam Hàn  đã vươn ra thế giới: chỉ có nước Mỹ có số các nhà truyền giáo gửi ra nước ngoài nhiều hơn Nam Hàn. Những người Công giáo Hàn Quốc đã bị bắt giữ ở Afghanistan, bị chặt đầu ở Iraq và bị toà đại sứ  của họ tại Yemen ngăn cản việc hát thánh ca. Nhiều người hoạt động bí mật tại Trung Quốc. Rủi ro hơn, một số người còn giúp người Bắc Triều Tiên chạy trốn: có khoảng 1.000 người được báo cáo là đã bị Trung Quốc hủy visa (vì giúp người Bắc Triều Tiên trốn vào nước này). Những người khác có một tham vọng vĩ đại hơn, đó là truyền bá Cơ-đốc giáo vào Bắc Hàn. Trong những ngày Nhật Bản chiếm đóng, Bình Nhưỡng là nơi đạo Tin lành phát triển mạnh, và bây giờ một số tín đồ đã trở lại, vận hành Trường Đại học tư nhân Khoa học và Công nghệ Bình Nhưỡng, một trường đại học kể từ năm 2010 đã đào tạo giới tinh hoa trong tương lai của Bắc Hàn; và hoàn toàn không nhằm mục đích truyền đạo. Với năng lượng và sự kiên cường của các Cơ-đốc nhân Bắc Hàn, có một lời tiên tri chắc chắn rằng sẽ có một ngày đường chân trời Bình Nhưỡng sẽ rải rác những cây thập tự bằng đèn neon như ở Seoul.    

  • 0 Khóa 4 Căn Bản Sĩ Quan Tuyên Úy Tin Lành Tại Dalat Năm 1970 Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

    • by Administrator
    • 25-01-2018

    Lời Nói Đầu Đây là một hồi ức ghi lại chuyện thật đã xảy ra tại trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Dalat. Tết Nguyên Đán 2018 năm nay là đúng 47 năm!   Bài viết này không thuộc loại nhật ký.  Người viết chỉ ghi lại những gì còn nhớ lại trong ký ức. Đây là chuyện thật, người thật, sự việc có thật. Có thể lắm, hồi ức này còn thiếu sót nhưng người viết không  thêu dệt.  Và sau hết, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về bài viết này!  Mục sư Nguyễn Hữu Ninh                                      Quản Nhiệm Hội Thánh Tin Lành Lutheran Việt Nam    Houston, Texas                                                                                                                                                                                            Website:  www.vietnameselutheranchurch.org   Những chữ viết tắt: TC/CTCT=Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị ĐH/CTCT = Đại Học Chiến Tranh Chính Trị HQĐT/CHT = Hải Quân Đại Tá Chỉ Huy Trưởng TrT/TMT= Trung Tá Tham Mưu Trưởng K4CB/SQTU = Khóa 4 Căn Bản Sĩ Quan Tuyên Úy TU = Tuyên Úy SVSQ/CTCT = Sinh Viên Sĩ Quan/Chiến Tranh Chính Trị SQCB/Sĩ Quan Cán Bộ QĐI/V1 CT = Quân Đoàn I Vùng I Chiến Thuật TPTUTL/Trưởng Phòng Tuyên Úy Tin Lành BTL/SĐ2/BB= Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2/Bộ Binh TRĐ= Trung Đoàn TK= Tiểu Khu   ***   Gia Nhập Đoàn Tuyên Úy Tin Lành Sau khi đỗ Tú Tài 2 Ban Văn chương, tôi vào Chủng viện Tin Lành HonChong, Nha trang (Theolological and Institute Nhatrang).  Và tôi đã  tốt nghiệp niên khóa 1962-67.  Sau khi ra trường, tôi đã được Giáo hội Trung ương bổ nhiệm đến phục vụ tại Văn phòng Trung ương của Giáo hội tại Thủ đô Saigon (1967).  Sau hai cuộc Tổng Tấn Công của VC vào dịp Tết Mậu Thân và Tháng Năm 1968 tại miền Nam VNCH,  tình hình chiến tranh ngày càng thêm sôi động.  Lệnh tổng động viên được ban hành. Có nhiều học sinh, sinh viên lên đường nhập ngũ.  Trong số lượng thanh niên đông đão này cũng có nhiều bạn trẻ Tin Lành. Năm 1969, Nha Tuyên úy Tin Lành cần có một số mục sư tình nguyện gia nhập quân đội để có thể giúp đời sống tâm linh của các tân quân nhân tín hữu.  Sau khi cầu nguyện với Chúa...  Tháng Sáu năm 1969, tôi tình nguyện gia nhập Đoàn Tuyên úy Tin Lành và không biết là mình sẽ đi đến nơi nào sau khi rời Thủ đô Saigon.   Chúng tôi gồm có năm tuyên úy được huấn luyện về Tham Mưu và Hành Chánh Quân Đội tại Nha Tuyên úy Tin Lành. Có các Tuyên úy Hoa Kỳ đến thuyết trình trong những ngày này. Tháng 8 năm 1969, tôi đáp chuyến bay phi cơ quân sự ra Đà Nẵng QĐI/V1CT.  Sau đó, tôi dùng phương tiện của Air America bay vào Quảng Ngãi đảm nhận chức vụ Trưởng phòng Tuyên úy Tin Lành với cấp bậc Đại úy Đồng hóa, quân số thuộc Nha Tuyên úy Tin lành gửi tăng phái đến Khối CTCT/SĐ2/BB.       Thụ Huấn Khóa 4 Căn Bản Sĩ Quan Tuyên Úy Kể từ năm 1968 trở về trước, khi nguồn tài chánh viện trợ của Hoa kỳ dồi dào, các tuyên úy thuộc ba Nha Tuyên úy được sang Hoa Kỳ thụ huấn khóa Basic Chaplain  trong ba tháng.  Tuy nhiên, từ năm 1968 trở về sau, nguồn ngoại viện bị cắt giảm, chương trình huấn luyện tại Hoa kỳ nói trên đã được thay thế tại một quân trường Việt nam.  Trước Tết Nguyên Đán 1970, Nha Tuyên úy Tin lành gửi Bưu Điệp chọn tôi tham dự khóa 4 Căn Bản tại Trường ĐH/CTCT Dalat. Tôi rời BTL/SĐ2/BB đến phi trường Chu-lai rồi đáp chuyến bay C-130 Hoa Kỳ về Saigon trước Tết Nguyên Đán (không nhớ ngày tháng dương lịch nào).   Sáng Mùng 4 Tết, tôi và  các bạn đồng ngũ tập trung tại Nha Tuyên Úy Tin Lành.  Tại đây, tôi gặp các Mục sư Tuyên úy như Nguyễn Hoàng Sinh (SĐ 21/BB), TU Phạm Hữu Tồn (SĐ 25/BB), TU Đoàn Văn Sua (SĐ/22/BB), TU Nguyễn Văn Thắng (SĐ 23/BB).  Mục sư Trung Tá Phạm Xuân Hiển (đã đi Hoa Kỳ tham dự khóa Basic Chaplain năm 1964),  đang giữ chức vụ TP/TUTL/QĐ I, ông sẽ đại diện Nha Tuyên Úy đến dự lễ khai mạc K4CB/SQTU.  Sáng Mùng 4 Tết, năm anh em chúng tôi và Mục sư Hiển cùng đến Phi trường Quân sự Tân Sơn Nhất... Tại phi cảng, chúng tôi gặp các tuyên úy Công giáo, Phật giáo.  Tất cả các tuyên úy đều mặc lễ phục mầu vàng có cà-vạt đen, đội mũ cát-kết và phải chờ đợi chuyến bay thật lâu. Dù chúng tôi đã đến phi trường từ sáng sớm nhưng không rõ vì lý do gì mà mãi đến 3,4 giờ chiều thì chúng tôi được thông báo rằng sẽ có chuyến bay. Thiếu Tá Hà Sĩ Phong từ TC/CTCT là sĩ quan hướng dẫn đoàn tuyên úy của ba tôn giáo cùng đáp chuyến bay Caribou trực chỉ vùng Cao nguyên Lâm-viên, Dalat.  Khi phi cơ đáp xuống phi trường Liên-Khương thì bên ngoài có những tia nắng nhạt dần. Thình lình có các tiếng đạn pháo rớt xuống xa xa.  Thiếu Tá Phong kêu gọi các tuyên úy phải nhanh thoát ra khỏi phi cơ. Loạt pháo kích này đánh dấu cho sự dàn chào đầu tiên của VC đối với đoàn tuyên úy khi vừa đặt chân đến phi trường.  Tất cả các tuyên úy đã vào bên trong tòa nhà chờ đợi.  Thế nhưng, đoàn quân xa vẫn chưa thấy đến.  Chuyến đi từ Saigon đến Dalat đã gặp hai lần chờ đợi muộn màng! Lúc hoàng hôn buông xuống, thời tiết bên ngoài lạnh hơn.  Khi chúng tôi lên các quân xa thì bên ngoài bầu trời tối dần... Đoàn xe vượt khỏi Thác Prenn, tiếp tục lên dốc rồi đi qua hồ Xuân Hương thì thành phố Dalat đã lên đèn.  Đoàn quân xa chạy ngang qua trường nữ Trung học Bùi Thị Xuân và mang chúng tôi vào doanh trại của trường ĐH/CTCT tọa lạc trên đồi KBC 4648. Sinh Hoạt của Khóa 4 Căn Bản/SQTU Khóa 4 Căn Bản/SQTU gồm có tất cả 117 tuyên úy thuộc ba tôn giáo Tin Lành, Công giáo, Phật giáo.  Các Tuyên úy Phật giáo chiếm đa số, có vị là TP/TUPG cấp QĐ đến SĐ, TRĐ, TK.  Kế đến là Công giáo. Chỉ có 5 Tuyên úy Tin Lành là TP/TUTL/SĐ/BB.  Đa số các Tuyên úy Phật giáo thì trẻ. Tôi gặp lại Đại đức Thích Tâm Phú, TK/ Quảng Ngãi, và lần đầu tiên gặp một Đại đức thuộc Trung đoàn 4/BB (Mộ Đức) của SĐ2/BB.  Có một Đại đức khác tại miền Nam nói rằng ông có đai đen Judo.  Đặc biệt, trong số các TUPG có Đại đức Thích Thiện Nhẫn thuộc Binh chủng Nhảy dù, vóc dáng mập to, giọng nói oang oang.  Các Tuyên úy Công giáo đa số thì lớn tuổi.    Sau lễ khai giảng.  Buổi sáng. Các tuyên úy vào lớp tại giảng đường; ăn trưa tại câu lạc bộ rồi nghỉ ngơi; tiếp đến chúng tôi trở lại giảng đường.  Tan giờ học buổi chiều thì mọi người được tự do nhưng không một ai được đi ra ngoài phố mà phải chờ đến thứ Bảy và Chúa nhật.  Mỗi buổi chiều, sau giờ tan lớp, tôi thích vào thư viện tìm tài liệu, sách, báo chí để đọc. Tại thư viện, tôi  gặp Trung úy Bạch Thái Hà.  Sau khi ăn chiều,  đến buổi tối, các anh em chúng tôi họp chung  nhau tại một phòng ốc do nhà trường dành cho các Tuyên Úy Tin Lành.  Chúng tôi  đọc Thánh Kinh, hát Thánh ca, cùng cầu nguyện vào mỗi đêm.  Tôi không thấy các Tuyên úy Phật và Công giáo họp như các anh em chúng tôi. Vì thời gian đã quá lâu, tôi không nhớ đến các chi tiết của những môn học. Tôi nhớ có một SQCB trình bày về công việc và nhiệm vụ của các phòng, ban tại đơn vị (Công tác Tham mưu).  Có các đề tài thuyết trình do các sĩ quan cao cấp từ xa đến.  Nhà trường mời một Trung tá Pháo binh đến nói chuyện về các cỗ đại bác 105, 155, 175 (rất là vô ích, đâu có giúp gì cho các tuyên úy).  Tuần lễ thứ nhất.  Nhà trường sắp xếp các tuyên úy lên những quân xa để sang bên trường VBQG/Dalat thụ huấn quân sự.  Có hai buổi sáng để thực tập môn tác xạ với súng Colt 45 và M16 do Đại úy Thái của Trường VBQG/Dalat đảm trách.  Các tuyên úy thực tập tác xạ M16 thì nằm trên bãi cỏ, theo lời chỉ dẫn của ĐU Thái về luật lệ... không được bắn vào bia giấy của người khác, sau khi bắn thì theo lệnh của ĐU Thái, tất cả súng phải được khóa cò, và đặt súng trên cỏ, tác xạ viên đứng lên tiến về bia giấy để xem kết quả.  Xử dụng M16 bắn vào bia giấy thì dễ hơn, nhưng khi đứng và bắn Colt 45, lúc tôi bóp cò súng thì nòng súng Colt 45 giật lên, đạn bay ra xa khỏi bia giấy. Tôi có dịp xử dụng Colt 45 và súng M16 trong giờ tác xạ nói trên. Tuy nhiên, vì có những sự việc xảy ra ... trong giờ tác xạ, nhà trường đã ngưng lại.  Tôi nhớ có Trung tá Vĩnh Huyền thuyết trình viên về đề tài Tâm lý chiến. SQCB có Trung úy Hiệp, nguyên Hiệu trưởng trường Sư phạm Vĩnh Long bị động viên. Có Trung úy Quách Dược Thanh. Tôi không nhớ hai ông này phụ trách về môn gì...  Tại lớp học, Nhà trường tổ chức cuộc tranh luận (debate) về một đề tài do các tuyên úy tham gia, họ phải qua ba hay bốn buổi tranh luận để cuối cùng ban giám khảo sẽ chọn vị nào là xuất sắc nhất. Tôi là một trong ba  giám khảo này, hai vị kia là một linh mục và một đại đức. Tôi còn nhớ rõ sau cuộc tranh luận cuối cùng, vị nhận được giải nhất là một Đại đức người Huế trường VBQG/Dalat,  ông còn trẻ lắm! Cuộc tranh luận này do một trung úy (không nhớ tên) phụ trách (giảng dạy về Chủ nghĩa Marx-Lenin).  Ông xuất thân từ trường Pháp bậc Tú Tài II, tốt nghiệp cử nhân Pháp văn, bị động viên... Ông đã tâm tình với tôi rằng khi ông được chọn làm giảng viên tại trường ĐH/CTCT/Dalat  thì ông mới bắt đầu học lại tiếng Việt và thật khó khăn đối với ông trong những năm đầu khi soạn bài và trình bày bằng Việt ngữ. Tuần lễ thứ nhì.  Vào một buổi chiều, ThT Phong hướng dẫn các tuyên úy đến viếng thăm HQĐT/Lâm Nguơn Tánh tại tầng hai của BCH.  ĐT Tánh đứng và bắt tay từng tuyên úy sau khi chúng tôi chào kính và xưng danh tánh, đơn vị phục vụ.  Tôi có nói với HQĐT/Tánh rằng các đơn vị trưởng tại đơn vị chẳng có để ý và yểm trợ gì đến tuyên úy... Ông chỉ nghe, cười mĩm và không nói gì !  Đấy là lần thứ nhất tôi gặp ông. Tuần lễ thứ Ba.  Nhà trường mời Linh Mục Trần Hữu Thanh đến thuyết trình về một đề tài mà nay tôi không còn nhớ rõ.   Tuần lễ tiếp theo của khóa học, nhà trường  mời Mục sư Trần Trọng Thục, cựu Tuyên úy QĐI đến. Trước khi ông đến, trong  đêm họp cầu nguyện, anh em chúng tôi cùng nhau tập hát Thánh ca  lời Việt Wonderful Grace of Jesus  - (Nhạc và Lời của Haldor Lillenas 1885-1959) để ngợi khen Chúa trong giờ của Tin Lành.  Năm anh em chúng tôi tập dượt (rehearsal) hát bè bốn giọng để hát.  Ngày sau, trong giờ giải lao của lớp học buổi sáng, tôi còn nhớ có một  linh mục tuyên úy Trung Ðoàn/SÐ23/BB  gặp tôi và ông nói rằng chỉ có năm mục sư  nhưng khi quí vị hát Thánh ca này, ông đi bên ngoài thì nghe vang vọng như là có rất đông người hát và các mục sư hát hay quá! Các tuần lễ sau.  Nhà trường tổ chức chuyến viếng thăm Nha Địa Dư Quốc Gia Dalat trên đường Thống Nhất, gần Lycee Yersin.  Đây là một cơ quan thuộc Bộ Quốc Phòng.  Tại tầng hai có các cô đang làm công việc sửa chữa bản đồ và tại tầng hầm là nơi ấn loát. Một buổi chiều khác, đoàn chúng tôi lên quân xa ra khỏi thành phố Dalat đến viếng thăm Đại Chủng viện Công giáo đấy là nơi đào tạo các linh mục tương lai.  Đây là một tu viện rất lớn, có trại nuôi gà Mỹ lấy trứng.  Thời gian chúng tôi thụ huấn tại trường ĐH/CTCT/Dalat thì nhằm vào lúc các SVSQ/NT2 đã được huấn luyện một năm.  Trong những tuần này, tôi có gặp SVSQ/NT2 Đoàn Ngọc Hồ,  Lúc thì chúng tôi gặp nhau tại câu lạc bộ nơi gần cổng ra vào.  Có lúc SVSQ Hồ đến gặp tôi tại phòng ngủ.  Tôi nghe biết có vài SVSQ Tin lành khác nhưng tôi không có dịp gặp... Những tuần lễ thụ huấn tại trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị rồi cũng trôi qua nhanh... Vào tuần lễ cuối khóa, chúng tôi làm các bài thi trắc nghiệm của các môn học, và chuẩn bị cho lễ mãn khóa học vào ngày thứ Hai (không nhớ ngày).  Cũng vào tuần lễ cuối này, Thiếu Tá Hà Sĩ Phong, người từ TC/CTCT Saigon đi theo các tuyên úy từ buổi đầu, ông  đã mời tôi giữ nhiệm vụ "Trung đội trưởng" trong Hệ thống Lãnh Đạo Chỉ Huy. Suốt tuần lễ ấy, tôi có nhiệm vụ điểm danh số SQTU có mặt trong ngày, ghi ra có vị nào vắng mặt trong lớp vì lý do bệnh không.  Trong lớp, trước giờ học thì tôi cất tiếng: “Khóa sinh đứng” hoặc “khóa sinh ngồi” trước khi SQCB khởi sự giảng dạy.  Các SQTU có cấp bậc từ Trung úy đến ThTá nhưng khi vào lớp thì không mang lon lá chi để SQCB dễ dàng làm việc.  Vì các sĩ quan này có cấp bậc thấp hơn các TU. Đêm Chúa nhật.  Sau khi các anh em Tin Lành họp lại suy gẫm Lời Thánh Kinh, hát Thánh ca và cầu nguyện xong thì Trung Tá Năm cho lệnh tập họp các tuyên úy.  Ông cho biết  rằng theo tin tình báo: VC sẽ tấn công trường ÐH/CTCT đêm nay… Vì sáng thứ Hai là lễ mãn Khóa 4 Căn bản/SQTU.  Ông muốn các tuyên úy tập dượt  để nếu có bị VC tấn công thì biết cách chuẩn bị.   Ông nói rõ là các quân nhân cơ hữu và lực lượng SVSQ/CTCT sẽ bảo vệ các tuyên úy.  Không một tuyên úy nào có trang bị vũ khí ..   ĐẶC CÔNG VC TẤN KÍCH TRƯỜNG CTCT Các SVSQ/CTCT ở trong các doanh trại phía trên cao.  Bên cạnh các phòng này có các giao thông hào. Từ đó đi xuống dốc, bên phải có câu lạc bộ, đi tiếp và bước xuống các bậc thang, phía dưới này có hai phòng ngủ của các tuyên úy.  Ở giữa hai phòng này có nhà vệ sinh...    Theo kế hoạch của Trung Tá Năm: Khi VC pháo kích hay tấn công vào doanh trại thì các SVSQ/CTCT sẽ ra khỏi phòng chạy xuống các dốc thoai  thoải có một vòng đai phòng thủ với các lô-cốt.  Tại đó, các SV/SQCTCT có mặt để bảo vệ các tuyên úy.  Các tuyên úy từ hai  phòng ngủ (ở dưới thấp) sẽ ra khỏi phòng và chạy lên các bậc thang tiến đến các giao thông hào.  Sau khi Trung Tá Năm trình bày plan như thế thì 117 tuyên úy tập dượt theo cách thức ấy.   Các tuyên úy từ hai phòng ngủ dưới thấp phải chạy lên các bậc thang tiến đến các giao thông hào.  Chúng tôi đã tập dượt như thế nhiều lần rồi Trung Tá Năm cho lệnh tan hàng.  Ai nấy trở về phòng ngủ.  Các tuyên úy đều thay bộ quân phục và mặc áo quần ngủ (pyjama) lên giường như mọi đêm...  Riêng tôi.  Lúc ấy, tôi linh cảm có điều chi rất khác lạ hơn mọi đêm.  Tôi để nguyên bộ quân phục và đôi chân vẫn mang botte de sauts.  Vì thời tiết về đêm còn lạnh, tôi có cái jacket phủ bên ngoài và beret trên đầu.  Tôi nằm đó nhưng vẫn chập chờn, chưa ngủ được.  Khoảng 1,2 giờ sáng (không nhớ rõ giờ) đa số các tuyên úy trong phòng đã ngủ ngon lành... Thình lình, một tiếng nổ vang dậy ở phòng bên kia.  Có tiếng la hét thất thanh vì các tuyên úy trong phòng ngủ ấy bị thương tức thì khi quả đạn pháo của VC rót trúng ngay phòng ngủ ấy.  Sau khi nghe tiếng nổ đầu tiên, trong tích tắc tôi bật dậy, vì tôi vẫn tĩnh táo.  Tôi thoát ra khỏi phòng vì nghĩ rằng nếu VC có tọa độ của phòng vừa pháo trúng thì phòng này cũng sẽ dính đạn pháo của VC thôi.  Lúc ấy, tôi là người duy nhất chạy lên giao thông hào theo như chương trình đã tập dượt… Khi tôi đến giao thông hào thì thật ngạc nhiên, sau tiếng nổ của đạn pháo kích, đa số các SVSQ/CTCT từ các phòng ngủ, thay vì họ chạy xuống dốc đến các lô-cốt để bảo vệ các tuyên úy thì giờ đây, tất cả đều phóng xuống các giao thông hào.  Vì giao thông hào bên cạnh phòng ngủ. Khi tôi đến giao thông hào theo như plan đã tập dượt trong đêm, các SVSQ hỏi: "Ai đó?"  Tôi trả lời ngay:  "Mục sư Tuyên úy"  họ thấy tôi mặc quân phục với tay không.  Các SVSQ đầu đội mũ sắt và có vũ khí.  Khi tôi bước xuống giao thông hào thì tôi thấy sau đó có một hai SVSQ từ phòng ngủ bước ra khỏi phòng.  Lúc ấy, tiếng đạn AK 47 vẫn còn nổ vang, nếu phòng còn ánh sáng thì VC sẽ đến. Và tôi lên tiếng:  “Phải tắt đèn,  phòng ngủ còn sáng!”  Có tiếng nói của một SVSQ  nhờ tôi  lên phòng ấy để tắt đèn. Tôi đã bước lên khỏi giao thông hào và tắt đèn. Phải nói cho đúng sự thật: Không có một đặc công nào theo các tuyên úy đến giao thông hào này ! Bởi vì nếu thật sự có như thế thì số tử vong của các SVSQ nhiều không kể xiết và tôi cũng là người bị dính đạn.  Lúc ấy, tôi là người thứ nhất theo kế hoạch tập dượt đến  giao thông hào thì khoảng một tiếng đồng hồ sau đó, có một Tuyên úy Công giáo đến giao thông hào và ông đã phóng xuống xuống bên cạnh tôi nơi đầu cùng bên phải của giao thông hào.  Giữa đêm khuya... Tại giao thông hào, tôi nghe các tiếng nổ của lựu đạn, loạt âm thanh súng AK 47 nổ dòn thật kinh khiếp. Các đặc công VC từ phía dưới vườn rau xanh tiến đến hai phòng ngủ.  Một số tuyên úy từ đấy  thoát ra, khi họ đến nhà vệ sinh thì gặp các đặc công VC… Các tiếng nổ liên tiếp khoảng nửa tiếng đồng hồ thì im lặng và toán đặc công rút lui.  Không có đặc công nào đến giao thông hào!    Nhiều tiếng đồng hồ trôi qua... Khi mặt trời phương đông ló dạng nơi chân trời.  Mọi tiếng súng im hẵn thì các quân nhân cơ hữu của trường xuất hiện...  Các SV SQ bắt đầu rời khỏi giao thông hào.  Từ giao thông hào tôi bước lần xuống dốc trở lại phòng ngủ. Thành thật mà nói, đây là một cảnh tượng thật hãi hùng! Một “chiến trường” có máu đỏ tươi đổ ra, tay chân văng mất tứ tung. Các  tuyên úy mặc áo quần ngủ, trong tay không một tấc sắt, thi thể nằm rải rác trên đất.  Có vị bị mất cả hai khúc chân vì đặc công ném lựu đạn vào.  Có vị thì thân thể bị đạn ghim đầy.  Máu đổ thịt rơi tung tóe. Tại phòng ngủ  nơi đã bị trúng đạn pháo đầu tiên thì có rất nhiều tuyên úy bị thương và  tử vong. Một số thi thể của các tuyên úy nằm trên sàn nhà khu vực nhà vệ sinh, tôi thấy có những quả lựu đạn gài bên thân xác.  Nhà trường phải nhờ toán chuyên viên gỡ mìn từ bên ngoài đến để tháo gỡ lựu đạn. Ba vị Tuyên úy Tin Lành Nguyễn Hoàng Sinh, Phạm Hữu Tồn, Ðoàn Văn Sua thì ở chung một phòng nơi bị đạn pháo rơi xuống.  Hai TU Sinh và Sua bị tử thương nơi nhà vệ sinh.  Riêng TU Phạm Hữu Tồn thì còn thoi thóp. Thay vì chạy lên dốc để đến giao thông hào, ông lại chạy xuống dốc thấp hơn  Tại các lô-cốt, các SVSQ/CTCT trực gác đêm, có thể trong bóng đêm, các sinh viên này không nhận rõ ra là ai, và họ đã nổ súng, đạn trúng vào bụng TU Tồn...   Sau đó, toán quân nhân cơ hữu và SVSQ/CTCT đã phải mang các thi thể các vị đã tử vong hoặc dìu các tuyên úy bị thương đến hội trường.  Tại đây, tôi biết Tuyên úy Thắng bình an vì cùng chung phòng ngủ với tôi, TU Tồn còn thoi thóp thở.  Khi tôi đến gần ông, thì ông vẫn nói được nhưng rất nhỏ và tôi rất khó khăn để nghe.  Ít lâu sau, ông tắt thở vì vết thương ở ruột quá nặng.  Lệnh của HQÐT Lâm Ngươn Tánh là “ngoại bất nhập”.  Sau khi biết ba anh em đồng ngũ đã về với Chúa, nay còn lại hai người, chúng tôi phân chia nhiệm vụ:  Tuyên úy Thắng ở lại bên trong để liên lạc với nhà trường; về phần tôi thì đảm nhận phần ngoại vụ.  Tôi bước ra trạm kiểm soát nơi cổng chánh, có nhiều đồng bào, thân nhân của tuyên úy đứng  bên ngoài.  Vì lệnh của HQĐT/Tánh không cho một ai vào bên trong.  Người đầu tiên tôi gặp là Thiếu úy tín hữu Tin Lành Phạm Đức Long, Giảng viên Khoa Nhân Văn của trường VBQG/Dalat, dù ông là một sĩ quan nhưng cũng phải đứng ngoài cổng mà thôi.  Ông nghe ĐPT/Dalat loan tin nhà trường bị tấn kích, vì ông biết tôi nên đã đến thăm vào buổi sáng tinh sương…  Người kế tiếp là ông Nghi, một chấp sự của Hội thánh Dalat, ông có phòng chữa Răng ở phố chợ Dalat cũng đã đến.  Tôi đã cho ông biết về những gì đã xảy ra… Ít lâu sau thì có bà Giáo Tâm (em của Mục sư Trương Văn Sáng) là thân nhân của TU Phạm Hữu Tồn, bà và hai cô con gái  không thể vào bên trong để chăm sóc TU Tồn.  Các quân nhân an ninh nói rằng chỉ có lệnh của HQĐT/Tánh thì họ mới có thể để thân nhân vào bên trong. Tôi phải đi vào trong tìm gặp HQÐT/Lâm Ngươn Tánh.  Khi ấy, ông và TrT/TMT Ðỗ Văn Sáu đang đi bộ vào hội trường nơi để thi thể của các TU.  Đây là lần thứ hai tôi gặp HQĐT/Tánh. Tôi trình bày nhu cầu… Ðại tá Tánh ra lệnh cho Trung Tá Sáu ký tên trên mãnh giấy có ghi tên của những người muốn vào hội trường, và Tr/T Sáu ký trên mảnh giấy nhỏ ấy.  Cũng nên nói thêm, trong những giây phút ngắn ngủi ấy, TrT Sáu đã hỏi tôi: “Đêm qua, khi VC tấn công ... mục sư ở đâu?” – “Tôi chạy đến giao thông hào theo plan thao dượt của TrT Năm, vì tôi là Trung đội Trưởng...”  Khi tôi nói như thế, HQĐT/Tánh cùng nghe vào lúc ấy.   Tôi ra ngoài cổng, đưa mảnh giấy có chữ ký của Tr/T Sáu cho quân nhân an ninh thì họ chấp thuận cho những thân nhân của TU Tồn vào hội trường.   Những giờ sau đó, và tiếp theo cả buổi trưa, thi thể của các tuyên úy đã được các quân nhân cơ hữu khâm liệm rồi đặt vào trong các quan tài.  Tổng cộng có 17 Tuyên úy gồm có Tin Lành, Công Giáo và Phật giáo tử thương trong vụ tấn kích này.  Tôi không nhớ rõ là có bao nhiêu linh mục và đại đức đã nằm xuống, nhưng số các TUPG tử thương thì nhiều nhất. Hai anh em chúng tôi bàn nhau rằng mình cần có những bó hoa để trên quan tài.  Thế là tôi nhận việc đi ra chợ Dalat mua hoa tươi.  Tôi đến quày hàng bán hoa của một tín hữu tại Dalat mà tôi quen biết từ lâu (bà Hồ Phiên) để mua ba đóa hoa nhưng bà không lấy tiền tôi trả... Anh em Tin lành chúng tôi khi đi là năm nay chỉ còn hai.   Sau biến cố này, lễ mãn khóa không còn được nói đến, nhà trường phải lo việc mang quan tài của các tuyên úy về Thủ đô Saigon.  Các tuyên úy còn sống giờ đây chuẩn bị hành trang để trở về đơn vị mình.  Tuyên úy Thắng và tôi từ giã  trường ĐH/CTCT Dalat đi theo ba quan tài. Hai anh em chúng tôi được quân xa đưa đến Phi trường Cam Ly. Sau đó, chúng tôi dùng phương tiện phi cơ quân sự Hoa kỳ bay về Saigon.  Phi cơ đáp xuống phi trường quân sự Hoa kỳ tại Tân sơn nhất vào buổi chiều.  Tại đây, tôi thấy có Tuyên úy Nguyễn Hữu Tươi (QÐ III kiêm BTL/Không quân)  một vài Tuyên úy Hoa Kỳ tại MACV đón chờ chúng tôi.  Quân xa đến đón những người sống và người đã nằm xuống.  Quân xa đưa chúng tôi về Nhà thờ Tin Lành Biệt khu Thủ đô tại đường Tô Hiến Thành. Sau Cuộc Tấn Công Tưởng cũng nên nói, CS đã nhận định quá sai trật về vai trò của tuyên úy, họ đã quan-trọng-hóa và đặt để tuyên úy ở một vị trí cao trong Quân lực VNCH.  Thật sự, các tuyên úy chỉ chăm lo phần tâm linh đối với các quân nhân tín hữu, thăm viếng ủy lạo các thương bệnh binh, làm lễ tang, lễ hôn phối....  Các TUTL được sự giúp đỡ từ Cơ quan Từ thiện World Vison giúp xe lăn tay, nạng gỗ rồi đến các Quân Y viện, Bệnh viện Dã chiến biếu tặng các thương phế binh.  Thành thật mà nói, các tuyên úy chẳng được vị Tư lệnh, Trưởng khối/CTCT của đơn vị để ý đến và nâng đỡ.  Tuyên úy chẳng bao giờ được vị chỉ huy trưởng nào hỏi han đến khi có cuộc hành quân. Chẳng có tuyên úy nào cho lời cố vấn, hay một quyết định quan trọng đến đơn vị trưởng.     Tôi tự nhủ:  Nhà trường đã nhận được tin VC sẽ tấn công và có plan để các tuyên úy thực tập thao dượt đêm Chúa nhật .  Thế sao nhà trường không đưa các tuyên úy đi đến một nơi khác trong đêm ấy?  Tại sao các SVSQ/CTCT không chạy xuống các lô-cốt tại vòng đai mà lại phóng xuống giao thông hào ?  Khoảng 10 năm trước, tôi có gặp lại cựu Tướng Lâm Ngươn Tánh tại một buổi dạ tiệc do Hội Cựu Sĩ quan Hải quân tổ chức tại một nhà hàng Houston, Texas.  Tôi có đến chào ông.  Nay tôi trông ông già hơn xưa, thính giác không nghe rõ. Ông không nhớ ra tôi.  Ông hỏi: “Anh khóa mấy?” (ông nghĩ tôi là một cựu Sĩ quan Hải quân hay của trường ĐH/CTCT Dalat). Tôi nói: “Khóa 4 CB/SQTU”  nhưng dường như ông không nghe được vì  trong nhà  hàng rất ồn ào, ban nhạc thì chơi đàn trống inh ỏi. Tôi định nêu lên các câu hỏi này. Tôi trao business card -có ghi tên tôi là mục sư - đến Tướng Tánh và rời bàn ông ngồi.  Từ đó đến nay, tôi không có dịp nào gặp lại ông.  Nếu cựu Tướng Lâm Ngươn Tánh đọc bài này thì ông sẽ nhớ lại chăng ? Tôi nghĩ rằng cuộc tấn kích này phải có nội tuyến.   Làm thế nào VC biết được tọa độ phòng ngủ để pháo kích trúng ngay phòng của tuyên úy trong lần bắn đầu tiên?  Làm thế nào VC biết được vị trí phòng ngủ và nhà vệ sinh (sơ đồ) để họ đến đúng nơi rồi xả súng AK, ném lựu đạn bắn giết những tuyên úy không có một tấc sắt trong tay ?  Chưa kể đến sự việc trong ngày đầu tiên các tuyên úy vừa đến phi trường Liên Khương thì họ đã bị VC pháo kích dàn chào rồi. Làm thế nào mà đặc công VC biết phòng học Thánh Kinh và cầu nguyện của các TUTL và VC đã đến đúng phòng này ném lựu đạn vào đấy ? Nhà trường không bao giờ có ý trao vũ khí đến các tuyên úy và cũng không có tuyên úy nào yêu cầu nhà trường trang bị vũ khí. Trong Khóa 4 CB/SQTU, không có một Tuyên úy Phật giáo nào bị nhà trường gửi trả lại Nha TUPG. Các TUTL chỉ có 5 vị.  Chúng tôi sinh hoạt có kỷ luật và luôn luôn giữ gìn phẩm hạnh, danh dự.  Cuối tuần, tất cả chúng tôi đều đi chung ra ngoài phố và cùng  trở vào doanh trại ngủ.  Sáng Chúa nhật, năm anh em chúng tôi đi bộ lên dốc Nhà thờ Tin Lành để nhóm thờ phượng Chúa. Tại đây, tôi gặp các bạn hữu Thiếu úy Phạm Đức Long, TrT Vũ Đức Nghiêm, Quân Trấn Trưởng thành phố Dalat...    Đến năm 1973, TU Nguyễn Văn Thắng/TPTUTL/SĐ23/BB xuất ngũ. Tháng 7/1973 tôi từ giã BTL/SĐ2/BB (Chu-lai) thuyên chuyển về BTL/SĐ25/BB (1973-Th3/1975).  Tôi nhận được Lệnh Thuyên Chuyển từ Nha TUTL rời SĐ/25/BB  theo đơn xin xuất ngũ của tôi. Ngày tôi trình diện tại Nha TUTL cũng là ngày Ban-mê-thuột thất thủ (Th/3/1975.  Trong ơn Thiên hựu, tôi và gia quyến rời khỏi Việt nam vào ngày 29-4-1975 và không có mặc cảm bỏ chiên ra đi.  Buổi sáng 30-4,1975 khi xà-lan còn đang trên biển cả, tin từ Radio phát ra giọng nói của TT hai ngày Dương Văn Minh đầu hàng... Ít tháng sau của năm 1975, Mục sư Thắng theo lệnh của chánh quyền mới đi trình diện, dù ông đã xuất ngũ.   Một năm sau, ông nằm xuống trong nhà tù CS tại miền Bắc.  Còn có một TUTL khác đến thay tôi vào Tháng 3 tại PTUTL/SĐ/25/BB, ông cũng đã mất trong nhà tù CS Bắc phần cùng lúc với Mục sư Thắng.  Tôi là một trong năm vị TU tham dự Khóa 4 CB/SQTU còn sống đến nay.  Thêm nữa, tôi đã thoát khỏi cảnh bị tống vào nhà tù CS.  Trong ơn quan phòng của Thiên Chúa,  hiện nay tôi đang sống để có thể kể lại câu chuyện thật đã xảy ra 47 năm về trước cũng vào dịp Tết Nguyên Đán...              Mục sư Nguyễn Hữu Ninh, Cựu Khóa sinh/K4CB/SQTU ĐH/CTCT/Dalat năm 1970 Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE <!-- [if gte mso 9]>